1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0087.0005

Jan 26, 2016
0087.0005
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}

    May là tỉnh dậy là may!

    Giật mình mới biết rằng nay nửa đời.

    Ôi những kẻ ra làm một thám! …

    Họa đồng bào đã thảm nhường bao! …

    Ông cha ta ở nơi nào?

    Đem thân tôi tớ nỡ sao cho đành !

    Riêng chỉ biết phận mình êm đẹp,

    Làm tan tành cơ nghiệp tổ tông !

    Bán mình bán cả non sông !

    Tương tàn cốt nhục([1]) đau lòng lắm thay !

    Người sao độc quá bầy lang sói,

    Vị đồng tiền giết hại lẫn nhau.

    Cam tâm làm kiếp ngựa trâu,

    Chịu trong roi vọt cắm đầu ăn nhơ.

    Nghìn thu trước bao giờ có thế ?

    Đem nồi da mà để nấu xương.

    Nghĩ càng xiết nỗi đau thương,

    Ai ơi nghĩ lại theo đường « thiện » đi !


    Hải ngoại huyết thư

    Bài này nguyên văn bằng chữ Hán của cụ Phan-bội-Châu viết ở hải ngoại gửi về cho Đông-kinh Nghĩa-thục phổ biến, do cụ Từ-Long Lê-Đại dịch ra quốc-âm.

    Cụ Phan biệt hiệu Sào-Nam, sinh năm 1867, người làng Sa-Nam, huyện Nam-Đàn, tỉnh Nghệ-An. Cụ đỗ giải-nguyên khoa thi Hương Canh-Tý năm 1900. Cụ định nối chí Phan-đình-Phùng, gây lại phong trào Cần Vương. Nhưng thấy chưa thuận tiện nên năm 1903 cụ vào Nam hoạt động. Tại đây, cụ cùng các đồng chí tôn Kỳ-ngoại-hầu Cường-Để làm minh chủ. Sau đó cụ ra Bắc, rồi lại trở vào Nam.

    Năm 1904, cụ sang Trung-quốc, sang Nhật-bản. Năm 1905 cụ về nước lo việc đem Kỳ-ngoại-hầu Cường-Để xuất dương rồi lại trở qua Nhật. Năm 1906, cụ về Trung-quốc cùng các đồng chí dựng lên Tân Việt-Nam-công-hiến, làm như một chính phủ lâm thời Việt-nam ở hải ngoại. Năm 1912 anh em trong Đảng sửa sang tồ chức lại thành Việt-Nam Quang-phục hội, cụ được cử làm chức Tổng thư ký. Năm 1913, cụ bị Đô-đốc Quảng-đông là Long-tế-Quang bắt hạ ngục để đem giao cho Pháp. Nhưng được Hồ-hán-Dân và đảng cách mệnh Tàu cứu thoát.

    Tháng 7 năm 1925, cụ bị một bọn người lạ mặt đón ở ga Bắc trạm (Thượng-hải) bắt giao cho người Pháp. Cụ bị đưa về nước và phải ra trước hội-đồng Đề-hình. Viên biện-lý Boyer buộc tội, yêu cầu xử tử cụ. Song cụ được ân xá và phải về Huế ở trong sự coi chừngcủa thực dân Pháp và chính phủ Nam triều. Cụ mất tại Huế ngày 20 tháng 10 năm 1940.

    Sinh thời, cụ chẳng những là một nhà cách mệnh được mọi người biết đến mà còn là một nhà thơ nổi tiếng với những tác phẩm như Lưu-cầu huyết lệ tân thư, Tân Việt-Nam kỷ niệm lục, Việt-Nam sử khảo. Ngục trung thư, Khổng học đãng v.v...

    Bài Hải ngoại huyết thư này gồm hai bức, cụ viết ở Nhật-Bản gửi về để đánh thức tinh thần dân nước. Căn cứ Ngục-trung-thư thì bức thứ nhất cụ viết vào khoảng năm 1906 gửi cụ Phan-chu-Trinh đem về trao cho Đông-Kinh Nghĩa-thục để bí mật phổ biến. Còn bức thứ hai thì không rõ cụ gửi cách nào.

    Cả hai đều lời lẽ lâm ly thấm thiết, kêu gọi đồng bào hãy theo gương các anh hùng tiền bối để tránh họa diệt vong. Tiếc rằng chúng tôi chưa tìm được nguyên bản để hiến quý bạn trong tập này.


    BỨC THỨ NHẤT


    Người nước ta lạ là rất lạ :

    Nông nỗi này nghĩ đã biết chưa ?

    Hay còn mê mẩn mơ hồ ?

    Hay còn hớn hở như đồ trò chơi ?

    Nay những kẻ hạnh tai lạc thú,

    Rặt là người tuấn thú thông minh.

    Ai ơi xin chớ cậy mình,

    Ngu mà ngu thế thật rành là ngu.

    Nay những kẻ vong thù nhẫn sỉ, ([2])

    Rặt là người phú quý vinh hoa.

    Ai ơi xin chớ khoe ta !

    Nhục mà nhục thế thật là nhục thay !

    Bởi trong nước người hay mới lạ,

    Đạo dung thường có giữ được đâu !

    Sợ rồi ra chẳng bao lâu,

    Tôi xin kể hết như sau mấy điều :

    Một là nó trăm chiều sau trước,

    Nghĩ kế nào giết được giống ta.

    Hai là ta cứ lần là,

    Giống vàng ta hẳn rồi ra còn gì !

    Suy các thức thổ nghi vật sản,

    Trong nước mình vạn vạn thức hay.

    Đến như trăm thứ đồ tây,

    Xem không một thức nào thay thợ mình.

    ..........................................

    ..........................................

    ...........................................

    ..........................................([3])

    Trong một nước tám chín phần,

    Người làm đã ít, người ăn rất nhiều.

    Nó lại nghĩ bầy mưu hiểm quyệt([4])

    Mượn người làm đành mất của thuê.

    Đường đi lính, lối làm xe,

    Xô vào một đám sơn khê nghìn trùng.

    Việc Đông Bắc nay công mai dịch,

    Khi lấp sông xẻ rạch khơi hào.

    Người ta chẳng biết khuyên nhau.

    Tham tiền nên phải đâm đầu chết oan.

    Vừa dạo nọ Thái-nguyên, Yên-bái,

    Xương chật đường máu nổi đầy sông.

    Mình bao nhiêu nỗi khốn cùng,

    Nó càng mát ruột cam lòng bấy nhiêu.

    Kể nông nỗi trăm chiều thảm thiết,

    Còn chi là giống Việt-Nam ta !

    Làm cho tai hại nước nhà,

    Điều dương bác ấy lại là hiểm sâu.

    Nó nuôi mình như trâu với chó,

    Nó coi mình như cỏ với rơm.

    Trâu nuôi béo cổ coi rờm,

    Cỏ moi để cỏ trâu làm thịt trâu.

    Kìa xem nước Đông-châu Nhật-Bản,

    Tầu với xe đưa đón hành nhân.

    Đãi nhau tử tế muôn phần,

    Khi ngồi khi đứng, chỗ ăn chỗ nằm.

    Lúc đau yếu nom thăm đi lại,

    Lấy đạo người mà đãi giống người.

    Pháp kia có vốn khác loài,

    Hãy xem nó đãi những người nước ta :

    Xe đi lẫn một toa uế xú,

    Tàu ngôi riêng một xó ti-ô.

    Dãi dầu ngày nắng đêm mưa,

    Ốm đau nó cũng thờ ơ mặc mình.

    Đã như thế trăm vành khinh rẻ,

    Lại ra uy cậy thế cầm quyền.

    Quên trình vé, chậm đưa tiền,

    Chân đà đá gót, tay liền phát roi.

    Suy một việc đãi người như thế,

    Nhục nhằn này có lẽ nào quên ?

    Vì ta một nỗi ngu hèn,

    Gặp tay hung ác có tuyền được không ?

    Lại bảo nó có lòng tín dụng,

    Có lẽ nào giết giống nước ta.

    Ấy là ta chẳng nghĩ ra,

    Người mình khác giống sao mà nó tin.

    Suy các thức thương thuyền kỹ sảo,

    Khắp mọi bề dương-pháo, hải quân.

    Có tin nó đã dậy dần,

    Dậy thì chẳng dậy có phần nào tin.

    Trường quốc-học đặt tên Pháp-Việt,

    Dậy người Nam đủ biết tiếng Tây.

    Đến như trăm thức nghề hay,

    Binh cơ điện hóa không thầy dậy khôn.

    Lối nông học hãy còn ngơ ngẩn,

    Việc công trường thờ thẩn biết chi.

    Trăm nghề Pháp học tinh vi,

    Người mình mình cứ ngu si mặc mình.

    Mình như thế dại đành là dại,

    Nó mong cho ngu lại càng ngu.

    Cứ trong bụng nó mà dò,

    Bảo rằng tín dụng thực cho là lầm.

    Chừng trong khoảng mười năm trở lại,

    Rồi đến là “khất cái vô môn”([5])

    Người càng yếu của càng mòn,

    Bấy giờ mới biết là ơn tín dùng.

    Còn một lũ trong vòng quan lại,

    Mượn người làm nghĩa phải chí công.

    Ấy là nó vẫn căm lòng,

    Đường chưa thuộc, nói chưa thông lẽ nào.

    Một năm kể xiết bao lương phí,

    Lấy Nam nhân lại trị Nam nhân.

    Sêu mạnh nước, róc xương dân,

    Quăng cho một lũ chó săn chia mồi.

    Khi nó đã thuộc nơi phong thỗ,

    Mỏ nó khai người nó nó dùng.

    Thương ơi, cái lũ làm công,

    Cơm thừa canh cặn thôi xong làm gì !

    Quạt mùa thu, rồng khi thôi vái,

    So mười mình, giá lại còn hơn,

    Đem thân ở chốn doanh hoàn

    Người mình thôi chắc có toàn được vây ?

    Thịt bác tước ([6]) lâu ngày mòn mỏi,

    Của tham tàn đầy ói túi tanh.

    Pháp kia nó tính đã rành,

    Cái điều diệt chủng thôi đành chẳng sai.

    Nay còn lúc giống người chưa hết,

    Chữ tự cường nên biết khuyên nhau.

    Cũng người trong cõi năm châu,

    Nó che tiếng nó mình lo sự mình.

    Nghĩa bảo hộ rành rành hai chữ,

    Lẽ dám đâu làm cỏ nước nhà.

    May còn được lúc bây giờ,

    Hơi tàn còn thở sức thừa còn đua.

    Mượn thanh thế lân la ngoại quốc,

    Đem can tràng chống vác giang sơn.

    Cát lâu cũng đắp nên cồn,

    Đá lâu lấp bể ta còn giống ta.

    Song ta vẫn còn là ngu dại,

    Nay lần lừa tháng trải ngày qua.

    Bâng khuâng luống những thẩn thờ,

    Đã hồn hay ngủ lại ma hàng lười.

    Sự toan bác một mai đến nỗi,

    Thôi bây giờ biết hối làm sao.

    Từ nhà thế tộc quan cao,

    Từ nhà hàn sĩ phú hào bình dân.

    Khắp kẻ đến hành nhân tiểu tốt,

    Cả giáo đồ khắp tuốt mọi nơi.

    Đội giời đạp đất ở đời,

    Sinh ra Nam quốc là người thượng phu.

    Ai cũng bụng phục thù báo quốc,

    Thấy giống người khác nước ai ưa.

    Cớ sao ngày tháng lần lừa,

    Rụt rè như thể đợi chờ ngóng mong.

    Nước đến chân sâu nông cũng lội,

    Việc đương đầu bể núi cũng qua.

    Kìa xem gương chuyện xưa kia,

    Chiêm-thành Lâm-ấp bây giờ còn ai.

    Ấy diệt chủng có hai đường ấy,

    Người giống mình chắc cậy còn chăng ?

    Còn ra thì cũng may rằng,

    Ví như hết cả cũng đừng trách ai.

    Qua bao dậm ngàn khơi bể rộng,

    Phải bao phen tàu súng binh lương.

    Công trình từ lúc mới sang,

    Được năm bẩy vạn dậm đường nước ta.

    Năm, mười triệu ngồi trơ ăn hại,

    Nó lẽ đâu để mãi giống mình.

    Vườn kia để cỏ sanh dành

    Lợn kia nuôi béo, thịt dành để chi.

    Nó dẫu dại, quyết thì không thế,

    Mình có khôn phải nghĩ mà suy.

    Trời sinh ta có tội gì,

    Sao cho gọi được hồn về nước ta !..


    BỨC THỨ NHÌ

    Lời huyết lệ gửi về trong nước,

    Kể tháng ngày chửa được bao lâu,

    Nhác trông phong cảnh Nam-châu,

    Gió mây phẳng lặng ra sầu ngẩn ngơ.

    Hồn cố quốc vẩn vơ vơ vẩn,

    Khôn tìm đường dò nhắn hỏi nhau.

    Bâng khuâng đỉnh núi ngàn châu

    Khói tuôn khí uất, sóng xao trận đầu.

    Nghĩ nông nỗi đồng bào thêm ngán,

    Tưởng thân mình dám quản một hai.

    Tiện đây chép nhặt mấy lời,

    Gửi về tỏ giãi cùng người quốc dân.

    May dân nước dầu dần tỉnh ngộ,

    Đem lời này khuyên nhủ cùng nhau.

    Nước ta mất bởi vì đâu ?

    Tôi xin kể hết mấy điều tệ nhân :

    Một là vua, sự dân chẳng biết

    Hai là quan chẳng thiết gì dân.

    Ba là dân chỉ biết dân,

    Mặc quân với quốc, mặc thần với ai.

    Nghìn muôn ức triệu người chung góp,

    Gây dựng nên cơ nghiệp nước nhà.

    Người dân ta của nước ta,

    Dân là dân nước, nước là nước dân.

    Trên chín bệ ngọc thành thị chủ

    May thừa cơ giấc ngủ li long.

    Giang sơn mặc sức vẫy vùng,

    Muôn người luồn cúi trong vòng phúc nguy.

    Đem lịch sử suy đi xét lại,

    Ai vì dân ngưng lợi trừ tai ?

    Chuyện đâu có chuyện lạ đời,

    Mùa hè mưa tuyết, ban ngày mọc sao.

    Tòa y viện thuốc nào cũng có,

    Dân ốm đau, mặc, chớ hỏi han.

    Cơm ngự-thiện bữa ngàn quan,

    Ngoài ra dân đói dân tàn mặc dân.

    Hỏi đến kẻ dùng quân du mỵ,

    Hỏi đến người kiều nữ cung phi.

    Còn đâu khốn khổ trăm bề,

    Cầm như tai mắt chẳng nghe thấy nào.

    Chắc lũ dại đen đầu không biết,

    Cậy quyền trên lấy thịt đè người.

    Thuế dân, dân nộp sác rồi,

    Tiền kho thóc đụn sẵn ngôi ăn không.

    Suốt một lũ trong vòng cung thất,

    Cảu ăn chơi cao huyết muôn người.

    Tội oan có thấu đến trời,

    Trời xa nước mắt, bể trôi ngược dòng.

    Khi giặc đến, người trong phản trước,

    Đem của dân vạch trước hoa thâu.

    Dần lâu các tỉnh mất dần,

    Mười phần thổ địa nhân dân còn gì !

    Nào có nghĩ dân vi bang bản ([7]),

    Của muôn dân là vốn nước nhà.

    Kìa xem Nhật-Bản người ta,

    Vua dân như thể một nhà kính nhau.

    Chữ bình đẳng đặt đầu chính phủ,

    Bấy lâu nay dân chủ cộng-hòa.

    Nghĩ như nông nỗi nước nhà,

    Đến giờ mới mất cũng là trời thương.

    Vua như thế mới càng thêm bực,

    Họa nhân thần có chắc một hai.

    Nhờ tay xoay núi vá trời,

    Dang tay sây đá tính bài cứu nguy.

    Chẳng may lại gặp khi chuẩn bị.

    Đặt những đồ su mị phùng nghinh.

    Hại dân để lợi cho mình,

    Coi dân hờ hững như hình chẳng can.

    Ngày eo héo bầu đoàn thê tử,

    Tối vui chơi mấy đứa hầu non.

    Trang hoàng gác tía lầu son,

    Đã hao mạch nước lại mòn xương dân.

    Sực đến lúc phong trần biến cố,

    Thôi bấy giờ mộ Á chiêu Âu.

    Trời nghiêng đất lở mặc dầu,

    Cốt thân phú quý là dầu sự lo.

    Bài thiện bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào sao cho khéo dạy,

    Cửa cường quyền nhờ cậy kêu van.

    Nay đắc tội, mai cảm ơn,

    Cái thân thời thế là toàn một thân.

    Dân mặc dân chẳng dân thì chớ,

    Cứ của mình mình giữ khu khu.

    Nỗi niềm tưởng đến bao giờ,

    Mây tuôn tía ngắt, mù xa tối dần.

    Lũ sống sót còn năm, mười triệu ;

    Chết dần hao chắc liệu toàn không.

    Vì đâu nước khốn dân cùng ?

    Hỏi ai xướng miệng cam lòng hay chưa ?

    Có như thế có thừa vô ích,

    Vua với quan thôi trách làm chi.

    Trách vì một nỗi dân kia,

    Số người trong nước lại thì phần hơn.

    Để đến nỗi nên cơn cớ thế ;

    Trách dân mình có lẽ trách ai.

    Tôi xin kính chúc lâu dài,

    Khóc than xin kể mấy lời trước sau.

    Nay thử đứng trên đầu đỉnh núi,

    Cõi Đông Nam ngoảng lại mà trông.

    Sông cứ Bắc, bể phương Đông,

    Nếu không dân cũng là không có gì.

    Khoảng khoáng đã dậm rì cây cỏ ;

    Vùng sơn lâm sài hổ hồ li.

    Chiêm-thành, Lâm-ấp chi chi,

    Nước Nam chẳng có còn gì nước Nam.

    Kể như thế ai làm nên nước,

    Giang sơn này khai thước từ xưa.

    Công trình kể tự bao giờ,

    Nghìn năm qua vẫn nước nhà tổ tôn.

    Ta là lũ cháu con một họ,

    Nước dân ta là của gia tài.

    Chữ rằng “Tổ nghiệp di lai”([8])

    Của ta ta giữ chắc ai giữ cùng.

    Chẳng may lúc thành long, xã lở,

    Một hai điều trách cứ vua tôi.

    Còn năm mươi triệu con người,

    Chỉ quanh quanh đám lợi tài không xong.

    Hỏi đến nước còn không chẳng biết,

    Gọi đến tên Nam-Việt không thưa.

    Gia tài tổ nghiệp mình xưa,

    Tay đem quyền chủ mà đưa cho người.

    Chắc đã có người cai quản hộ,

    Cơ nghiệp mình mình bỏ không coi.

    Hỏi trong bốn biển những người,

    Có ai quái gở lạ đời thế không ?

    Thử dương mắt mà trông sự thế,

    Cơn phong lôi sóng bể dập dềnh.

    Bấy lâu trời những bất bình,

    Phen này trời ấy hẳn đành chuyển xoay.

    Hai mươi triệu số người trong nước,

    Há chia nhau dạ Bắc lòng Nam ?

    Lòng nào ghét bỏ cho cam,

    Yêu nhau thì phải tính làm sao đây ?

    Đừng như trước đã hay rằng dại,

    Đến bây giờ trách tại dân ta.

    Nhưng mà dại mãi ru mà,

    Người ta há phải ngù ngờ mãi đâu ?

    Quyền quân chủ trên đầu áp chế,

    Trải nghìn năm dân khí còn gì.

    Mà xem gương truyện xưa kia,

    Kế công trùng vũ ai bì được đâu ?

    Nọ thủa trước đánh Tàu mấy lớp,

    Cõi trời Nam cơ nghiệp mở mang.

    Sông Đằng lớp sóng tranh vương,

    Núi Lam rẽ khói mở đường nhà Lê.

    Quang-Trung-Đế tự khi độc-lập,

    Khí anh hùng dậy lấp giang sơn.

    Lòng trời rộng mở nước non,

    Ta nay may vẫn hãy còn nước ta.

    Song trước ấy nghĩ ra chẳng khó,

    Trong vòng trời riêng có một câu ;

    Thử ngồi suy trước nghĩ sau

    Cốt rằng : “người nước cùng nhau một lòng”.

    Bởi lúc trước của chung không giữ,

    Đến bây giờ sức chửa làm song,

    Sao cho cái sức đến cùng,

    Sức cùng là bởi cái lòng cùng nhau.

    Năm mười triệu đồng bào đua sức,

    Năm mười nghìn giống khác được bao.

    Cùng nhau bên ít bên nhiều,

    Lọ là gươm sắc súng kêu mới là.

    Cốt trong nước người ta một bụng,

    Nghìn muôn người cùng giống một người.

    Phòng khi sưu thuế đến nơi.

    Bảo nhau không đóng nó đòi được chăng !

    Gọi đến lính không thằng nào chịu ;

    Bắt một người ta kéo muôn người.

    Bấy giờ có lẽ giết ai,

    Hẳn thôi nó cũng chịu lui giống mình.

    Việc gì cũng bài binh dụng kế,

    Cứ thi gan kiên lý cho già.

    Của nhà ta phải trả ta,

    Dẫu tham muốn nuốt ắt là chẳng trôi.

    Sống trong nước mỗi người mỗi khác ;

    Vốn cùng nhau sung khắc bất hòa.

    Những là ta lại hại ta,

    Cái thân dị chủng mà xa đồng bào.

    Hoặc dại giết ngu sao còn vẹn,

    Vạn đồng bào can lửa bén dây dưa.

    Người ta ai chẳng biết lo :

    Cùng nhau sao vẫn thờ ơ cái lòng.

    Nỗi ngu dại nói không kể siết,

    Lại ngờ nhau như thể quân thù,

    Thù mong nhau hại, ghét cầu nhau hư.

    Bụng có hợp thì nhà mới hợp ;

    Lòng đã tàn, thì nước cũng tan.

    Bằng nay tay mỏi chân chồn,

    Còn hơi còn thở may còn sống lâu.

    Nếu chẳng biết bảo nhau nghề ấy,

    Rõ lòng mình chắc cậy nhờ ai.

    Thương ôi ! trăm sự tại người,

    Chữ đồng ai dám ngăn rời chữ tâm.

    Thôi chẳng kể sự trăm năm trước,

    Xin từ đây các nước một niềm ;

    Người kiếm củi, kẻ đun cơm,

    Này anh xẻ gỗ, này em đắp đường.

    Việc dẫu nặng chia mang cũng nổi,

    Xúm tay vào kéo lại non sông ;

    Làm cho sáng rõ tổ lòng,

    Tôi xin kể hết cách dùng như sau :

    Nào là kẻ phú hào trong nước,

    Nào là người quan tước thế gia.

    Nào là sĩ tịch trẻ già,

    Nào là lính tập, nào là Gia-tô ;

    Nào những kẻ côn đồ nghịch tử,

    Nào những người nhi nữ anh si.

    Bếp bồi thông ký chi chi,

    Cựu gia tử đệ nào thì những ai ?

    Ấy kể bậc số người trong nước,

    Còn người đi du học mọi nơi.

    Người trong cho đến người ngoài,

    Chữ tâm cốt phải ai ai cũng đồng.

    Vòng trời đất núi sông nung đúc,

    Lũ anh hùng không lúc nào không.

    Giang sơn há chẳng vẫy vùng,

    Bởi chưng thế bách lực cùng lẽ nao.

    Lấy thóc đâu mà cầu Công-cẩn,

    Lấy vàng đâu mà vận Tử-Phòng.

    Anh hùng lại giúp anh hùng,

    Xin riêng một chiếu đãi ông phú hào.

    Hiện trong nước kẻ giàu người có,

    Còn khư khư ngồi giữ gia tài.

    Huống chi những lũ dông dài,

    Xướng mình còn nghĩ đến ai bao giờ.

    Cuộc tán tụ gần cơ tạo hóa,

    Sự bất bình bạ gió tai bay,

    Sao bằng gặp được lúc này,

    Đem lòng phổ tế ra tay anh hùng.

    Khơi bốn bể khơi rồng hành vũ,

    Đeo nghìn vàng tậu ngựa truy phong.

    Người giúp của kẻ ra công,

    Xin ai hào phú, trước cùng bụng cho.

    Cũng có kẻ hàn nho toàn hán,

    Việc nước nhà bụng hẳn không quên.

    Bởi chưng sức bạn phận hèn,

    Mắt xanh ai biết bạn hiền là ai.

    Tụi hào kiệt một tay xơ xác,

    Chân giang hồ giữa bước long đong.

    Lấy ai vận dụng cho cùng,

    Phải người lỗi lạc lại trong con nhà.

    Họp chí sĩ liệu cơ thắng bại,

    Máy anh hùng đợi hội vân lôi.

    Đem thân đại biểu cho người,

    Dựng nền Độc-lập, xướng bài tự do.

    Nghĩa thần tử trước cho vẹn đạo,

    Công phục thù sau báo tổ tiên.

    Con nhà giòng dõi bậc hiền,

    Đồng tâm chữ ấy nên biên vào lòng.

    Song những kẻ ngoài vòng rất dễ,

    Người trong vòng có lẽ khó hơn.

    Sao cho vững dạ bền gan.

    Kìa xem Y-Doãn khi còn Hạ-Vương,[9]

    Hán Chu-Bột lúc đương sự Lã,[10]

    Tâm sự này ai tỏ cho ai.

    Mới hay trung trí đại tài,

    Khu khu tiểu tiết nhất thời mà chi.

    Xin những kẻ đương vì quyền thế

    Đừng chịu câu nhẫn sỉ sự thù.

    Chắc đâu cái lũ bạch nô,

    Mà trong bọn ấy Y Chu có người [11]

    Sự phản gián nay ngồi nghĩ mẹo,

    Mai thừa cơ đãi giáo đeo gươm.

    Giang sơn quay lại trời Nam,

    Đỉnh chung khắc để tiếng thơm lâu dài.

    Sức ai cố nâng mây đạp gió,

    Lòng tôi mong đốt lửa châm hương.

    Khuyên ai những kẻ đường đường,

    Đồng tâm chữ ấy nên thường khuyên nhau.

    Kìa những kẻ lưng đeo súng đạn,

    Dưới cường quyền theo bọn Pháp-binh.[12]

    Mũ vàng lẫn với khố xanh,

    Ấy là đặt lũ tập binh rõ ràng.

    Mặt nam tử thành vàng trong nước,

    Vì thần tiền phải bước chân ra.

    Có đâu ta lại giết ta,

    Cùng là một gốc mọc ra nỡ nào.

    Tưởng những lúc đương đầu giáp trận,

    Bụng không đành mắt vẫn không đang.

    Há vì tháng mấy đồng lương,

    Mà quên làng nước họ hàng hay sao ?

    Nay gặp lúc đồng bào phấn khởi,

    Hội phong vân là buổi lập công.

    Bấy giờ lòng mới giãi lòng,

    Quyết đem bụng nước giúp người cùng Nam.

    Vả trông thấy anh em làng mạc,

    Bởi xưa nay xơ xác vì đâu ?

    Nhục nhằn theo chót bấy lâu,

    Oán sâu quyết báo, thù sâu quyết đền.

    Phút một chốc làm nên công lớn,

    Cứu cho ta mấy vạn đồng bào.























    [1]Tương tàn cốt nhục là xương thịt hại lẫn nhau, ý nói người đồng loại đồng chủng mà sát hại lẫn nhau.


    [2] Quên cả thù, quên cả nhục nhã.

    [3]Mất một đoạn.

    [4] Sâu hiểm và xảo quyệt.

    [5]Đi ăn mày ăn xin cũng không nhà ai cho.

    [6]Bóc lột.

    [7]Dân là gốc rễ của nước.

    [8] Sự nghiệp của cha ông để lại.

    [9] Ông Y-Doãn trong lúc còn ở thời vua Kiệt nhà Hạ phải đi cày ở nội Sằn.

    [10] Chu-Bột thái úy nhà Hán, khi vua Huệ-Đế mất, bọn ngoại thích nhà Hán là Lã-Lộc, Lã-Sản chuyên quyền, toan cướp ngôi nhà Hán. Bột theo họ rồi lập mưu trừ được.

    [11] Y-Doãn và Chu-Công.

    [12] Lính Pháp.

Share This Page