10. chương 10 (done)

Jul 20, 2015
10. chương 10 (done)
  • Chương 10 John Maynard Keynes là ai?

    Tiểu sử tóm tắt

    JOHN MAYNARD KEYNES sinh ngày 5 tháng 6 năm 1883, là con đầu lòng trong số ba người con của ông John Neville Keynes, giáo sư trường Đại học Cambridge và bà Florence Ada Keynes. Gia đình Keynes sống ở nhà số 6 đường Harvey, thành phố Cambridge, Anh. Họ là một gia đình điển hình thời Victoria[54] có mức sống trung bình, nhưng ổn định. Trong nhà có đầy đủ người giúp việc. Gia đình Keynes cũng tiêu biểu cho những giá trị thời Victoria, coi hòa bình, thịnh vượng và tiến bộ là chuẩn mực.

    Trong thời gian John Maynard Keynes còn nhỏ cho đến khi lớn lên, khách đến thăm gia đình Keynes ở Cambridge có những nhà kinh tế học và nhà triết học nổi tiếng nhất thời đó như Bertrand Russel, Ludwig Wittgenstein hay Alfred Marshall. Tại ngôi nhà số 6 đường Harvey hẳn đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận, và bài học Keynes rút ra từ đó trong những ngày thơ ấu và trưởng thành chắc chắn có ảnh hưởng đến đường hướng tư duy của chàng trai trẻ John Maynard Keynes.

    Năm 1897, khi mười bốn tuổi, Keynes được nhận học bổng vào trường Eton, ngôi trường có lẽ là tốt nhất nước Anh. Tại trường Eton, Keynes là một học sinh nổi bật, xuất sắc trong các môn toán, văn học cổ điển và lịch sử. Đến năm 1992, Keynes được nhận vào trường King’s College thuộc Đại học Cambridge, ở đây, Keynes chịu ảnh hưởng của nhà triết học G. E. Moore, tác giả cuốn Nguyên lý đạo đức (Principia Ethica) (1903) - một cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào đã trở thành “tuyên ngôn của chủ nghĩa đổi mới” đối với John Maynard Keynes và những trí thức cùng thời. Tại trường Cambridge, những người bạn thân nhất của ông như Lytton Strachey, Leonard Woolf v.v đều là thành viên của một nhóm sau này được gọi là nhóm nghệ sỹ và trí thức Bloomsbury. Trong nhóm còn có Virginia Woolf, Vanessa Bell và Duncan Grant.

    Sau khi tốt nghiệp trường Cambridge năm 1906, Keynes xếp thứ hai trong kỳ thi tuyển dụng công chức. Trong bức thư gửi Lytton Strachey ngày 4 tháng 10 năm 1906, Keynes cho biết trong kỳ thi tuyển dụng công chức này, “kiến thức thực sự dường như là vật cản lớn trên đường dẫn đến thành công. Hai môn tôi làm bài kém nhất lại chính là những môn tôi có kiến thức vững chắc, đó là toán và kinh tế học... Với bài thi kinh tế học, tôi đạt điểm khá thấp, và chỉ đứng thứ tám hoặc thứ chín trong số những người dự thi - trong khi tôi thực sự biết tất cả mọi chi tiết trong hai lĩnh vực này”. Rồi Keynes giải thích kết quả thi kinh tế học kém [55] cỏi của mình như sau: “Rõ ràng tôi còn hiểu biết về kinh tế học hơn cả người ra đề thi cho tôi" [56].

    Kết quả kỳ thi tuyển công chức cho phép Keynes chọn làm nhân viên văn phòng tại Cơ quan quản lý Ấn Độ. Trong thời gian ngắn ngủi làm việc ở đây, Keynes đã hiểu cách thức làm việc của một cơ quan chính phủ và ông bắt đầu quan tâm đến các vấn đề của Ấn Độ, nhất là hệ thống tiền tệ. Kinh nghiệm này hẳn có ảnh hưởng sâu sắc đến sự nghiệp về sau của Keynes cũng như khi ông xây dựng lý thuyết quan trọng về vai trò của tiền trong nền kinh tế.

    Khi làm ở Cơ quan quản lý Ấn Độ[57], Keynes dành thời gian rảnh rỗi để nghiên cứu lý thuyết xác suất - lĩnh vực mà ông từng viết luận văn tốt nghiệp Cambridge. Ông tiếp tục công việc trong gần mười lăm năm, cho đến khi ông xuất bản cuốn Luận thuyết về xác suất (Treatise on Probability) năm 1921. Quá trình phát triển quan điểm về xác suất của Keynes đã giúp ông có cách tiếp cận lý thuyết khác biệt đối với tính không chắc chắn, trái ngược với khái niệm rủi ro xác suất trong lý thuyết của các nhà kinh tế học cổ điển hàng đầu khác thời đó cũng như những người theo lý thuyết thị trường hiệu quả thời nay.

    Vào ngày sinh nhật lần thứ 25 (ngày 5 tháng 6 năm 1908), Keynes từ bỏ công việc ở Cơ quan quản lý Ấn Độ để nhận làm giảng viên đặc biệt của trường Đại học Cambridge. Vị trí giảng viên của Keynes do A.C. Pigou, người kế tục Alfred Marshall với tư cách giáo sư kinh tế học ở Cambridge tự bỏ tiền túi ra chi trả. Ở Cambridge, trong những năm trước Thế chiến thứ nhất, Keynes giảng về chuyên đề tiền tệ, tín dụng và giá cả.

    Thế chiến thứ nhất bùng nổ, khác với những người bạn thân ở Cambridge đi theo chủ nghĩa hòa bình, Keynes cho rằng trách nhiệm của mình là phải đóng góp vào nỗ lực trong cuộc chiến. Trên tạp chí Economic Journal số tháng 9 năm 1914, Keynes - lúc đó là tổng biên tập - đã xuất bản một bài báo có ảnh hưởng rất mạnh có tên "Chiến tranh và hệ thống tài chính, tháng 8/1914”. Mặc dù bài báo này gây xôn xao chính phủ Anh, Keynes vẫn chưa có cơ hội làm việc với chính phủ mãi cho đến tháng 1 năm 1915 khi ông được nhận làm trợ lý cho George Paish, cố vấn đặc biệt của bộ trưởng tài chính Anh lúc đó là Lloyd George. Khi chính phủ thay đổi vào tháng 5 năm 1915, Reginald McKenna trở thành bộ trưởng tài chính, và Keynes được phân công làm việc ở Vụ số 1 của Bộ Tài chính - bộ phận quản lý các vấn đề tài chính liên quan đến chiến tranh.

    Trong những năm chiến tranh, công việc ở Bộ tài chính giúp Keynes hiểu được rằng kiểm soát kỳ vọng là rất quan trọng nếu muốn tác động đến tỷ giá hối đoái. Thế chiến thứ hai bùng nổ, khi viết về những kinh nghiệm có được ở Bộ Tài chính thời Thế chiến thứ nhất, Keynes đã lưu ý rằng cần phải duy trì tỷ giá ổn định. Những kinh nghiệm đầu tiên này có ảnh hưởng rất lớn lên quan điểm của Keynes về hệ thống thanh toán quốc tế thời kỳ hậu Thế chiến thứ hai và sự cần thiết phải có tỷ giá ổn định.

    Sau đây là một tình tiết thú vị được Roy Harrod ghi lại trong tiểu sử của Keynes. Nó cho biết tại sao kinh nghiệm của Keynes trong những năm Thế chiến thứ nhất lại giúp ông nhận ra nền tảng mong manh của giá trị tài sản được xác định trên thị trường tài chính. Vào Thế chiến thứ nhất, người Anh vô cùng cần đồng peseta để nhập khẩu các hàng hóa liên quan đến chiến tranh do Tây Ban Nha sản xuất. Khó khăn lắm Keynes mới xoay xở kiếm được một ít tiền peseta, và ông báo cáo với một quan chức cao cấp của Bộ Tài chính, người cho rằng với tỷ giá nào cũng có cung đồng peseta trong một khoảng thời gian ngắn, “ôi không!”, Keynes nói. “Cái gì vậy?”, ông sếp sợ hãi hỏi. Keynes trả lời: “Tôi lại vừa bán chỗ tiền đó đi rồi: Tôi sẽ phá giá thị trường". Và Keynes làm thế thật.

    Trong hầu hết thời gian diễn ra Thế chiến thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu của Keynes ở Bộ Tài chính là cố gắng quản lý tình trạng khủng hoảng tài chính với nước ngoài khi Anh phải nhập quá nhiều hàng hóa quân sự và dân sự cần thiết. Kinh nghiệm này rất có lợi cho ông khi dẫn đầu phái đoàn của Anh đến hội nghị Bretton Woods bàn về hệ thống thanh toán quốc tế thời hậu chiến lúc Thế chiến thứ hai vẫn đang diễn ra.

    Vào tháng 1 năm 1916, chính phủ Anh bắt đầu thực hiện chế độ quân dịch bắt buộc. Phần lớn bạn bè của Keynes trong nhóm Bloomsbury phản đối nhập ngũ vì họ cho rằng điều đó trái với đạo lý. Keynes nói với họ là vì Anh đã mắc vào chiến tranh rồi nên điều cơ bản lúc bấy giờ là phải làm sao để mọi sự kiện quốc tế đều diễn ra dựa trên một nền tảng mới tốt đẹp hơn, và con người không bao giờ phải chứng kiến sự đổ máu khủng khiếp này một lần nữa. Keynes tin là ông nên làm tất cả những gì có thể trong cương vị của mình ở Bộ Tài chính để đảm bảo hòa bình lâu dài cũng như xây dựng mối quan hệ quốc tế theo chiều hướng mới.

    Là thành viên của đoàn đại biểu chính phủ Anh tham dự cuộc họp ký kết Hiệp định Versailles chấm dứt Thế chiến thứ nhất, Keynes vô cùng chán nản vì trong Hiệp định có một nội dung quy định chính bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào trừng phạt nghiêm khắc về mặt kinh tế đối với nước Đức thua trận. Thỏa thuận đình chiến vào tháng 11 năm 1918 có một điều khoản do Pháp và Anh đưa vào, đó là yêu cầu Đức phải đền bù “mọi tổn thất" đối với người dân và tài sản của họ. Không may là như Keynes đã nhận ra, số tiền mà Pháp - với sự ủng hộ của thủ tướng Anh Lloy George - đòi Đức phải đền bù thiệt hại sẽ chôn vùi nền kinh tế Đức. Keynes tin rằng số tiền mà phe Đồng minh đòi hỏi là nhiều quá đáng.

    Khi Hiệp định Versailles được ký kết, Keynes từ chức ở Bộ Tài chính, ông viết thư cho thủ tướng như sau: “Tôi đang phải chạy trốn khỏi cơn ác mộng. Tôi không thể làm được gì ở đây nữa. Trong suốt ba tuần kinh khủng vừa qua, tôi luôn hy vọng ông sẽ tìm ra cách nào đó để Hiệp định trở thành một văn bản công bằng, hợp lý. Nhưng giờ đây có lẽ đã là quá muộn. Trận chiến đã thất bại”.

    Suốt mùa hè và đầu mùa thu năm 1919, Keynes dành thời gian viết cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào Hậu quả kinh tế của hòa bình (The Economic Consequences of the Peace) về sự thất vọng của ông trước quá trình thỏa thuận hiệp định hòa bình Versailles. Cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào được xuất bản vào tháng 12 năm 1919. Trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, ông phê phán các nhà lãnh đạo phe Đồng minh thắng trận về những điều khoản họ áp đặt lên nước Đức trong Hiệp định Versailles.

    Mặc dù cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào giải thích về những vấn đề phát sinh từ chuyện bồi thường, nhưng nó không hề nặng tính lý thuyết chuyên môn. Robert Skidelsky, một người cũng từng viết tiểu sử Keynes, đã nói về cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào như sau:

    “Ngôn ngữ trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào đầy giận dữ, khinh miệt, và còn có một tính chất nữa hiếm thấy trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của Keynes, đó là quyết liệt: sẽ không bao giờ còn thấy Keynes lên án sự cẩu thả, dối trá hay thể hiện sự phẫn nộ về đạo đức một cách mạnh mẽ và rõ ràng như thế nữa... Kết quả là chúng ta có một cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào thể hiện quan điểm cá nhân có một không hai trong số những tài liệu chuyên ngành của thế kỷ 20. Keynes đã khẳng định vị trí Quân vương của các nhà kinh tế học. Mọi đế chế khác đều đã sụp đổ. Quan điểm của ông về phúc lợi cộng với chuẩn mực mới về kiến thức chuyên môn sẽ là chướng ngại vật cuối cùng giúp tránh được sự hỗn loạn, điên khùng và suy thoái[58].

    Đến tháng 8 năm 1920, đã có hơn 100.000 bản Hậu quả kinh tế được bán ra ở Anh và Mỹ và cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào cũng được dịch sang tiếng Đức, Hà Lan, Flemish, Đan Mạch, Thụy Điển, Italia, Tây Ban Nha, Rumani, Nga, Nhật và Trung. Với thành công quá lớn của cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, Keynes được cả thế giới chú ý. Keynes nhận ra rằng có thể dùng khả năng sáng tạo của ông để làm cho nền kinh tế một lần nữa trở thành nơi cập bến của những nghệ sỹ sáng tạo. Ông muốn nắm lấy cơ hội này, không chỉ để bản thân nhận được sự chú ý mà còn khiến khoa học kinh tế thay đổi được tương lai thế giới.

    Từ năm 1922 đến 1936, chỉ có một năm tỷ lệ thất nghiệp ở Anh giảm xuống dưới 10%, đó là năm 1927 với mức 9,7%. Thời kỳ thất nghiệp kéo dài này dường như đã xóa bỏ mọi hy vọng tiến tới một xã hội văn minh của người Anh. Những gì nền kinh tế Anh phải trải qua trong thập niên 1920 giúp Keynes thấy rõ rằng lý thuyết cổ điển chính thống không thể mang lại lời khuyên hữu ích cho hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa văn minh. Khi tỷ lệ thất nghiệp luôn nằm ở mức trên dưới 10% trong gần 14 năm, có lẽ lập luận cho rằng thị trường tự do luôn đảm bảo có đầy đủ việc làm không còn phù hợp với thế giới thực nữa. Với một người có khả năng sáng tạo như Keynes, rõ ràng cần phải có một lý thuyết kinh tế mới giúp giải thích tại sao một hệ thống kinh tế lại có thể để thất nghiệp diễn ra lâu dài trên diện rộng như vậy. Lý thuyết mới này, nếu được ứng dụng một cách sáng suốt, thì sẽ một lần nữa đưa loài người trở lại con đường tiến lên xã hội văn minh. Để đưa ra lý thuyết kinh tế mới cần rất nhiều thời gian và phải trải qua nhiều khó khăn. Keynes mất hơn mười năm mới xây dựng được tư tưởng đột phá của mình.

    Sau Thế chiến thứ nhất, Keynes quay lại làm giảng viên ở Đại học Cambridge. Nhưng ông không phải một nhà kinh tế học hàn lâm chỉ ở trên tháp ngà. Ngoài công việc giảng dạy, với tư cách là Giám đốc phụ trách tài chính trường King’s College, ông còn đưa ra những quyết định đầu tư quan trọng cho danh mục đầu tư rất lớn của trường. Keynes cũng tham gia ban quản trị của một số công ty bảo hiểm và đầu tư, qua đó trực tiếp thu thập được kiến thức về hành vi của những người tham gia thị trường tài chính. Hơn nữa, kinh nghiệm thời làm công chức ở Cơ quan quản lý Ấn Độ và ở Bộ Tài chính trong hai cuộc chiến tranh đã giúp Keynes nhận thức được sự cần thiết phải biến những giải pháp lý thuyết thành kế hoạch khả thi, được chấp nhận về mặt chính trị. Keynes thực sự là một nhà kinh tế học của thực tế.

    Ngày 4 tháng 8 năm 1925, Keynes kết hôn với Lydia Lopokova, một nữ diễn viên ballet nổi tiếng người Nga. Họ không có con.

    Mặc dù những lời Keynes nói về các vấn đề kinh tế hồi thập niên 1920 và 1930 vẫn được trích dẫn trên báo chí, nhưng trước Thế chiến thứ hai, ông chưa hề làm việc cho chính phủ Anh. Khi chiến tranh nổ ra vào năm 1939, Keynes mới vào làm cho cơ quan nhà nước, nhưng đó không phải một vị trí chính thức trong chính phủ. Ông tự do nghiên cứu các vấn đề kinh tế khác nhau và đưa ra lời cố vấn cho các quan chức chính phủ. Năm 1942, Keynes được phong Nam tước và có ghế ở Thượng viện Anh. Nãm 1944, ông được chỉ định là trưởng đoàn đại biểu của Anh dự Hội nghị Bretton Woods về xây dựng hệ thống thanh toán quốc tế sau Thế chiến thứ hai.

    Keynes mất ngày 21 tháng 4 năm 1946, thọ 62 tuổi.