1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0071.00011-[Hán-Nôm-@Suongdem-done-GD]

26/1/16
0071.00011-[Hán-Nôm-@Suongdem-done-GD]
  • PDF
    GoogleDocs



    #0071.00011

    Đánh máy: LiemNT


    mà đã đỗ Hương-Cống), ông Thượng cũng biết ông Lân sau này sẽ làm nên, cho nên mới gả con gái cho ông Lân. Đến khi cưới, ông Thượng cũng biết gia pháp nhà ông Hoàn rất nghiêm nên không sắm sửa đồ trang sức gì cả, chỉ cho ăn vận quần áo sồi vải và răn dậy một niềm kính thuận mà thôi.

    Ông Hoàn là người nết na thẳng thắn, đại khái như thế không nói hết được, những người đồng thời thường gọi ông là hậu-thân của ông Bá-Di, một điều nhận thấy rất rõ rệt là một lòng chính trực, vô tà, của ông, mà ông Lân khéo léo chiều chuộng, kể cũng là hiếu đó thay.

    Sau ông Lân đỗ Tiến-Sĩ, Hội-Nguyên, khoa Tân-Hợi, niên-hiệu Vĩnh-Khánh (triều Hôn-Đức Công nhà Hậu Lê) Văn Đình-đối của ông đáng khôi giáp, vì thất cách nên bị đánh xuống. Sau khi đậu rồi, ông được dự vào công việc chấm trường thi vì không biết là quyển văn của thân phụ mình nên đánh hỏng. Sau ông Hoàn nhờ người chuộc được quyển ra, nhận thấy dấu đánh hỏng là chữ của ông Lân, liền đề sẵn cái chầy giấu trong áo, rồi giả vờ hỏi ông Lân rằng: «Văn tao viết câu: Lưu hành chi hóa tự tây, đông nam bắc vô tư bất bặc phục. Triệu tạo chí có tự cảo, Mân Kỳ Phong hữu khai tất tiên.

    [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] []

    [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    Phong hóa của vua Văn-Vương lưu hành tự phương tây, đến đông, nam, bắc, không nơi nào là không qui phục.

    Cơ nghiệp gây dựng của nhà Chu khởi tự đất Cảo, rồi đến Mân, Kỳ, Phong, là do ở nới đó trước.

    Không biết người nào đánh hỏng câu đó. » Ông nghe nói đã biết là mình rồi, nhưng không biết cha ông đã chuộc được quyển ra rồi, và luôn thể cũng nói chiều lòng ông rằng: « Văn của thân phụ như thếm không biết ai đã chấm nghiệt mà đánh hỏng như thế? » Ông Hoàn liền chìa quyển văn ra và nói: «Không biết bút tích của ai đây? » ông vừa nói vừa đánh, ông Lân phải bỏ chạy.

    Sau ông Từ-Ô Trần-Văn-Trứ đã đỗ Tiến-Sĩ rồi, chưa vào Đình thi, có yết-kiến ông, ông nói: câu thi trung oán hòa bình cũng hay, đã có người lược cũ rồi phải không ? Ông Trứ thưa: «Chưa có», ông nói: Lúc tôi chưa thi đậu, cũng đã lược câu đó, nay lại cho thì may là trúng, (chỗ này có lẽ bản thân văn chép sai, xin để khuyết nghi) quả nhiên hôm ông Từ-Ô vào Đình đối, thì gặp câu đó, liền đỗ Hoàng-Giáp.

    Ông Hoàn là người có cả thiên-tư và học lực, thế mà không đỗ được khôi giáp (chỉ đỗ Hương-Cống) há chẳng phải số mệnh hay sao? Về hiếu hạnh của ông Lâm thì thực đáng làm gương.

    Sau ông làm quan đến Thượng-Thư, được phong tước hầu rồi về trí sĩ, có tập kinh thi bằng quốc-âm lưu hành trên đời.

    [] [] []

    NHỮ-TRỌNG-ĐÀI (Thai)

    Người làng Hoành-Trạch, huyện Đường-An, tỉnh Hải-Dương, Gia thế nhà ông đời đời đăng-khoa, (ông 42 tuổi, đậu Tiến-Sĩ khoa Giáp-Thìn, niên hiệu Cảnh-Trị, triều vua Lê-Huyền-Tôn). Cháu nội ông là Tiến-Dụng, chạu họ của ông là Đình-Hiền đều là người có danh tiếng, nên đời có câu rằng:

    [] [] [] [] []

    Văn chương Lê-Anh-Tuấn

    [] [] [] [] []

    Chính trị Nhữ-Đình-Hiền

    Dịch nghĩa: (Giời văn chương như ông Lê-Anh-Tuấn; Giỏi chính trị như ông Nhữ-Đình-Hiền). Lại còn người anh họ, của ông là Vũ-Đình-Toản, 34 tuổi, đậu tiến sĩ khoa Bính-Thìn, niên hiệu Vĩnh-Hựu (triều vua Lê). Bác của ông là Công-Điền. Họ Nhữ làng Hoành-Trạch cũng nổi tiếng bằng họ Vũ làng Mộ-Trạch. Năm 38 tuổi, ông đậu Bảng-Nhãn khoa Quý-Suur niên hiệu Long-Đức ra đời cua Thuần-Tôn, nhà Hậu Lê, trước ngày Đình thí, các ông đồng khoa muốn cùng kéo nhau đi cầu mộng ở Châu-Vũ-Quán. (ở phía bắc thành Hà-Nội), nghĩa là muốn dự biết công việc thi Đình. Ông vì mắc bận việc, không đi, nên giỡn chơi nói: Các anh có đi, thì cầu giùm tôi nhé. Rồi các ông này đi. Đêm hôm đó ông thấy thần báo mộng rằng « Tam khôi thiên hạ là Thái-Công ». Sang hôm sau thì mọi người đều không hiểu ra sao, nên đều kéo cả về nhà ông kể mộng cho ông nghe, và nói là không hiểu là ý nghĩa thế nào! Ông liền đáp rằng: Tôi nhờ các anh cầu giùm tôi, là Thần bảo tôi, các ông này liền hỏi lại. Ông nói chữ Thất-Công, nói lộn lại, chả phải Cống-Thai là gì, mọi người đều cho là phải và lấy làm lạ.

    Đến hôm Đình thí, quả nhiên ông đỗ Bảng-Nhãn, khoa này có người Vân Canh, huyện Từ-Liêm, là ông của Trần-Hiền cũng đi cầu mộng, thẩn bảo rằng : « Khoa này cả họ nhà ngươi đỗ » cũng không hiểu ra sao. Đến khi ra bảng, họ Trần đỗ 6 người, phần nhiều là học trò của ông.

    Ông Đình Hiền, 22 tuổi, đỗ Tiến-sĩ khoa Canh-Thân, niên hiệu Vĩnh-Hựu, Ông Nhữ-Điền 22 tuổi đỗ Hoàng-Giáp, khoa Nhâm-Thìn, niên hiệu Cảnh-Hưng nhà Lê.

    Ông Lê-Anh-Tuấn 24 tuổi, người làng Thanh-Mai, huyện Tiên-Phong, đỗ Tiến-Sĩ khoa Giáp-Tuất, niên hiệu Chính-Hòa, triều vua Lê-Hi-Tôn.

    Đời truyền rằng: có một ông sắp ứng thí, đi cầu mộng ở Chấn-Vũ-Quán. Thần bảo khoa này đỗ Trạng Nguyên, khi tỉnh dậy mừng lắm về nhà đi đường nói với người đầy tớ rằng: tao đỗ Trạng-Nguyên sẽ lấy con gái nhà đó, và mở thêm cả đất người hàng xóm ở cho rộng. Người đầy tớ nói rằng: Ông đó là nhà giàu sang, không khi nào con gái chịu đi lấy làm hai vả lại nếu bằng ông lấy, thì đôi với bà nhà ta sẽ xử trí thế nào? Ông nói: Bà chủ nhà ta là người quê mùa thô tục, thì làm cái gì, xử cũng rất dễ. Tên đầy tớ lại nói, thế còn đất hàng xóm thì mở làm sao được? Ông nói: tao đã đỗ Trạng rồi, thì tao mở cũng chẳng ai giữ được. Tên đầy tớ cho là không phải, nên không dám nói. Thế rồi quả nhiên ông trượt khoa đó, ông ngờ là Thần báo mộng một cách huyền ảo. Khi về đến nhà, đêm hôm ấy lại mộng thấy Thần bảo rằng: « Thượng-đế đã cho khoa này đỗ Trạng rồi, nhưng Trạng nguyên không có đức không nhớ câu chuyện dọc đường hay sao? Thượng-đế phạt nghĩ một khoa và giáng xuống thứ nhì ». Khi thức dậy, lấy làm hối lắm, mới tin mộng khi trước là thực chứ không phải huyền ảo. Khoa sau ông chỉ đỗ Bảng-Nhãn, (đời vua Xuất-thế nhà Hậu-Lê) là phát ở ngôi đất này.

    Than ôi! Cái cơ cảm ứng giữ trời và người sao chóng như thế! Đại để đậu đại khoa là khó nhất, mà đậu khôi nguyên lại càng khó hơn nữa ! Dự vào hạng đó cố nhiên là bằng cứ vào thể đức, mà cũng tất phải căn cứ vào hạnh nghĩa nữa, nếu đức sâu xa, mà hạnh nghĩa của người ta có thiếu sót, thì ý trời cũng cân nhắc mà thưởng phạt đó. Vợ là người phối hợp với mình, xưa kia tác hợp là trời định, trong thuở hàn vi, đã nếm trải biết bao cay đắng, dù có là người thô tục quê kệch, nhưng đã giúp ta công việc nội trợ, cùng ta chịu nỗi cơ hàn thì ta nên quí trọng, chứ không nên khinh rẻ, may mà được giàu sang, thì dẫu trăm nàng Tề-Khương cũng không đổi lấy một được người vợ hàn vi thuở trước của ta. Có lẽ đâu thấy được phú quí đã vội khinh rẻ là quê mùa thô tục sao? Lập thân như thế thật vô thiên đạo. Đối với xóm làng phải ăn ở cho có tình nghĩa, chu cấp giúp đỡ cho kẻ khó, lẽ đâu lại cậy mình hiền đạt , mà sang đoạt đất đai của họ để làm rộng chỗ ở của mình? Lập tâm như thế là vô thiên đạo. Trời đã cho đỗ Trạng, thì thế đức nhà ông chắc hẳn cũng phong hậu lắm. Tấm lòng đùa bỡn vừa mới thốt ra lời nói, đã có sự quở phạt của trời cao thấu tới, huống chi những người thế-đức, không được bằng ông, mà lại làm những việc như thế, thì trách sao được sự quở phạt của trời xanh? Việc này mọi người ai ai cũng lấy đó làm gương, mà bọn học-trò chúng ta lại càng đáng răn sợ lắm.

    [] []

    TRINH-HUỆ

    Hiệu là Cúc-Lâm, người làng Biện-Thương, huyện Vĩnh-Phúc (nay đổi là Vĩnh-Lộc) tỉnh Thanh-Hóa. Thuở nhỏ nhà nghèo, đến khi lớn mới đi học, vừa học vừa chơi, không chăm chỉ, nhưng rất thông minh dĩnh ngộ, học một lượt là thuộc, thật là một người phi thường, hiếm có.

    Xét trong nước nhà từ ông Lưu-Danh-Công đến nay 20 khoa không có đại khôi, đến ông, 33 tuổi đậu Trạng-Nguyên khoa Vĩnh-Thìn, niên-hiệu Vĩnh-Hựu (đời vua Ý-Tôn nhà Hậu-Lê), làm quan đến chức Thượng-Thư, như vậy giáng sính nhân tài cũng khó như thế đó.

    (Ông Huệ là cháu Thuần Ngĩa-Công, con thứ chúa Trịnh-Việt-Vương)

    [] [] []

    VÕ-ĐÌNH-QUYỀN

    Người làng An-Thái, huyện Quảng-Đức, (nay đổi là huyện Vĩnh-Thuận), tỉnh Hà-Nội. Tiên thế nhà ông rất hàn-vi, xưa nay vẫn bị làng mạc khinh rẻ. Cụ tổ nhà ông đỗ hương-tiến, tính người trung hậu, chưa từng tranh cạnh với ai bao giờ, tuy đỗ Hương-Tiến mà cũng không bao giờ coi mình hơn người, đối xử với người chỉ một niềm khoan hòa, nhưng những kẻ vô lại lở trong hương thôn, thấy ông cụ đỗ-đạt thì ghét, thường chửi mắng khinh rẻ. Một hôm có người đếm nhà gây, chuyện lăng mạ rất là khó chịu, ông cụ bảo người nhà xay thóc, để đánh ấp tiếng đi, mặc kệ không thèm nghe, những kẻ khinh bạc thì cười riễu, ông cụ cũng coi như không.

    Lúc bấy giờ có một người cùng quận với ông cụ tìm đất, (đất đã có người táng rồi). Đêm nằm mộng thấy thần-nhân bảo rằng: (Đát này không cho nhà mày được, phải để lại cho tên giám sinh mỗ ở làng An Thái, mày phải cất mau, nếu không tai họa sẽ đến thân ngay, và mày sang làng An Thái, bảo với y). Người đó giật mình kinh sợ, biết là thần báo mộng không thể cưỡng được, liền di mộ đi nơi khác. Chỗ đất này cũng rộng, người đó trang phẳng đi, rồi sao mới đi hỏi thăm đến ông, kể mộng đó cho nghe. Người đó trang bằng huyệt đi, là có ý xem ông cụ táng có đúng không. Ông cụ nghe lời đem mộ tổ đến táng, đúng theo chỗ táng không sai một ly, mới biết là trời cho.

    Về sau, ông Đình-Quyền đỗ Tiến-Sĩ khoa Bính-Thìn niên-hiệu Vĩnh-Hựu (đời vua Ý-Tôn nhà Hậu-Lê), ông Trạng Tể đỗ Tiến-Sĩ khoa Đinh-Mùi, niên hiệu Chiêu-Thống (đời vua xuất-đế nhà Hậu-Lê) là phát ở ngôi đất này.

    Khi ông Trọng-Tế chưa đỗ, có cầu mộng ở Châu-Võ-Quán (đền này ở phía bắc thành Hà-Nội, thờ đức Văn-Xương-Đế-Quân) Thần báo mộng cho một bài thơ như sau,

    [] [] [] [] [] [] []

    [] [] [] [] [] [] []

    Dịch âm: Giáp khoa định đỉnh tại thiên đình.

    Tuế nẫm phong đăng sự nghiệp thành.

    Tạm-dịch: Khoa danh đã bởi thiên-đình định

    Thóc lúa rồi rào sự nghiệp nên.

    Khi tỉnh dậy quên mất đi hai chữ « Tuế nẫm » và cũng không biết ý nghĩa ra sao ! Sau này trong làng có ông bạn cũng đi cầu mộng, suốt đêm không thấy mộng hiệu gì cả, chỉ thấy thần bảo rằng: « gởi lời anh bảo Võ-Trọng-Tế câu thơ hôm trước quên hai chữ là chữ « Tuế nẫm », ông này lại bảo ông, tuy mừng thầm nhưng cũng không hiểu phong đăng là nghĩa ra sao ! Sau này ông làm Tri-huyện huyện Yên-Phong, mới đậu Tiến-Sĩ. Lúc bấy giờ ông mới nghiệm lời mộng trước.

    [] [] []

    PHẠM-CÔNG-BẢO

    Người làng Hưng-Phú, huyện Nam-Chân, đỗ Hoàng Giáp khoa Đinh-Mùi, niên-hiệu Hồng-Đức. Em ông là Phạm-Đạo-Phú, đỗ Tiến-Sĩ khoa Canh-Tuất được dự vào Tao-Đàn nhị-thập bát tú, làm quan đến chức Hình-Bộ-Tả-Thị-Lang và nay đều làm Thành-Hoàng xã đó, khói hương không ngớt. Còn về gia thế ông, chưa khảo cứu được. Duy có ngôi mộ tổ ở làng Vân-Cù, huyện Nam-Chân, có một hình thể kỳ lạ ở giữa con thổ nổi lên một kim tinh, mạch từ phương Tốn đưa lại, Kim tân bút ứng, hình thể rất đẹp.

    [] [] []

    PHẠM-ĐÌNH-TRỌNG

    Hiệu là Thượng-Quận, người làng Khinh-Dao, huyện Giáp-Sơn, 26 tuổi đỗ Tiến-Sĩ khoa Kỷ-Mùi, (niên hiệu Vĩnh-Hựu), được cải bổ Thống-Lãnh. Lúc ấy, ở tỉnh Hải-Dương có tên tướng giặc hùng mạnh là Quận-Hẻo (tức là tướng giặc Nguyễn-Hữu-Cầu) về đời vua Hiến-Tôn, tụ tập đóng đồn quân ở đó, luôn mấy năm trời, quan quân đánh dẹp, thường bị thất bại luôn. Triều-đình sai ông ra đánh Ông rất giỏi về mưu lược, ngầm sai người đào mộ tổ của tướng giặc, giặc bị thua luôn, rồi đánh bắt được tên Hẻo. Tên tường giặc này giỏi nghề bơi lặn, khi đã bị bắt rồi, y xin các quan lập đàn làm chay, rồi sẽ chịu tội. Triều-đình bằng lòng, ông cho dựng đàn chay ở ven sông, y xin phép được leo lên trên cành phan để niệm Phật, triều đình cũng chắc rằng: không còn kế gì thoát thân được Y liền từ đầu cành phan gieo mình xuống sông, nấp pử dưới nược lặn đến khúc sông dưới, không biết nó đi lối nào bao nhiêu quân gia của triều đình đổ cả ra hai khúc sông trên dưới, dọc theo bờ sông tìm kiếm, không thấy tăm hơi đâu cả, ngày đêm canh phòng cũng không thấy gì. Thì ra y lặn xuống hạ lưu rồi, ngoi lên bờ. Từ đó lại triệu tập những quân gia tản mát để chống lại. Triều-đình lại sai ông ra đánh giặc gồm 36 trận, ông được lĩnh chức Thượng-Thư kiêm tước Vân-Quận-Công, hàm Thái-Bảo ra trấn thủ Nghệ-An. Ông mất lúc cư quan, được phong Phúc-Thần.

    Ông xuất thân trong làng khoa bảng, mà lại nổi tiếng trong việc binh-nhung để tiếng thơm muôn đời. So với các bậc danh tướng, ông là một nhân vật khác thường. Đó cũng do khí thiêng của phần mộ chung đúc mà nên, cho nên sinh ra người văn võ toàn tài, danh tiếng còn mãi về sau. Ông hưởng thọ được 41 tuổi bị bạo-bịnh mà mất.

    Sách Hoàng-Việt-Địa-Dư chép: ông có tiếng thông minh khác thường khi còn thơ ấu ông thường đọc đại câu: « Trời chẳng già, đất chẳng già, năm hồ bẩy miếu một mình ta » người ta không hiểu ra sao. Sau đó có một người Tàu bảo rằng khuôn mặt ông giống như tướng thần Ngũ-Hồ, mới biết ông là hậu thân của thần Ngũ-Hồ.

    Ông có bài thơ tiễn Kiều-Quận-Công Nguyễn-công-Thái, khi về hưu rằng:

    [] [] [] [] [] [] []

    [] [] [] [] [] [] []

    [] [] [] [] [] [] []

    [] [] [] [] [] [] []

    [] [] [] [] [] [] []

    [] [] [] [] [] [] []

    [] [] [] [] [] [] []

    [] [] [] [] [] [] []

    Phiên âm

    Khuê chương dự bá đấu nam thiên,

    Nhất ngộ duyên hài ngư thủy duyên

    Phủng xuất trùng luân thăng hải thượng,

    Quang khai bát tọa ánh vân biên

    A-Hành phục trí hoàng cư sủng

    Hương xã quy nhàn lạc độ niên

    Xuất, xử, hành, tàng quan thế vận

    Cao kình quốc trụ vọng huân hiền

    Dịch vần

    Tiếng tăm lừng lẫy khắp nam thiên

    Cá nước vui vầy thực đẹp duyên

    Sáng tỏ trùng luân bên biển cả

    Rạng nền bát-tọa ánh mây trên

    A-Hanh sủng ái ơn tri ngộ

    Hương xã hưu nhàn buổi vãn niên

    Quan hệ đường đời khi xuất xử,

    Nêu cao quốc trụ bậc danh hiền.

    [] []

    PHAN-KÍNH

    Người làng Lai-Thạch, huyện La-Sơn tỉnh Hà-Nội, là cậu ông Nguyễn-Oánh. Khi hai ông chưa ra đời, người trong làng nằm chiêm bao thấy, hai người Tàu vật nhau ở ngã ba đường, đó là điềm ứng mộng.

    Khoa thi Quý-Mùi, niên hiệu Cảnh-Hưng, ông đi thi, vì nhà nghèo thiếu lương thực, giữa đường gặp một ông phú hộ, biết tiếng ông là người hay chữ, xin ông một bài văn tế, ông liền cho, để mưu kể nhật dụng hai ba ngày. Ông kể thực cho ông phú hộ nghe để xin cấp đỡ lương thực. Vì chuyện trò giằng dai nên đến trễ, ngày mai vào trường, thì chiều tồi hôm nay mới tới nơi, cổng trường đã đóng chặt không vào được, ông buồn bực nằm ở nhà trọ, tính đợi khoa sau. Không ngờ các cống-sĩ vào trường vừa xong, thì suốt ngày hôm đó trời mưa như trút nước, lều chõng không đóng được, phải hoãn đến ngày hôm sau, nhà vua ra lệnh xét xem những người đến thi có còn sót ai không, hoặc còn trễ chưa vào trường hay không? Khi xét đến tên ông, chúa nói tên này thế nào cũng đỗ. Hôm sau ông lại sửa soạn lều chiếu vào thi, khoa ấy ông đậu luôn Thám-Hoa, ông Nguyễn-Oánh cũng đỗ Thám-Hoa, khoa Mậu-Thìn, hai người cùng làng đều đậu Thám-Hoa thực là vẻ vang, coi vậy thì khoa danh thực có thiên mệnh, không

Chia sẻ trang này