1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

07. Superlazy (done)

Jul 30, 2015
07. Superlazy (done)
  • Như vậy mọi quan niệm của ta về những công hiệu ấy, bất cứ gần hay xa cũng chính là tất cả quan niệm về đối tượng.

    Như thế quan niệm thực dụng chủ nghĩa của James nhấn mạnh nhiều ở cách thức mà mỗi cá nhân giải thích những hoàn cảnh xung quanh ta đi tới hành động hữu hiệu, đi tới “pragma” có nghĩa là thực tiễn (pratice), là hành động (action).

    Quan điểm trên của James có thể gọi là “linh hồn" của chủ nghĩa thực dụng. Các nhà triết học ở nước ngoài như F. C. S. Schiller, Giovanni Papini rồi Henri Bergson, Hans Vaihinger, George Simel được kể là người thực dụng chủ nghĩa vì chia sẻ với James về khía cạnh quan trọng trên của chủ nghĩa thực dụng.

    Phương pháp học của James về “hành động” chống lại nguyên tắc coi phạm trù có sẵn là điểm xuất phát. Phương pháp học đó theo chủ nghĩa thực dụng có tính phổ quát. Trong cuốn Chủ nghĩa thực dụng, James say sưa giới thiệu một hình tượng về chủ nghĩa thực dụng của nhà triết học thực dụng người Italia tên là Papini. Ông này so sánh con đường nhận thức của chủ nghĩa thực dụng như cái hành lang của một khách sạn thông với tất cả các phòng. Trong căn phòng này ta có thể thấy một người theo chủ nghĩa vô thần. Trong căn phòng khác, có người đang ngồi cầu xin sức mạnh của tín ngưỡng, ở phòng thứ ba: một nhà hóa học đang khảo sát đặc tính vật lý. Phòng thứ tư: một người đang suy tư về siêu hình học duy tâm. Phòng thứ năm: một người đang chứng minh tính không thể có của siêu hình học... Hành lang nối các phòng lại, nó là của chung của mọi người, mọi người đều phải đi qua nó.

    Phương pháp học trên cũng là căn cứ để James xây dựng lý luận về chân lý.

    Trước hết chân lý là thuộc tính của quan niệm, của tư tưởng. “Mọi chân lý đều lấy kinh nghiệm có hạn làm căn cứ, và bản thân kinh nghiệm cũng không có chỗ dựa nào khác ngoài dòng kinh nghiệm, không có vật nào khác có thể bảo đảm là nơi đẻ ra chân lý”.

    Chân lý tồn tại cùng với con người, “Con người là thước đo của vạn vật” chân lý do con người dựa vào nhu cầu của mình sáng tạo nên, độ tin cậy của nó là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người. Người ta bảo đây là chủ nghĩa nhân bản của chủ nghĩa thực dụng.

    Mức độ thật giả của chân lý là ở mức độ thỏa mãn đối với con người.

    Việc đề cao vai trò của con người trong sự sáng tạo thế giới của chủ nghĩa thực dụng đến mức khiến nhà triết học Anh F. C. S. Schiller đã đề nghị đổi tên chủ nghĩa thực dụng thành chủ nghĩa nhân bản.

    Có hiệu quả, có ích, thành công là tiêu chuẩn của chân lý đến mức có ích và chân lý là như nhau.

    James thường phê phán chủ nghĩa duy lý vì nó không phù hợp với chân lý, lợi ích. Chủ nghĩa duy lý chỉ có thể đưa ra một chân lý có sẵn, chân lý trừu tượng. Còn chân lý của chủ nghĩa thực dụng là cụ thể, bởi vì giá trị của nó không ở đâu hết mà ở ngay trong kinh nghiệm.

    Chống lại chân lý trừu tượng, tuyệt đối hóa của chủ nghĩa duy lý, James khẳng định trong chủ nghĩa thực dụng không có bất kỳ tiêu chuẩn nào chặt chẽ làm căn cứ ngoài kinh nghiệm. Cái mong muốn trọn vẹn nhất của phương pháp học của chủ nghĩa thực dụng là xem xét cái thuần túy nhỏ nhất là kinh nghiệm của cá nhân trên cơ sở hiệu quả thực tế, Chân lý đi tới một ý tưởng, nó trở thành thật và nó làm cho thật bằng những sự kiện. Điều quan trọng, nó là một quá trình của sự đánh giá (validation).

    James cũng thừa nhận nhận thức do cận tâm lý học đưa tới. Đây chưa có gì là một sự thần bí bởi vì nó vẫn không ra ngoài cái cơ bản trong triết học của chủ nghĩa thực dụng: thực tiễn và hành động.

    LUÂN LÝ VÀ TÔN GIÁO

    Lý luận về luân lý và tâm lý học của James có cùng một nhận thức học. Có thể gọi ông là nhà triết học luân lý. Ông cho rằng luân lý, tình cảm của con người xuất phát từ hoạt động tâm lý bên trong thuần túy của con người. Do đó vấn đề nguồn gốc của quan niệm luân lý có thể quy về tâm lý học. Quan niệm này đã để lại đằng sau mình mọi thần thánh và những mệnh lệnh của họ và cả luân lý dựa trên logic, tất thảy là những thứ chuyên chế giấu mặt. Ông cho rằng cho đến nay tất cả cái gì gọi là “tốt” đều có một nét chung, người ta gọi nhân tố chung đó là Thiện, tất cả mọi cái tốt đều chứa đựng trong cái bản chất đó.

    Nhưng bản chất của cái bản chất (tức cái thiện) là gì? Ông trả lời: “Bản chất của cái thiện chỉ ở trong sự thỏa mãn ham muốn”.

    Nhà triết học thực dụng Mỹ cho đó là giá trị luân lý cao nhất. Nếu chân lý là công cụ thỏa mãn nhu cầu thì cái thiện cũng là công cụ thỏa mãn nhu cầu của con người. Đó là giá trị đạo đức cao nhất. Chân lý ở đây phải được lồng vào trong một phạm trù căn bản hơn, đó là giá trị.

    Không có luân lý tuyệt đối, phổ quát mà mỗi nguyên tắc luân lý đều là riêng biệt, không có tiền lệ, tồn tại tương ứng với cá nhân riêng biệt, trong bối cảnh riêng biệt nào đó.

    William James đặt cái Thiện, cái lý tưởng ở cùng một bình diện với cái ham muốn. Như vậy là đối với ông, không có cái tốt phi luân lý, cái xấu phi luân lý. Cái Thiện, cái Ác và cái Nghĩa vụ không quy về bảng luật bằng đá (của Kinh thánh) không quy về một thực thể phi vật chất nào. Cái Thiện, cái Ác và cái Nghĩa vụ không ăn sâu vào sự siêu việt nào, James nói rằng chúng ta sống trên đất này trong một “Cộng hòa đạo đức" ở đó không biết có Chúa hay không. Không ai nói cho ta biết gì hết, chúng ta cứ làm cái tốt. Không có gì vượt qua mọi hình thức của cái Thiện, cái Ác ngoài “lý trí luân lý”.

    James quan tâm không phải tới luân lý của một nước, một giai cấp hay một giới văn hóa mà của cá nhân.

    Cá nhân không phải là thù địch của cộng đồng như người ta thường nghĩ; càng nhiều cá nhân thì càng ít xã hội. Nhưng James viết: "Ý nghĩa của cuộc sống không phải trong việc duy trì những thiết chế hay những tiến bộ của chúng mà ở những cá nhân”. Trong chủ nghĩa cá nhân, không nghi ngờ gì có một yếu tố cơ bản là đối lập với đám đông.

    “Cá nhân” trong ngôn ngữ của James có một âm vang riêng, thể nói một âm vang có ma lực, hoặc là một ý tưởng, hoặc là một ma quỷ.

    Trước hết bên cạnh “sự thần thánh của tính cá nhân”, không có một sự thần thánh nào ở Nhà nước, ở cộng đồng xưng tội, hay Giáo hội, hay cả nền văn minh. “Con người số ít” là một “hiện tượng cơ bản hơn” so với bất cứ thiết chế cộng đồng hay xã hội nào. “Con người số ít” không phải là một tính cách, một nhân cách, cũng chẳng phải là một vận may cân đối, hài hòa mà là một vận may duy nhất. Cá nhân đó không phải là công dân tự do, cử tri tự do, thần dân của công trình tự do.

    Xin nhớ rằng khái niệm tự do được dùng “rất tự do”: trong thần học Kytô giáo, “tự do” để chỉ sự phục tùng Chúa; trong chủ nghĩa duy tâm thì “tự do” chỉ sự phục tùng lý trí. Với chủ nghĩa thực dụng, tự do “phải được tự do”, “phải được giải phóng", đó là tự do của “quy luật cá nhân”, là một bản tính về thỏa mãn ham muốn. Nhà triết học thực dụng nói rằng đó là một đạo đức học nhân bản, bởi vì nó bao chứa một sự nhân từ về mọi vui thú của con người, trừ những niềm vui làm đau khổ người khác. Ông nhắc tới một câu nói bất tử của Schopenhauer rằng: “Mỗi người có thể đau khổ với tha nhân, nhưng để vui với tha nhân thì phải là một thiên thần".

    Khái niệm Tyche (ngẫu nhiên - không lường được) có tầm quyết định trong chủ nghĩa thực dụng. Chủ nghĩa “tychisme” là một học thuyết về sự vắng mặt của một người nào đó (có tên hoặc không tên) sẽ đưa tới một ý nghĩa; nhưng đột nhiên mở ra một niềm tin không bờ bến. Niềm tin ở cá nhân khác với niềm tin trong thần học hoặc trong một thế giới quan mà nó là một giá trị mang cái tốt, cái có ích cho con người.

    Quan điểm tôn giáo của James có liên quan trực tiếp với quan điểm đạo đức “Quy luật cá nhân” là sự thỏa mãn ham muốn. Đây là một hướng của chủ nghĩa Epicure đã thịnh hành từ thế kỷ XVIII. Chủ nghĩa Epicure luôn luôn gắn với chủ nghĩa vô thần, ở James nó là một trong rất nhiều hình thức của chủ nghĩa vô thần đã nảy nở suốt chiều dài của lịch sử.

    Chủ nghĩa vô thần ở James được trình bày như là phi duy lý, chống lại “lý trí”, trước hết là lý trí của Hegel. Cái lý trí mà James chống lại trong đương thời là cái A priori (cái tiên thiên), là cái thế giới logic và sự phản ảnh của nó trong một hệ thống khái niệm phổ quát. Một nhà nghiên cứu Pháp nói rằng: “Chủ nghĩa thực dụng là một sự chống trả Anglo - Saxon đối với chủ nghĩa duy trí tuệ và chủ nghĩa duy lý của tinh thần La tinh”.

    Ta đang chứng kiến những giải thích của James rất xa lạ với thần học. Theo James, ý thức tôn giáo không ở ngoài ý thức luân lý, hình thành theo đòi hỏi của luân lý, mà như trên đã nói, luân lý bắt nguồn từ tâm lý cho nên cũng như luân lý, tôn giáo cũng có mục tiêu là thỏa mãn nhu cầu ham muốn của con người, lấy mức độ thỏa mãn là thước đo của niềm tin.

    James đã giải thích về tiên đề và giá trị của tôn giáo. Ông nêu lên nhiều dẫn chứng về các loại kinh nghiệm tôn giáo, trong đó ông nhấn mạnh vào tình cảm tôn giáo tự phát, xa lạ với luận chứng thần học về tôn giáo. Rõ ràng ông đã dùng quy luật và nguyên tắc khoa học (ở đây là tâm lý học) để giải thích mọi hiện tượng tôn giáo rằng khả năng có tính quyết định của đức tin tôn giáo không phải từ lý trí logic, mà từ một thứ lý trí sống, một thứ “chú ý tới cuộc sống” và trực giác nhanh chóng, nói cách khác sự đột biến về niềm tin có được nhờ sự đột biến của vô thức của bản thân chủ thể.

    Về sự tồn tại của Chúa, trong nhiều tác phẩm nhiều lần ông thừa nhận sự tồn tại của một sức mạnh tinh thần vượt lên trên con người. Nhưng ông không chia sẻ với quan điểm hữu thần truyền thống coi Chúa là sức mạnh, là quyền năng vô hạn và tuyệt đối. Ông cho rằng nhìn vào thế giới hiện thực, người ta còn thấy bao tội ác và đau khổ. Chủ nghĩa hữu thần truyền thống cổ súy sự hoàn thiện của thế giới do Chúa sáng tạo.

    James chống lại cái “thế giới đã hoàn thành và hoàn thiện đó”.

    Ý nghĩa và giá trị của Chúa không phải tìm ở cái đã có mà phải ở cái đang được sáng tạo ra. Ông nói: “Dù có Chúa, nhưng nếu sự nghiệp của Chúa đã hoàn thành và vũ trụ của Chúa một khi bị tan tành thì Chúa còn giá trị gì?”.

    Và đến lượt con người chúng ta cũng vậy, ý nghĩa và giá trị ít quan trọng khi con người chỉ là vật được sáng tạo ra. Tầm quan trọng là con người ở tư cách là người sáng tạo.

    Giá trị và ý nghĩa của Chúa như vậy cho nên Chúa là sức mạnh dẫn dắt con người với tư cách là người sáng tạo đi tới tương lai cho nên Chúa là một niềm hy vọng, một sự cổ vũ con người đi vào tương lai. Đến mức ông không nhìn Chúa như quan niệm của chủ nghĩa hữu thần khẳng định rằng đó là chủ nhân tạo ra tất cả cái đã có. Ông tuyên bố Chúa chỉ như một giả thiết. Cũng như mọi giả thiết với tính cách là quan niệm của Chân lý, giả thiết quan niệm về Chúa cũng phải dựa vào hiệu quả thực tiễn đối với con người.

    Cuối cùng phải nói thêm về chủ nghĩa đa nguyên trong triết học luân lý và triết học tôn giáo của James.

    Người ta đã thấy ảnh hưởng của E. Mach tới chủ nghĩa kinh nghiệm của James. Người ta thấy trong “chủ nghĩa kinh nghiệm triệt để” tính chất triệt để, quyết liệt chống lại những phạm trù có nguồn gốc (nhất nguyên) đẻ ra từ siêu hình học.

    Chân lý trong chủ nghĩa kinh nghiệm triệt để không chỉ là “một”, mà chân lý ở số nhiều (chủ nghĩa đa nguyên) - Trong tâm lý học về tôn giáo, không có Dieu (viết hoa) xuất hiện ra mà chỉ có những dieux (không viết hoa). Thần thánh số nhiều được gọi theo thuật ngữ (terminus technicus) là chủ nghĩa đa thần.

    Người ta thường giải thích chủ nghĩa đa nguyên như là sự nhận thức về nhiều yếu tố cuối cùng, James cho thêm vào từ đó một yếu tố nữa mang tính năng động cho nên có thể gọi là chủ nghĩa đa nguyên lớn lên. Những thần thánh năng động đó có những nét giống với những thần thánh épicurien.

    Triết học của James kế thừa từ Peirce, nhưng đã bao quát gần hết mọi vấn đề của chủ nghĩa thực dụng. Công lao của James là ở chỗ bằng những trước tác của mình ông đã làm cho chủ nghĩa thực dụng thoát khỏi biên giới nhỏ hẹp của nước Mỹ đến với nhiều nước trên thế giới. Người ta bảo ông là người phát ngôn hùng biện nhất của chủ nghĩa thực dụng.

    Người ta cũng ví ông là Fichte thứ hai bởi vì cũng như nhà triết học Đức, người ta bắt gặp ở ông tính dân chủ, tính năng động và sự đi vào lòng người và trước hết việc từ bỏ ghế nhà trường và tu viện (tức những giáo điều) để thả cuộc sống thênh thang trong cõi trần gian này.

    3. JOHN DEWEY, NHÀ TRIẾT HỌC THỰC DỤNG CỦA “CHỦ NGHĨA TỰ DO TRIỆT ĐỂ”

    John Dewey (1850 - 1954) là nhà triết học thực dụng lớn sau Peirce và James. Hai mươi lăm năm sau khi ông mất, thư mục về những công trình của ông đã được công bố. Phải để hàng trăm trang mới liệt kê được hết tác phẩm lớn nhỏ của ông.

    Cho đến ngày lìa bỏ thế giới này, ông đã tham gia các cuộc tranh luận về thời sự từng ngày, từng tuần, từng tháng, trình bày tư tưởng của mình trên báo chí. “Chớ là con chuột của thư viện”, đó là nhận xét của hiệu trưởng John Hopkins khi ông còn là sinh viên.

    Năm 1875, ông học ở đại học Philadelphia. Sau khi tốt nghiệp, ông lần lượt dạy học từ trung học đến đại học và sau đó chuyển hẳn sang nghiên cứu triết học. Năm 1882, ông là nghiên cứu sinh triết học của đại học John Hopkins, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Peirce trong thời gian giảng dạy ở đây. Hai năm sau, ông đỗ tiến sĩ triết học với luận án mang tên Tâm học Kant.

    Năm 1884, Dewey dạy triết học trong mười năm ở Đại học Michigan, tư tưởng Đức ảnh hưởng nhiều tới ông, ông muốn vứt bỏ hoàn toàn quan niệm của logic hình thức. Chỉ có Hegel với phép biện chứng mới thỏa mãn được điều đó. Ông ghét cay ghét đắng mọi quan niệm thuần túy hình thức và tĩnh tại, bởi vậy ảnh hưởng của Hegel đã làm cho ông thích thú tính hữu cơ và năng động của tư duy.

    Ông đi vào chủ nghĩa thực dụng từ tâm lý học: ông chịu ảnh hưởng rất lớn cuốn Những nguyên tắc của tâm học của James, và từ tâm lý học, ông đi sâu vào giáo dục học. Ông chủ trương “nền giáo dục mới” được xác lập trên ý tưởng rằng mọi tư duy phong phú được xây dựng hướng tới một hành động cụ thể. Năm 1894, ông dạy học ở Đại học Chicago trong 10 năm. Đây là thời gian quan trọng trong đời hoạt động tư tưởng của ông. Năm 1896, ông lập một trường thực nghiệm ở đây. Trường này loại bỏ cách giảng dạy truyền thống, ít chú trọng tới bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào vở mà chú trọng tới cuộc sống thực tế, không quan tâm tới truyền đạt tri thức lý luận mà quan tâm tới huấn luyện kỹ năng thực hành. Ông thường nhấn mạnh vào các khẩu hiệu “Giáo dục là cuộc sống chứ không phải chuẩn bị cho cuộc sống”, “học trong hành”.

    Ở Chicago, ông tập hợp một số người có chung một chí hướng gồm phần lớn những người ở Đại học Michigan và Mise hình thành một trường phái chủ nghĩa thực dụng ở Mỹ mang tên “Trường phái Chicago”. Dewey gọi tác phẩm Nghiên cứu luận logic là tuyên ngôn đầu tiên của trường phái chủ nghĩa công cụ. Giai phẩm này đánh dấu việc Dewey đã từ bỏ chủ nghĩa Hegel và hoàn toàn chuyển sang chủ nghĩa thực dụng. Từ năm 1905, Dewey chuyển về Đại học Colombia, năm 1929 được phong giáo sư. Cho đến khi ông mất, trường phái Chicago do ông lãnh đạo đã đánh dấu những hoạt động sôi nổi nhất của ông.

    Từ 1919, ông đi thăm và giảng dạy triết học ở nhiều nước. Ông đến Nhật Bản, đến Trung Quốc trong thời kỳ cuộc vận động “Ngũ tứ”, tháng bảy 1921, ông mới trở về nước.

    Ở Trung Quốc, ông giảng chủ nghĩa thực dụng ở Bắc Kinh, Nam Kinh, Thượng Hải. Ông còn đi thăm Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ, đặc biệt năm 1928, ông tới thăm Liên Xô. Khẩu hiệu của ông là “chuyến đi hay hơn lúc đến” (lúc đến của ông lùi lại mãi tới lúc ông chín mươi lăm tuổi). Ông không bao giờ muốn làm người du lịch chỉ quan sát và trung lập. Ông không chỉ muốn mình là công dân của nước Mỹ mà còn là công dân của mọi nước đã đặt chân tới.

    Ông đến Liên Xô trong thời kỳ nhiều nhà tri thức trên thế giới, ví như Gide ở Pháp, muốn đến thăm một nước cộng hòa mới mẻ này.

    Năm thứ XI của nước cộng hòa Xô Viết, ông và một số nhà giáo dục Mỹ tới thăm Moskva và Leningrad và có nhận xét rằng ở đây “có một nền dân chủ vượt qua những nền dân chủ có tham vọng nhất trong quá khứ”. Rõ ràng đi đâu ông cũng bận tâm về những thúc đẩy dân chủ để xây dựng một lý luận chính trị xã hội mà ông đặt thành một nhiệm vụ quan trọng của chủ nghĩa thực dụng.

    Lounatscharki, người lãnh đạo Bộ giáo dục quốc dân của Liên Xô lúc đó tỏ ra rất kính trọng ông. Còn những tờ báo bảo thủ ở Mỹ thì gọi ông là “bolchevik”.

    Cuối cùng người ta thấy Dewey tự học, tự đánh giá về mình rằng: "Tôi là một Yankee và ít là một “nhà triết học” mà đôi khi tôi có vẻ như vậy”, và ít là một nhà văn, mặc dù ông đã có hơn bốn chục đầu bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào và hàng nghìn bài báo trong tay. Thuật ngữ “Yankee” ở đây của ông chỉ muốn nói rằng những nhà trí thức Mỹ không muốn sống theo kiểu cao đạo của các nhà tư tưởng và nghệ sĩ ở Châu Âu, (như đã nói ở trên) mà muốn quan tâm tới mọi trăn trở hàng ngày của người Mỹ. Mọi tham dự của ông (từ lý luận đến cụ thể nhất) đều thể hiện những mặt khác nhau của một ham muốn: có thể gọi đó là tự do, nếu muốn có một sắc thái nữa để làm sáng rõ ông thì có thể thêm một tính từ nữa là “triệt để”.

    CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM TỰ NHIÊN

    Hoạt động triết học của Dewey bắt đầu bằng ý muốn cải tạo triết học truyền thống. Ông vượt qua chủ nghĩa nhị nguyên của nó. Khi giải thích về kinh nghiệm triết học ấy, ông coi kinh nghiệm là tri thức, tức là một loại nhận thức của chủ thể về một đối tượng. Điều đó có nghĩa là nhận thức coi lĩnh vực kinh nghiệm là lĩnh vực tinh thần, khác với các bộ phận còn lại của thế giới đã tách riêng chủ thể, cái kinh nghiệm đối với đối tượng được nhận thức, tách kinh nghiệm và tự nhiên, tinh thần và vật chất.

    Cũng như Peirce, James đã kế thừa chủ nghĩa kinh nghiệm truyền thống, Dewey muốn xây dựng lý luận về vũ trụ lấy kinh nghiệm làm nền tảng. Đó là chủ nghĩa kinh nghiệm tự nhiên hay chủ nghĩa kinh nghiệm của chủ nghĩa tự nhiên.

    Khắc phục chủ nghĩa nhị nguyên ra sao?

    Chịu ảnh hưởng của thuyết tiến hóa của Darwin, Dewey cho rằng thể hữu cơ phải có hoàn cảnh thích ứng để sinh tồn. Con người trong cuộc sống cũng phải tồn tại trong hoàn cảnh. Tác dụng qua lại giữa con người và hoàn cảnh là tác dụng của thể hữu cơ hoàn cảnh: ấy là kinh nghiệm. Song, kinh nghiệm là một quá trình chủ động và bị động giữa con người và hoàn cảnh tự nhiên. Loại kinh nghiệm này làm cho chủ thể và đối tượng, thể hữu cơ và hoàn cảnh, kinh nghiệm và tự nhiên gắn liền thành một chỉnh thể không chia cắt, giữa chúng đã xác lập tính liên tục. Kinh nghiệm không phải là cái bên ngoài tự nhiên, mà là cái liên quan với tự nhiên, nó là dạng đi sâu vào bên trong tự nhiên. Dewey coi tính liên tục của kinh nghiệm và tự nhiên là nguyên tắc cơ bản của triết học. Chỉ có nó mới triệt để khắc phục được chủ nghĩa nhị nguyên.

    Nội dung của chủ nghĩa kinh nghiệm là gì? Chủ nghĩa kinh nghiệm truyền thống coi tri giác cảm tính do cơ quan cảm giác tiếp nhận được là nội dung chủ yếu của kinh nghiệm. Dewey đưa ra một thế giới kinh nghiệm bao gồm, ngoài nhận thức còn tình cảm, ham muốn, ý chí và cả tín ngưỡng.

    TRIẾT HỌC HÀNH ĐỘNG, PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ

    Chủ nghĩa kinh nghiệm tự nhiên của Dewey nhấn mạnh rằng tri thức và sự vật không tĩnh tại mà tác động lẫn nhau giữa thể hữu cơ và hoàn cảnh. Hoàn cảnh là đời sống, hành động, thực tiễn. Vì vậy Dewey gọi triết học của ông là triết học đời sống, triết học hành động, triết học thực tiễn.

    Hành động, đời sống, thực tiễn trong triết học của Dewey để chỉ hành vi của thể hữu cơ sinh vật thích ứng với hoàn cảnh. Sau này, Dewey không dùng khái niệm “thực tiễn” vì có thể có nhiều cách giải thích khác nhau gây lầm lẫn, ông thay bằng khái niệm hành vi. Hoàn cảnh kích thích thể hữu cơ, thể hữu cơ phản ứng đối với kích thích ấy, thích hợp với hoàn cảnh ấy. Hành vi đó là đời sống, là thực tiễn. Kích thích - phản ứng vừa là nội dung cơ bản của kinh nghiệm của con người với tính cách là thể hữu cơ, vừa là nội dung cơ bản của hành vi, đời sống thực tiễn.

    Thích ứng của người và động vật khác nhau ra sao? Một đằng là thích ứng theo bản năng, một đằng con người trước khi phản ứng đã có suy nghĩ và suy luận để tìm phương thức thích ứng tốt nhất.

    Triết học thực tiễn của Dewey rất ăn ý với tâm lý học hành vi của John B. Watson (1870 - 1958). Nhà tâm lý học Mỹ này không chấp nhận nghiên cứu hiện tượng tinh thần như là những việc nội bộ của tâm linh, phương pháp nội quan bị loại bỏ và chỉ thừa nhận hành vi bên ngoài là đối tượng hữu hiệu của tâm lý học.

    Cuối cùng con người sử dụng trí sáng tạo ra sao để thích ứng và cải tạo hoàn cảnh? Đây là vấn đề phương pháp học chiếm vị trí quan trọng trong triết học của Dewey.

    Dewey nhấn mạnh tác dụng thí nghiệm và thăm dò, nên phương pháp học của ông thường được gọi là phương pháp thăm dò (lý luận) hoặc thể nghiệm thăm dò. Nó gần với lý luận thăm dò “hoài nghi - niềm tin” của Peirce. Vì vậy Dewey gọi quan điểm của ông là “sự trình bày lại một cách tự do quan điểm của Peirce”.

    “Khẳng định có bảo đảm” là cụm từ được Dewey dùng để gọi chân lý. Việc nghiên cứu bao giờ cũng bắt đầu bằng những nghi vấn và bao giờ cũng kết thúc trong việc xác định những điều kiện để nghi vấn không được cảm thấy hay không còn nghi vấn nữa. Chính việc xác định ấy được bảo đảm bằng công việc nghiên cứu, là điều biểu thị khẳng định sự bảo đảm đó.

    Nói tóm lại, chân lý là ý tưởng hay giả thuyết đã được kiểm chứng (Verified), có tác dụng (Working) hay hữu hiệu vì đem lại thỏa mãn (Satisfactory).

    Nhờ vào quan niệm chân lý đó, Dewey đã đi tới chỗ xác định được quan điểm của ông về chân lý như một khẳng định có bảo đảm. Làm được như thế là nhờ một phần nào những tranh luận về chân lý với Bertrand Russell trong những năm 1930 và 1940.

    Trong nghiên cứu “logic”, Dewey đã xác định việc nghiên cứu là “sự biến đổi có kiểm soát hay có hướng dẫn một tình trạng bất định thành tình trạng có tính xác định, thành những phân biệt và liên quan tất yếu của tình trạng đó, không khác gì biến đổi những thành tố của tình trạng nguyên thủy thành một toàn khối có tổ chức”.

    Đó là lý luận về thăm dò (Inqfuiry), một lý thuyết đã được khai triển trong nhiều năm và trong nhiều sáng tác. Ở đây xuất hiện những kết quả suy nghĩ của Dewey về bản chất của tư tưởng và những đóng góp của ông về tâm lý học và về giáo dục, rồi cả về ảnh hưởng của những khía cạnh sinh vật học và của chức năng trong quyển Những nguyên tắc của tâm học của James và ảnh hưởng của Peirce về bản chất của thăm dò.

    Sự hoàn bị về lý luận này được xác định rõ rệt nhất trong cuốn Logic học, một luận về thăm .

    Với Dewey, lý luận về thăm dò là một miêu tả được tổng quát hóa về những điều kiện có tính cách cơ thể, văn hóa và mô thức của khả năng hoạt động của trí não con người.

    Một hành động như thế lại thường được khích lệ bởi nhiều loại vấn đề khác nhau như chính trị, luân lý, khoa học và mỹ học.

    Tóm lại, mục tiêu của thăm dò là tạo lập những điều ích lợi, hữu hiệu, là dung nạp những cái gì mới, và chỉ là những ước muốn chưa ổn định, còn đầy khả nghi.

    Theo khuynh hướng ấy, tất cả mọi hành động của trí não có tính cách thẩm định giá trị và không có thể có sự phân biệt giữa kinh nghiệm và đạo đức, khoa học thực tiễn hay lý luận.

    Cũng theo khuynh hướng đó, cuốn Chủ nghĩa thực dụng của ông đã được hoàn tất. Người ta rất có lý so sánh tác phẩm ấy với lập trường đã được ông xác định trước kia như “một logic học tự nhiên” như một sự đánh giá giá trị và xác định lại hành động của con người.

    Có thể thấy rõ hơn phương pháp thăm dò của Dewey trong cuốn Chúng ta duy như thế nào? Phương pháp thăm dò gồm năm bước, năm giai đoạn: 1. Khó khăn cảm nhận được; 2, Nơi xảy ra khó khăn ấy; 3. Những suy nghĩ khác nhau để giải quyết; 4. Vận dụng lý luận để phát huy ý nghĩa đã suy nghĩ; 5. Tiếp tục quan sát và thể nghiệm để đi tới khẳng định hoặc phủ định, tức là có thể rút ra kết luận đáng tin cậy hay không.

    Bằng phương pháp trên, Dewey đã phát hiện trình tự phát triển khoa học và theo Dewey, phương pháp của ông đối lập với chủ nghĩa duy lý, kể cả chủ nghĩa duy lý của Descartes và Kant chỉ xuất phát từ khái niệm.