1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0109.0012

Jan 1, 2016
0109.0012
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:


    Phạm-Ngộ, Phạm-Mại, hai anh em mưu trí nhiều khi giúp được việc to, được thưởng 80 mẫu ruộng ở làng Kim-đôi, tỉnh Hải-dương ([1]).

    Chúa mường là bọn Lương-Uất, Hà-Bổng, Hà-tất-Năng, Hà-Chương có công đem dân binh ra cự giặc, cũng được phong hầu.

    Ban thưởng đâu đấy cho các tướng ăn yến một tiệc, rồi ai nấy lĩnh chức thăng quan.

    Vua lại sai văn-thần ghi chép công trạng của các tướng, hợp biên làm một quyển bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, gọi là Trung-hưng-thực-lục. Lại sai thợ vẽ tranh truyền thần các tướng, treo trong gác công-thần.

    Ban thưởng cho các công-thần đâu đấy, rồi nghị đến tội hàng giặc. Khi quân Nguyên đang cường thịnh, triều-thần lắm kẻ hai lòng, có giấy má đi lại với quân Nguyên. Khi bình định xong, bắt được một tráp biểu hàng của các quan tư thông với giặc. Đình-thần muốn lục ra xét để trị tội. May có thượng-hoàng mở lòng nhân đức, thương kẻ ngu dại, sai đốt cả tráp ấy đi, không lục đến làm gì. Duy những người nào quả thực đã hàng với giặc, thì mới trị tội, hoặc đem đầy, hoặc xử tử. Vì thế bọn Trần-Kiện, Trần-văn-Lộng tuy đã chết rồi, nhưng con cháu phải tước họ tôn-thất, phải đổi làm họ Mai. Trần-ích-Tắc khi trước theo Thoát-Hoan chạy về Tàu, về sau hai nước giao hòa, lại giở về nước Nam. Vua nghĩ tình cận-thân, không nỡ tước họ, nhưng phải đổi gọi là ả Trần, nghĩa là bảo nhút nhát như đàn bà, gọi thế để cho sỉ nhục.

    Đặng-Long trước là cận thần, vì không đước thăng làm Hàn-lâm-học-sĩ, căm tức theo hàng với Nguyên, khi sau lại bị bắt được, nghị vào tội trảm quyết.

    Còn quân dân thì thứ tội cho, duy có hai làng : Bàng-hà, Ba-điểm, trước hết hàng giặc, cả làng phải đồ làm binh lính, không khi nào được làm quan.

    Triều-đình khu xử trong việc thưởng, phạt, rất là công minh, quan, dân ai cũng vui lòng.

    Bấy giờ thiên-hạ vô sự, bốn phương thái-bình, kế được mùa luôn mấy năm, trăm họ vui vẻ. Thượng-hoàng nghĩ đến công đức Hưng-đạo đại-vương, sai quan về nơi dinh cũ của ngài ở Vạn-kiếp, sửa sang một tòa sinh-từ, thực là tráng-lệ, để thờ sống Hưng-đạo đại-vương. Thượng-hoàng lại thân soạn ra một bài văn bia, kể công trạng của ngài, so sánh ngài với Thái-công-thượng-phụ nhà Chu khi xưa, tứ thời bát tiết, sai quan đem lễ về tận nơi sinh-từ tế bái.

    Tháng năm, năm Canh-dần, thượng-hoàng thăng hà.

    Qua sang năm Tân-mão, Nguyên chúa sai Thượng-thư là Trương-lập-Đạo sang sứ dụ vua vào chầu. Vua liền sai sứ sang cống hiến, xin từ việc vào chầu. Nguyên chúa ưng nhời, từ đó cứ ba năm một lần sang cống như thường.

    Năm Quí-tị, vua nhường ngôi cho thái-từ, tức là Anh-tôn hoàng-đế.

    Anh-tôn lên ngôi, tôn Nhân-tôn lên làm thượng-hoàng, cải niên hiệu gọi là Hưng-long thứ nhất. (Niên hiệu Chí-nguyên thứ 30 nhà Nguyên, lịch tây 1293.)

    Hưng-đạo vương bấy giờ đã già, danh tiếng quyền thế lừng lẫy một nước, mà từ vua đến dân, ai ai cũng mến đức ngài, dù đến người bên Nguyên-triều, cũng tôn kính ngài, gọi ngài là Hưng-đạo đại-vương, chớ không dám gọi tên.

    Ngài muốn cáo lão về nhà hưu dưỡng, mới dâng biểu tâu với Thượng-hoàng và vua xin giao giả quyền chính, trí sĩ về nhà.

    Vua không muốn đề ngài về, nhưng thấy ngài khẩn khoản xin mãi, vua không nỡ trái ý ngài, mới thưởng cho ngài 5.000 lạng bạc, 3.000 lạng vàng, gấm vóc 5.000 tấm, cùng là ngựa, quí, xe bít ngọc không thiếu thức gì, lại sai mở tiệc đại yến để khoản đãi tiễn hành, trăm quan đều ra khỏi thành 10 dặm mới giở lại.

    Ngài có dinh cũ ở Vạn-kiếp, và mới có sinh từ của Thượng-hoàng lập cho, ngài về tại đó hưu dưỡng.

    Khi nào triều-đình có công việc gì to tát, hoặc gặp có lễ triều, lễ cận, thì ngài lại vào chầu, xong việc lại về nghỉ ngơi.

    Đền sinh-từ lập ở trên núi Vạn-kiếp, hình núi như tay long ngai, tục thường gọi là núi Tay-ngai. Mé sau rựa vào núi Huyền-đăng, có hàng mấy trăm ngọn cao trờ vờ. Mé trước trông xuống sông Lục-đầu, ngoài sông có một bãi cát, hình như lưỡi kiếm. Hai bên tả hữu lại có hai ngọn núi : Gọi là Nam-tào, Bắc-đẩu, hình thế quanh co, trùng trùng điệp điệp, trông ra rất là ngoạn mục. Trong sân đền có hai cái giếng, một bên trong, một bên đục.

    Hưng-đạo vương được chỗ thiên nhiên cảnh thắng ấy, thực là một nơi vui vẻ trong lúc cảnh già. Có khi dắt hai ba tiểu đồng, trèo núi nọ qua đồi kia, nhìn xem phong cảnh ; có khi đem một vài đầy tớ, túi đàn, hồ rượu, bơi một chiếc thuyền nhỏ, thung thăng chơi giữa dòng sông. Hoặc có lúc vui cùng bạn hữu, đánh chén trong vườn hoa ; hoặc có lúc dắt díu một hai thầy tăng, chơi giăng trước cửa động. Thường thường lại hội vợ con đầy tớ mở cuộc vui vầy. Khi nhàn thì xem bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào vịnh thơ chơi. Ngài có soạn ra một bộ binh-thư, nói các mưu cơ dùng binh huyền diệu, gọi là bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào Vạn-kiếp-tôn-bí-truyền.

    Người sau có bài tràng-thiên vịnh phong cảnh và thú hứng của ngài như sau này :

    Giời Nam riêng một cõi Doanh-bồng,

    Sơn thủy thiên nhiên cảnh lạ lùng !

    Bắc-đẩu, Nam-tào chia tả hữu,

    Huyền-đăng trăm ngọn đá chông vông.

    Mấy chòm cổ thụ bóng sầm uất,

    Một rẫy cao phong thế trập trùng.

    Bãi nổi xè xè hình lưỡi kiếm,

    Nước trong leo lẻo một dòng sông.

    Véo von vượn hót trên đầu núi,

    Lác đác hươu ăn dưới gốc thông.

    Dáng tỏa chiều hôm chim ríu rít,

    Mây tuôn ban sớm khói mịt mùng.

    Phong quang bốn mặt trông như vẽ,

    Một tọa lâu đài cao sát không.

    Rèm ngọc sáng quang mây núi bắc,

    Gác hoa bóng lộn sóng triều đông.

    Đại-vương khi nhàn rê trượng trúc,

    Theo sau một vài gã tiểu-đồng.

    Khi đeo bầu rượu qua sườn núi,

    Lúc dạo cung đàn bơi giữa dòng.

    Thủng thỉnh cuộc cờ khi gió mát,

    Ung dung ngâm vịnh lúc giăng trong.

    Nghĩ mình thú hứng vui ngày sót,

    Ngắm cảnh giang sơn thỏa khúc lòng !

    Tuổi già, cảnh thú, công danh trọn,

    Than ôi ! Đại-vương thực anh-hùng !

    Bấy giờ Hưng-đạo vương dưỡng lão ở nhà, các con và các đầy tớ thì làm quan tại triều, hoặc trấn thủ ở ngoại quận. Vua thường thường sau quan mang rượu thịt, hoặc là vị thuốc quí đến thăm nom ngài. Cũng có khi vua ngự giá đến nhà hỏi thăm.

    Một hôm ngài đương chơi núi, sực có đầy tớ chạy lại báo rằng :

    - Bẩm đại-vương, có thánh-giá đến.

    Ngài vội vàng xuống núi về dinh, thì thấy Nhân-tôn thượng-hoàng, Hoàng-thái-hậu (tức là con gái ngài) và vua, cùng các quan thị-vệ đã ở cả trong nhà.

    Ngài vội vã lạy mà tâu rằng :

    - Lão-thần không được biết trước thánh-giá đến đây, lỗi sự nghinh tiếp, xin thánh-thượng cùng bệ-hạ thứ tội cho.

    Vua vội vàng đỡ ngài đứng dậy, mời ngồi một bên, rồi nói rằng :

    - Thượng-hoàng, Thái-hậu và trẫm, lâu nau không thấy đại-vương vào kinh, có lòng mong nhớ, cho nên đến thăm.

    Thượng-hoàng, Thái-hậu cũng lấy nhời phủ úy đại-vương rằng :

    - Trẫm và Thái-hậu khi trước ngày nào cũng được quyến luyến với đại-vương, lâu nay xa vắng, trẫm lấy làm khát khao lắm.

    Hưng-đạo vương tạ ơn Thượng-hoàng, Thái-hậu và vua.

    Vua lại hỏi rằng :

    - Lâu nay đại-vương có được mạnh khỏe không?

    - Tâu bệ-hạ, lão-thần nhờ hồng phúc nhà nước, vẫn được bình yên như thường.

    Vua sai thị-vệ mở hòm lấy ra một vò rượu ngự-tửu, 10 cân quế Thanh và 10 cặp nhung ban cho ngài, mà nói rằng :

    - Trẫm ban cho đại-vương hai thứ này, để đại-vương thưởng chơi lúc nhàn nhã, cho bổ dưỡng thêm tuổi già.

    Hưng-đạo vương lạy tạ.

    Hôm ấy đại-vương mở tiệc dâng tiến Thượng-hoàng, Thái-hậu, cùng vua và thết đãi các quan thị tụng, rất là vui vẻ.

    Thượng-hoàng, Thái-hậu, cùng vua nghỉ lại trong dinh một đêm, sáng hôm sau xa-giá về cung, ngãi tiễn ra 3 thôi đường đất rồi giở về.

    Tự đó vua thường thường răm ba tháng lại ngự giá đến thăm một lần.

    Đó là :

    Cảnh thú vui vầy non nước cũ,

    Ơn trên quyến cố móc mưa nhuần.

    Chưa biết về sau thế nào, sẽ xem hồi sau phân giải.



    HỒI THỨ MƯỜI BẢY


    Thái-sư thượng-phụ một sớm lên tiên,

    Trần-triều đại-vương nghìn thu hiển thánh.


    Vua có ý quyến luyến Hưng-đạo vương thường thường sai người đến thăm nom, Hưng-đạo vương thỉnh thoảng cũng vào chầu vua.

    Một bữa vào độ canh hai, đêm hôm ấy trên không quang đãng, sao sáng rực giời. Vua nhân lúc thanh nhàn, ra sân ngắm xem thiên-văn. Sực thấy một ngôi tướng-tinh cực to, tự đông-bắc bay vụt sang tây-nam, rồi sa xuống đất, ánh sáng lòe ra 10 trượng. Vua thất kinh, không biết là điềm hay dở làm sao.

    Sáng hôm sau, vua ra ngự triều hỏi các quan rằng :

    - Đêm hôm qua là 24 tháng sáu, có ngôi sao to sa xuống ở góc tây nam, các quan có ai biết là điềm gì chăng ?

    Phạm-Ngộ bước ra tâu rằng :

    - Ngôi tướng-tinh sa là điềm nhà nước mất một vì lương-đống. Đêm qua, chúng tôi cũng có trông thấy ngôi sao sa tự mé đông-bắc, chắc là ứng vào Hưng-đạo đại-vương, thiết tưởng ngài cũng không thọ được bao lâu nữa.

    Vua thấy nói không vui lòng. Kíp sai quan đi thăm Hưng-đạo vương. Hôm sau sứ-giả về báo rằng : Hưng-đạo vương phải bệnh từ đêm hôm ấy.

    Vua thất kinh, lập tức ngự giá thân sang Vạn-kiếp thăm bệnh ngài.

    Khi ấy Hưng-đạo vương mệt nặng, các con và các gia-thần hầu hạ xung quanh, không dám dời ra lúc nào. Sực báo có ngự giá đến. Bốn vị vương-tử cùng ra nghinh tiếp. Hưng-đạo vương sai người đỡ mình dậy.

    Vua vào nhà trong, thấy ngài mệt lắm, nói rằng :

    - Trẫm ở trong cung, không ngờ thượng-phụ quí thể lại bệnh trọng thế này.

    Hưng-đạo vương tâu rằng :

    - Lão-thần năm nay đã ngoài 70 tuổi, thế đã là thọ, dù chết cũng không hối hận gì nữa.

    - Thượng-phụ là lương đống nhà nước, mong sao hưởng thọ được lâu dài, cho trẫm trông cậy.

    - Bệ-hạ chớ lo, lão-thần tuy không được ở lại báo đáp quốc ân, nhưng còn nhiều người hiền-tài giúp được bệ-hạ.

    - Thượng-phụ một mai khuất núi, phỏng có quân bắc lại đến xâm nhiễu, thì làm thế nào?

    - Nước ta tự thuở xưa Triệu-võ vương dựng nước, Hán-đế đem binh đến đánh. Võ-vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để đồ lương thảo cho giặc chiếm được ; rồi đem đại-quân sang châu Khâm, Liêm đánh trận Tràng-sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời. Đến đời Đinh, Lê, nhiều người hiền lương giúp đỡ, bấy giờ nước Nam ta đang cường, vua tôi đồng lòng, bụng dân phấn trấn ; mà bên Tàu đang lúc suy nhược, cho nên đắp thành Bình-lỗ([2]) mà phá được quân nhà Tống, đó lại là một thời. Đến đời nhà Lý, quân Tống sang xâm, Lý-đế sai Lý-thường-Kiệt đánh mặt Khâm, Liêm, dồn đến Mai-lĩnh, quân hùng tướng dũng, đó là có thế đánh được. Kế đến bản triều, giặc Nguyên kéo đến vây bọc bốn mặt, may được vua tôi cùng lòng, anh em hòa mục, cả nước đấu sức lại mà đánh, mới bắt được tướng kia, cũng là lòng giời giúp ta mới được thế. Đại để : Kẻ kia cậy có tràng trận, mà ta thì cậy có đoản binh ; lấy đoản chống nhau với tràng, phép dùng binh thường vẫn phải thế. Còn như khi nào quân giặc kéo đến ầm ầm, như gió như lửa, thế ấy lại là dễ chống. Nếu nó dùng cách dần dà, như tầm ăn lá, thong thả mà không ham của dân, không cần lấy mau việc, thế ấy mới là khó trị ; thì ta nên ủy dùng tướng giỏi, liệu xem quyền biến, ví như đánh cờ, phải tùy cơ mà ứng biến, cốt dùng được binh phải đồng lòng như cha con một nhà, thì mới có thể đánh được. Cách ấy cốt phải tự lúc binh thì, khoan sức cho dân, để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là chước giữ nước hay hơn cả đấy.

    Vua chịu nhời ấy là rất phải.

    Hưng-đạo vương lại nói rằng :

    - Lão-thần cõi thọ đã hết, xin bệ-hạ nghĩ việc nhà-nước làm trọng, lão-thần từ đây không được chầu bệ-hạ nữa đâu.

    Vua xót xa, từ giở ra về cung.

    Các vương hầu và văn võ các quan, ai nấy cùng đến hỏi thăm. Hưng-đạo vương nhất nhất cảm tạ lòng các quan, và dặn lại rằng :

    - Ta nay hết lộc, không được cùng với các quan lo việc nước nữa, các quan nên đồng lòng thờ vua giúp nước, phải giữ trung, hiếu làm đầu mới được.

    Các quan ai nấy vâng nhời từ ra.

    Hưng-đạo vương gọi con trưởng là Hưng-võ vương Nghiễn vào dặn rằng :

    - Sau khi ta mất, không được cho Quốc-Tảng vào khâm liệm, đợi khi nào đậy áo quan rồi, sẽ cho nó vào.

    Vì tự khi xưa An-sin vương có hiềm với Thái-tôn, có dặn ngài tranh lấy thiên-hạ. Đến lúc quân Nguyên vào cõi, quân quyền về cả tay ngài, ngài mới đem nhời An-sinh vương bảo với gia-tướng là Dã-Tượng, Yết-Kiêu. Hai người đáp rằng : “Làm như thế thì phú quí được một thời, nhưng để tiếng xấu nghìn năm. Nay đại-vương cũng đã phú quí rồi, sao nỡ làm thế. Chúng tôi xin chết già làm đầy tớ đại-vương, chớ không muốn mang tiếng bất trung, bất hiếu, mà cầu làm quan to.” Ngài nghe nói xong, động lòng rớm nước mắt. Ngài lại hỏi Hưng-võ vương Quốc-Nghiễn rằng : “Cổ-nhân giầu có cả thiên-hạ, để truyền cho con cháu, bụng con nghĩ thế nào ?” Quốc-Nghiễn thưa rằng : “Phận làm tôi không nên thoán nghịch, giả vua khác họ cũng còn không nên, huống chi là cùng một họ.” Ngài lấy nhời ấy làm phải. Lại hỏi đến con thứ là Hưng-nhượng vương Quốc-Tảng. Quốc-Tảng thưa rằng : “ Ngày xưa vua Thái-tổ nhà Tống vốn là một ông lão làm ruộng, còn biết thừa thời tranh cướp, để lấy thiên-hạ, huống chi phụ-thân bây giờ binh quyền ở cả trong tay, việc gì mà chẳng lấy.” Ngài nổi giận rút gươm ra kể tội Quốc-Tảng là bất trung, bất hiếu, toan đem chém ngay. Quốc-Tảng khóc lóc chịu tội, các tướng can ngăn ngài mới tha. Bới thế ngài vẫn ghét, đến bây giờ dặn không cho vào khâm liệm.

    Bệnh ngài dần dần mỗi ngày một nặng, qua sang tháng sau ngài mất. Bấy giờ là ngày 20 tháng tám năm Canh-tí, niên hiệu Hưng-long thứ tám (niên hiệu Đại-đức thứ tư vua Thành-tôn nhà Nguyên, lịch tây 1300), ngài thọ được 75 tuổi.

    Có thơ tán rằng :

    Trung hiếu lòng son tự tính thành,

    Anh-hùng ra sức chống giời xanh.

    Gươm thần một lưỡi kinh hồn giặc,

    Ngựa đá nghìn thu vững cõi mình.

    Đền Kiếp bia cao truyền sự nghiệp,

    Sông Đằng sóng cuốn hiển uy danh.

    Giời Nam hương hỏa còn ghi nhớ,

    Oanh liệt kìa kìa dấu hiển linh !

    Hưng-đạo vương mất rồi, các vương-tử sai người về kinh-đô báo phó. Vua bấy giờ đang ngự đền Tuyền-thất, nghe tin ngài mất, than khóc nói rằng :

    - Thượng-phụ vì nhà-nước mặc áo giáp cầm đồ binh, quét sạch bụi rợ Hồ, đem lại thần kinh, phủ yên trăm họ, nay bỏ trẫm mà đi, trẫm bao giờ lại được người yêu vua lo nước như là thượng-phụ nữa ?

    Thượng-hoàng và Hoàng-thái hậu cũng khóc, các quan ai nấy cảm thương, dân gian xa gần xụt xùi sầu thảm, tựa hồ như mất cha mẹ. Vua sai bãi chầu 10 ngày, bắt văn võ trăm quan cùng phải để chở. Vua lại ngự giá ngồi xe mộc, ngựa trắng, thân đến Vạn-kiếp coi việc trị tang. Sai các quan dùng hậu lễ rước ma táng ở trong vườn An-lạc.

    Vua về triều giáng chiếu truy phong ngài là : Thái-sư thượng-phụ, Thượng-quốc-công, Bình-bắc đại-nguyên-súy, long-công thịnh-đức, vĩ-liệt hồng-huân, nhân-võ, Hưng-đạo đại-vương. Sai thợ dùng gỗ bạch-đàn, chế ra tượng ngài, để thờ trong đền Vạn-kiếp. Lại sai lập miếu thờ ở quê ngài là làng Tức-mạc, phủ Thiên-trường, bốn mùa sai quan tế bái.

    Ngài thực là một người hết lòng với vua với nước, tuy rằng uy quyền lừng lẫy, mà vẫn giữ chức phận làm tôi, không dám điều gì kiêu ngạo. Đang khi quân Nguyên quấy nhiễu, ngài cầm binh quyền, Thánh-tôn, Nhân-tôn cho ngài được chuyên quyền phong tước ; trừ ra chỉ tự tước hầu thì cho ngài phong trước rồi mới tâu sau. Thế mà ngài không dám tự tiện phong thưởng cho ai chút nào. Phàm các nhà giầu, ngài có quyên tiền gạo, để cấp cho quân ăn, thì ngài chỉ phong cho làm Giả-lang tướng mà thôi, đó là ngài giữ phận làm tôi cẩn thận như thế. Bởi thế ngài mất đi, tự vua quan cho chí bách-tính ai cũng thương tiếc.

    Tự khi lập đền ở Vạn-kiếp, hai xã Vạn-an, Dược-sơn ngày đêm đèn hương phụng sự. Ngài thường hiển linh trừ ta trị bệnh cứu hộ nhân dân. Khi nào có giặc, triều-đình sai quan đi đánh, thường đến cầu đảo, hễ thấy thanh kiếm thờ trong đền tự nhiên rung động, thì khi ấy tất thắng trận.

    Nhân dân nhiều nơi lập đền thờ phụng, lịch triều có sắc phong ngài là Thượng-đẳng linh thần.

    Phụ-thân ngài được truy phong làm Khâm-minh đại-vương.

    Mẫu-thân ngài truy phong làm Thiện-đạo quốc-mẫu.

    Phu-nhân ngài là Thiên-thành thụy-dương, ngọc-nhất, trưởng-công-chúa cũng được truy tôn làm Nguyên-từ quốc-mẫu.

    Các con ngài là Hưng-võ vương Quốc-Nghiễn, Hưng-hiến vương Quốc-Úy, Hưng-nhượng vương Quốc-Tảng, về sau cũng được phong làm đại-vương. Con thứ tư là Hưng-trí vương Nghê từ khi đánh Nguyên giở về đến làng Chung-mỹ huyện Thủy-đường tỉnh Hải-dương,([3]) chiêu mộ lưu dân, cho tụ tập làm ăn. Về sau mất đi, dân ở đấy lập miếu phụng tự, lịch đại có sắc phong làm phúc-thần.

    Các bộ-tướng của ngài : Phạm-ngũ-Lão về sau lại đánh Ai-lao, Chiêm-thành có công được phong làm Điện-tiền thượng-tướng-quân. Sau khi mất, làng Phù-ủng lập miếu thờ làm phúc-thần.

    Yết-Kiêu về sau cũng được phong tặng làm Tĩnh-mục-hiển-minh-chiêu-ứng đại-vương, làm thành-hoàng làng Hạ-bì.[4]

    Nguyễn-chế-Nghĩa về sau lấy con gái vua Anh-tôn là nàng Nguyệt-hoa công-chúa, lúc mất được phong làm An-nghĩa đại-vương. Làng Kiêu-kỵ[5] nhân thấy linh-ứng, lập miếu thờ làm thành-hoàng.

    Còn các tướng cũng được phong tặng, tòng tự ở trong đền Vạn-kiếp.

    Kể từ năm Đinh-tị Nguyên-phong tứ bảy (1257) ngài mới bắt đầu phụng mệnh đánh giặc, đến năm nay là năm giáp-dần (1914), trục tính được 657 năm, mà miếu mạo uy danh ngài lại nguy nga hơn trước. Ngài thực là một bậc đại-anh-hùng nước Nam.

    Đó là :

    Đông-a vận mở giời sinh thánh,

    Nam-hải danh thơm sử tạc bia.

    Hồi sau sẽ lục những bài văn tán.




    HỒI THỨ MƯỜI TÁM


    Phụ lục các bài văn tán


    Bài văn tán Hưng-đạo đại-vương


    Bậc thần thánh danh cao trong cõi,

    Một chữ trung thọ với giang sơn.

    Tài kiêm Gia-Cát, Phần-Dương,

    Chẳng qua trong tấm cương trường suy ra.

    Cõi Nam tự Đông-a về trước,

    Biết bao người dẹp nước yên dân.

    Song mà kiển kiển vương-thần,

    Muôn người có một đức Trần Thái-sư.

    Vốn dòng dõi kim-chi ngọc-diệp,

    Đủ kinh-luân khang-tế tài cao.

    Sơ sinh điểm ứng chiêm bao,

    Thanh-y giáng thế giời trao anh-hùng.

    Chi da ngựa, tinh thông thao-lược,

    Khoác áo rồng chỉ chước Trần-kiều.

    Gặp cơn quốc bộ hiểm nghèo,

    Khăng khăng vẫn giữ một điều tận trung.

    Kìa giặc Đát ruổi rong vó ngựa,

    Trải ba phen đạp vỡ trùng quan.

    Buồn khi chim gáy hoa tàn,

    Phất phơ cờ thúy mấy ngàn rừng thông.

    Có kẻ giở ra lòng Vệ-Luật,

    Có người xoay ra mặt Bang-Xương.

    Giời Nam còn có chủ trương,

    Nhị tâm đã thấy những phường bạc đen.

    Đang khi ấy cầm quyền thống ngự,

    Một Thái-sư gìn giữ phong cương.

    Ví mà bắt chước Kính-Đường,

    Bắc vương đã chấp, Nam vương khó gì ?

    Ghét những truyện thừa nguy mãi quốc,

    Gác ngoài tai những chước hàng Nguyên.



    [1] Tức là tổ họ Phạm ở làng ấy bây giờ.

    [2] Thuộc Thái-nguyên.

    [3] Thủy-đường bây giờ thuộc tỉnh Kiến-an.

    [4] Thuộc huyện Gia-lộc, tỉnh Hải-dương.

    [5] Thuộc Bắc-ninh.

Share This Page