1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0071.00020 [Hán Nôm_Ngọc Sơn_done_GD]

Jan 26, 2016
0071.00020 [Hán Nôm_Ngọc Sơn_done_GD]
  • PDF
    GoogleDocs



    Biết rằng không thể nào kêu nài được nữa; cực chẳng đã, hai vợ chồng phải cùng nhau về. Bà vừa đi vừa khóc, trông rất thảm thiết. Lúc về đến giữa đường, qua một rặng núi, chân núi có một suối nước. Hai ông bà ngồi nghỉ ở bờ suối, trông thấy cái cột đá ở dưới cầu, nước chảy đá mòn dần, bà liền bảo ông rằng : dắn nào bằng đá, mềm nào như nước, thế nào nước chảy mãi đá cũng phải mòn. Huống chi con người, ngu dốt đến đâu, học mãi cũng phải biết. Ta cứ trở lại, tôi cố năn nỉ với thầy một lần nữa, may mở mang trí khôn ta được, thì cũng không uổng phí cái công lao này. Nói rồi vợ chồng cùng nhau trở lại, lậy tạ trước mặt thầy. Thầy nói : “Tôi đã bảo thế, sao còn đem nhau lại đây”. Bà liền lạy tạ rằng : trăm lạy Tôn-sư, nghĩ lại thương đến vợ chồng con hết lòng dạy bảo một lần nữa, may ra lòng trời thương lại, mở mang sáng sủa được phần nào, thì là vạn phúc. Nếu bằng vẫn cứ tồi tàn dốt nát như trước, không mở trí được, thì chúng con không dám cò xin nữa. Vì mới đây, chúng con đi qua cái suối thấy nước chảy mà đá phải mòn. Chúng con trộm nghĩ dắn như đá mà nước chảy còn mòn được, huống chi con người ta đâu có phải như đá. Ngày đêm ngấm nghía, gần thầy gần bạ, Vàng mài ngọc dủa, ắt có người sáng được. Xin thày cố thương đến chúng con, lại cho vào học, may ra biết được mọt hai chữ thật là vạn phúc cho vợ chồng con. Ông thầy nghe nói thương tình, không nỡ từ chố, liền bảo bà rằng : chồng chị dốt lăm, không phải ta có ý tiếc đâu ? bây giờ ta ra cho một câu đối, nếu đối được thì ta dạy, bằng không thì thôi. Nhân tên làng của ông thầy là làng Hạ-Vũ và gặp lúc đang mưa nhỏ, thầy liền ra cho một câu đối rằng :

    Làng Hạ-Vũ mưa bay phất phất.


    Ông ứng khẩu đối luôn rằng :

    Đất Xuân-Lôi sấm động ù ù.

    Ông thầy liền cả kinh mà rằng : coi câu đối này của anh, thì cái khí tượng đại-khoa đã biểu lộ. Thực là ít có, thế nào cũng thành đạt được. Như thế, thì dù không muốn học, tôi cũng khuyên cho đi học. Rồi thầy lại cho vào học, vì khi hai ông bà về đến cái suối ở vên rặng núi, ở đó ban đêm người ta vẫn nghe có tiếng thần-đồng đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, lúc ngồi nghỉ chân, thì thần-đồng nhập vào ông. Từ đó trở đi, ông học rất tấn-tới, ngày qua tháng lại, sức học gấp trăm gấp nghìn lần người khác, văn chương lừng lẫy, có thể lấy cái bảng Tiến-Sĩ dễ dàng như người thò vào túi lấy của vậy.

    Xem thế thì lúc còn nhỏ đã đi học, lớn lên thì đỗ, chuyện có gì là lạ. Nhưng đây ông tuổi đã lớn đến 30 tuổi, mới học vỡ lòng, mà cũng thành đạt được, thật là ít có. Mới hay “hữu chí cảnh thành” Khoa bảng công danh, trời kia đã định, sớm muộn có lo gì. Một người được như ông, thực không phục cái công lao dạy dỗ của sư phục; và tấm lòng thành của người vợ hiền, để được lưu danh trong ngàn muôn thuở.

    Trong triều nhà Lê có ba người tên là :

    1) Ông Nguyễn-Tự-Cường, người ở làng Tam-Son, huyện Đông-Ngạn, đố Hoàng-Giáp, khoa (niên hiệu Hồng-Thuận thứ 6 triều vua Tương-Dực-Đế nhà Lê).

    2) Ông Nguyễn-Tự-Cường, người Lan-Mạc, thuộc An-Lạc, 46 tuổi, đỗ Hoàng-Giáp khoa Giáp-Tuất (niên-hiệu Sùng-Khang thứ 7 triều nhà Mạc).


    3) Ông Nguyễn-Tự-Cường người làng Xuân-Lôi.

    []

    TIẾN – SĨ (khuyết danh)

    Trong làng ông có một có một cái gò đất thường có tiếng Thần-đồng đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào đã ứng vào ông rồi. Nên ông bẩm tính thông minh, nghe một biết mười, biết việc đã qua, hiểu việc sắp đến. Học theo các bậc thánh hiền, lấy bảng tiến-sĩ dễ như trở bàn tay. Sau khi ông sinh, người ta không thấy tiếng thần đồng học nữa. Khi ông mất rồi người ta lại nghe tiếng đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào ở cái gò ấy. Sự tích của ông chưa khảo sát được, đây chỉ là ghi chép sự thi đỗ của ông, để truyền về sau.

    []

    BẨY ĐỜI TIẾN - SĨ

    Xưa kia, Tả-Ao Tiên-Sinh xem đất ở cá nơi, thấy có một ngôi đất phát 7 đời Tiến-Sĩ. Khi đi lên đường, gặp một người thợ cày, ông bảo rằng : ‘Tôi có một ngôi đát phát 7 đời áo đỏ, anh có chịu táng ngôi đất đó không ?” Anh thợ cày nói : “chỉ một củ nâu (Vủ-dư-lương) là áo đỏ cả nhà.” Vì Tả-Ao Tiên-Sinh thường hay ăn mặc quê kệch, không lộ hình tích, để thử người ta, xem có thành tâm không ; Người thợ cày không biết, khinh ông là nói láo để kiếm tiền, nên nói câu đó để diễu ông. Tiên Sinh nghe nói làm thinh đi thẳng. Đứng gần đấy cũng có một người thợ cày khác, thấy Tiên-Sinh nói chuyện với người kia như thế vội vàng đuổi theo gọi, Tiên-Sinh không quay lại, tưởng là người thợ cày trước. Người thợ cày đó cứ đuổi theo mời; Tiên-Sinh lại, táng cho ngôi đất ấy tự một đời đén bẩy đời, khoa bảng


    liên tiếp, cha con ông cháu, đều đỗ Tiến-Sĩ. Ôi tốt lắm thay; đức thịnh công to, ơn dày phúc lớn; hiếu nghĩa tương truyền, trâm anh nối tiếp, phát phúc ở ngôi đất này.

    Tiên-Sinh lại chu du ở Giang-Bắc, thấy một nơi có ngôi đất phát Tiến-Sĩ, Tiên-Sinh bèn nằm ở bên cầu, hễ gặp ai qua lại, Tiên-Sinh đều xin táng giúp, mọi người cho là nói láo; không thèm trả lời. Tiên-Sinh liền đặt tên cho cái cầu đó là “Vô-sự-kiều”. Tiên-sinh muốn thuận theo ý trời: không bao giờ làm việc cưỡng ép, nên mới ăn mặc xuềnh xoàng, để cho người ta không biết mình mà coi khinh. Đất đại khoa khó như thế, hễ ai có đức thì được, ít đức thì dẫu gặp thầy giỏi cũng bỏ qua. Xem thế thì những ngôi đất to đã có thần coi và có trời cho. Dẫu là người nông phu hèn hạ, nhưng có đức thì tất được báo, được hết đời này, đời khác, nối tiếp lâu dài.

    []

    TIẾN – SĨ (Khuyết danh)

    Ông làm quan thanh liêm, không nhận hối lộ. Phu nhân của ông sinh ra được hai người con, từ trước đến nay, vì ông thanh liêm chính trực, nên gia-đình thanh đạm. Phu-nhân vẫn vui lòng cam chịu mọi cảnh thiếu thốn; không dám cầu xin ông lấy một mảy may. Một hôm, có một người mắc phải vụ án-mạng, y biết tội thế nào cũng bị tử hình, bèn nhờ người đến nói với Phu-Nhân, để xin hộ với ông cho, bà sẽ hậu tạ. Phu-Nhân liền thừa dịp nói với ông rằng : “ông làm quan thanh-liêm, bổng lộc không đủ nuôi mẹ con tôi, đến nỗi phải đói rét. Nay có người mắc phải vụ án, nhờ cậy tôi nói với ông, xin ông rộng bút tha cho, để cho mẹ con tôi được nhờ đôi chút. Ông giả cách bằng lòng. Phu-nhân mừng lắm. Đến đêm khuya yên vắng. Ông sai vú em vào gọi hai


    con dậy và cả Phu-Nhân đến. Ông sai trói hai con vào cái cột ở công đường. Phu-Nhân không hiểu ra sao mà ông làm như vậy ? ông sai người hầu mài một thanh kiếm rất sắc, đưa cho Phu-nhân và nói : mày đem thanh kiếm này chém hai đứa con kia đi, rồi ngày mai ta sẽ tha cho kẻ can phạm vụ án đó, đề cho mày nhờ được ấm no. Phu-nhân lấy làm xấu hổ, tạ lỗi mà rút lui, rốt cuộc ông xét xử vụ án đó một cách rất công bằng.

    Than ôi ! lợi là loài sâu đục khoét tâm hồn người ta. Cái lợi phi nghĩa, người ta ai cũng biết, thế mà lại còn phạm vào, là vì mình còn bụng lo lắng cho vợ con khỏi đói rét. Chứ có biết đâu cái của phi nghĩa, tuy rằng tạm thời được ấm no ở trước mắt thật đấy, nhưng rồi quỷ thần sẽ quở trách, trời đất sẽ chán ghét. Thật là để sự đói rét cho thần mình về sau ! Đại phàm cái của bất nghĩa đều là như thế. Người xưa đã nói : ở trên đời, nếu không có phương-tiện làm việc nghĩa, thì đừng tham lợi làm điều bất nghĩa. Vậy cái việc của ông đây, ta cũng nên nhớ lấy để làm gương cho mình.

    []

    TIẾN – SĨ (Khuyết danh)

    Ông đỗ Tiến-Sĩ, làm quan đến chức Tham-Tụng. Từ trước đến nay, ông vốn thanh-liêm, chính trực. Tuy rằng gia-đình thanh bạch, nhưng ông vẫn coi như không. Ông có bà mẹ già, số lương bổng của ông chỉ đủ cung dưỡng ăn mặc thường thôi. Một hôm, bà cụ ở quê đến thăm, lúc ấy ông đương ở trong triều. Bà cụ coi hết đằng trước, đằng sau trong nhà, chỗ nào cũng thấy trống rỗng. Duy thấy ở công-đường, có một cái trương nát trong có 5 quan tiền. Ông ở trong triều, được tin mẹ đến chơi, liền cáo ra về. Khi về đến nhà, bà cụ bảo ông rằng : “ Trước kia, mẹ khó nhọc nuôi con học hành, mong con thành đạt, để nương tựa lúc tuổi


    già. Nay con làm quan đến chức Tham-Tụng, có danh vọng ở triều mà không có chút bổng lộc gì, thì mẹ già còn trông cậy vào đâu ?” Ông cười và thưa rằng : “Thường ngày mẹ dạy con học hành để mong chiếm được khoa danh, chứ chưa bao giờ dạy con đi kiếm lợi. Nay mẹ lại muốn sai con cầu lợi, thì có khó gì ? rồi đây mẹ sẽ thấy.”

    Bấy giờ các trấn phía Bắc làng Tây-Mỗ có người, cha con kế tiếp giầu có, vàng bạc đầy nhà ông đã biết. Sáng hôm sau, ông vào Triều, giả bộ nói bắn tin ở ngoài cổng rằng : “Tôi không hiểu tại sao các phiên thần vì công lao gì mà được cha truyền con nối như thế, ta phải tâu lên Hoàng-Đế, xin điều chỉnh việc đó”. Thời đó ông được chúa yêu mến tin cậy; nói sao nghe vậy. Ông đe dọa các phiên thần, thực ra, ông chẳng có tâu trình gì cả.

    Khi tan triều, ông về nhà, đã thấy các phiên thần đang khuân các hòm bạc đi vào lối cửa sau rộn ràng tấp nập. Ông liền nói với bà cụ rằng : Nay mẹ dạy con cầu lợi, con chỉ nói một một tiếng là bạc đã trắng xóa mặt đất ? Xem vậy thì cầu lợi, có khó gì đâu”. Bà cụ bằng lòng lắm.

    Rồi ông báo với các Phiên-thần rằng : số bạc của các bác, xấu tốt không đều, lẫn lộn khó phần biệt được. Các bác nên đem về, của ai đề tên người ấy vào, nhiên hậu tôi mới nhận. Các Phiên-thần vâng mệnh. Ai nấy đề tên vào, rồi lại đem nộp. Ông xếp cả vào một chỗ, chẳng thèm tiêu dùng tới mảy may.

    Bà cụ ở lại chơi hơn một tháng, rồi về quê. Ông lĩnh số tiền lương trong kho được vài trăm quan, đưa tiễn mẹ.

    Chúa vốn biết ông là người thanh, cần, kiệm, ước, nên vẫn thường cấp đỡ cho ông luôn.

    Sau khi bà cụ về quê, ông đem số bạc của các phiên-thần đưa


    trước, của ai trả lại người nấy.

    Ôi ! ông làm quan đến chức Tể-tướng, mà vẫn cam chịu cái cảnh nghèo nàn, thủ tiết được như thế, thực mới đáng phục là bậc sư-biểu của bá quan. Nghe thấy tác phong của ông, những con người gian ngoan cũng phải trở nên liêm khiết được phần nào. Đức Khổng-Tử nói : “Người quân-tử cố giữ trong lúc khôn quẫn. Cam chịu, chứ không dám làm xằng, còn kẻ tiểu-nhân, gặp phải cùng khốn, thì làm chuyện bậy bạ ngay.

    Quân–tử cố cùng, tiểu-nhân cùng tư lạm hĩ.

    [] [] []

    Đành rằng : người quân-tử cũng tiếc của thực, nhưng chỉ giữ theo lẽ phải, không vì lợi mà động tâm. Tức như ông Tiến-Sĩ trên đây, lưu lại cái bổng lộc không dùng hết, để trả cho Triều-đình, để phúc đức dồi dào lại cho con cháu về sau.

    []

    TIẾN – SĨ

    Ông đỗ Tiến-Sĩ, tính người chính trực, thường làm trái ý nhà vua, nên phải thải hồi, về ở nhà riêng. Hoàng-Thượng phái một viên Sứ-thần đến thu hồi các giấy tờ ân-điển và sắc Tiến-Sĩ xuất thân của ông. Ông nói : phàm các ân-điển của Thánh-Thượng đã ban cho tôi, nếu muốn thu hồi thì được. Còn như Tiến-Sĩ xuất thân, là do học lực của tôi làm ra, không phải của Thánh-Thượng ban cho, thì xin miễn thu hồi. Ông không chịu giao nộp, Sứ-thần về tâu, nhà vua cũng thôi. Thực ra Tiến-Sĩ xuất thân; la do nhà vua mở khoa thi tuyển-


    dụng học trò, chả là ẩn-điển của nhà vua là gì? Chẳng qua Thánh-Thượng độ lượng khoan hồng, để bảo tồn danh dự cho ông đó thôi.[]

    TIẾN - SĨ TOẠI

    Trước kia, Lê-triều Hoàng-đế bị Trịnh-Vương bức bách, nhiều lần toan cướp ngôi, nhưng chỉ sợ có ông là người trung-nghĩa, mà còn do dự không dám. Một hôm bá quan đã sửa soạn loan giá, và hẹn ngày mai lên điện bức bách hoàng-gia. Các triều thần không ai dám can. Riêng ông bước ra tâu rằng : “vương-gia muốn như thế, nhưng thiên-hạ không bằng lòng”. Trịnh-vương nổi giận nói : “ Thiên-hạ người nào không bằng lòng?” Ông nói : “Thiên-hạ là tôi”. Trịnh-Vương sai giam lại, và cho biết, bao giờ xong việc lên ngôi sẽ xử quyết.

    Đêm hôm ấy, bầu trời sáng sủa, trăng sao vằng vặc, tự nhiên có một đám mây đen, một tiếng sét đánh tan tành tất cả xe giá ở trong phủ. Trịnh-Vương sợ hãi, liền tha ông ra và ý định đó cũng thôi. Mũ áo triều trên điện vua; dưới phủ chúa, đều chế theo kiểu riêng. Một hôm, bá quan đương triều kiến ở trên điện vua, Trịnh-Vương ra lệnh bãi triều, rồi cứ mặc nguyên triều-phục ở điện vua về ngủ. Vì muốn mượn cớ mặc triều-phục ở điện vào chầu phủ chúa. Làm bỡn hóa thực, để thành mưu kế cướp ngôi. Bấy giờ có ông Tiến-Sĩ là Tào-Quốc-Sư bảo với Trịnh Vương rằng : “Nếu vương-gia muốn xem kiểu mẫu áo triều; thì bá quan cởi áo triều gói vào đưa cho Vương-gia coi và chỉ lấy mũ áo vẫn triều phủ khi trước mà vào phủ chúa. Viên quan phụng mệnh về tâu, Chúa biết kế đó không thực hành được, liền thôi. Than ôi; Những người khí mạnh như muôn quân, lại thường phải theo nghi lễ. Những kẻ tài sức hơn đời, còn phải nghe lời nói phải; Kìa như họ Trịnh lấn hiếp, Lê-Hoàng, chỉ như giải mũ thừa, sở dĩ không thoải lòng ham muốn có phải là lực không đủ đâu. Thực là vì danh phận vua tôi, mà không dám phạm, lòng người không thể uy hiếp được,


    tuy rằng gần kề long-đỉnh, mà không dám chạm đến. Ví bằng các đình-thần ai cũng im hơi nín tiếng, thì lên ngôi vua có khó gì. Nhờ có hai ông chẹn họng, làm cho muốn nuốt cũng không trôi. Những lời bất bình của thiên hạ tức cũng như Di,Tề, nắm cương ngựa lại để can; lời đề nghị cởi áo gói lại, tức cũng như việc đức Phu-Tử tiếc giải mũ. Nhà Lê sắp mất, mà còn được dai dẳng mãi, cũng là do hai ông làm rường cột cho quốc gia. Khoa mục kén được người thật làm vẻ vang cho nước; chống một cây giữa lúc tòa nhà lớn sắp đổ; chôn vững cột đá, ở giữa dòng nước cuồn cuộn chảy. Tấm gương của hai ông muôn đời chói lọi.

    []

    THIỀU – QUÍ – LINH

    Người làng Doãn-Xá, huyện Đông-Sơn, năm 27 tuổi đỗ Hoàng-Giáp, khoa Ất-Sửu (niên-hiệu Đoan-Khánh, Triều vua Uy-Mục-Đế, nhà Tiền-Lê) phụng mạng đi sứ Trung-quốc, khi ông trở về, Ngụy-Mạc đã chiếm đoạt ngôi nhà Lê rồi, ông chửi mắng thậm tệ, ra về đến cầu Long-Nhĩ, đâm đầu xuống sông chết.

    Khẳng khái biết bao lời chửi đó, cái chết đó. Chửi là phải, chết là đáng lắm. Nghĩa lớn vua tôi, muôn đời còn mãi; tấm thân tiết nghĩa gương đáng ngàn thu; nếu không có con người đó, thì ta biết theo cùng ai. Hỡi người có quyền quốc-gia, khi viếng thăm cầu Long-Nhĩ, nên nêu cao tấm gương này. Những bậc tấn-thân, nên coi đó làm một tấm gương sáng của ngàn thu vậy.

    []

    LÊ – TUẤN – MẬU

    Người làng Xuân-Phú, huyện Yên-Phong, đỗ Hoàng-Giáp khoa


    Canh-Tuất, niên hiệu Hồng-Đức. Khi Ngụy-Mạc cướp ngôi, ông miễn cưỡng vào chầu, và dấu một hòn đá trong áo để ném kẻ thù, nhưng không trúng, ông liền tự sát, sau được phong là phúc-thần.

    Viên đá này là rường cột của trời đất đó ? Phải chăng là phiên đá ở núi Thủ-Dương ? Sau khi nhà Lê Trung-Hưng, tiếc rằng không có ai tìm được viên đá đó, đem bày trong triều-đường, để biểu dương cái tinh thần của một người bày tôi trung nghĩa. Thực là một cái chết oanh liệt oai hùng, tiếng thơm còn muôn thuở, cùng với giang sơn vậy.

    []

    VÕ DUỆ

    Người làng Trình-Xá, huyện Sơn-Vi, thuộc tỉnh Sơn-Tây, năm 23 tuổi, đỗ Trạng-Nguyên, khoa Canh-tuất, niên-hiệu Hồng-Đức. Khi Ngụy-Mạc tiếm ngôi, ông theo xe loan của vua Quang-Thiệu Hoàng-Đế chạy về đến Thanh-Hóa, ông uống thuốc độc chết. Sau nhà Lê-Trung-Hưng, ông được phong là phúc-thần, khói hương thờ phụng, mãi đến ngày nay.

    Người ta ai là không chết. Ông chết một cách trung quân ái quốc, thì dù có chết đi, cũng vẫn như còn sống. Nắm xương có thể vùi lấp được, chứ cái danh của ông thì không thể chôn vùi được; Nắm xương kia có thể mục nát, chứ cái danh của ông thì không bao giờ mục nát được. Ông thực không thẹn là một người trong làng khoa mục.

    Trước kia, ông tên là Nghĩa-Chi. Vua Thánh-Tôn thấy ông là người thông minh, liền đổi tên ông là Duệ, và Vua thường nói : “Ngày sau quốc gia có việc, tất người này phải đảm đang”.

Share This Page