004. Phần 004 - hhongxuan (done)

14/7/15
004. Phần 004 - hhongxuan (done)
  • Gặp “con cáo già” thuộc địa


    “Hồi đó Bác trọ nhờ nhà luật sư Phan Văn Trường ở Pa-ri. Buổi sáng thì đi làm nghề tô ảnh phóng đại để lấy tiền ăn. Buổi chiều thì hoạt động cách mạng. Chính phủ Pháp cho hai tên mật thám đêm ngày theo dõi Bác.

    Chính phủ Pháp lúc đó do Poanh-ca-rê cầm đầu. Y là một người cực kỳ phản động. Chính y đã chủ trương đánh cách mạng Nga. Khi quân sự đã thất bại, y chủ trương tẩy chay kinh tế Nga. Trong một cuộc tổng tuyển cử hạ nghị viện Pháp, y đã cho dán khắp cả nước bức vẽ tuyên truyền chống cộng, dưới nhan đề là “Bôn-sơ-vích hai hàm răng ngậm dao”. Trong bức vẽ thì phía sau là những ngôi nhà đang cháy ngùn ngụt ; phía trước là một người “Bôn-sơ-vích”, mặt mũi rất dữ tợn, miệng ngậm một cái dao đẫm máu, tay xách cái đầu của một người đàn bà… Vài năm sau, chính Poanh-ca-rê đã chủ trương chiếm đóng khu hầm mỏ Rua của nước Đức.

    Đảng cộng sản Pháp đập lại Poanh-ca-rê một vố cũng khá nặng. Số là Poanh-ca-rê trong khi đến thăm một nghĩa địa có hàng nghìn mộ lính Pháp, thì Poanh-ca-rê nhăn răng cười. Đảng Pháp lấy được bức ảnh đó, cho in ra hàng triệu tấm, dưới nhan đề “Poincarré qui rit” (nghĩa là Poanh-ca-rê nó cười) và bán khắp nước Pháp. Bức ảnh đó đã gây nên một phong trào sôi nổi chống Poanh-ca-rê.

    Một buổi trưa đi làm về, bà già giữ nhà đưa cho Bác một bức thư. Quái! Xưa nay Bác chưa hề nhận thư gửi đến địa chỉ này. Vì đề phòng mật thám, thừ từ anh em cho tin tức hoặc bàn công việc đều gửi đến các nhà bạn quen của Bác. Mở thư ra xem, thì ra của quan thượng tư thuộc địa mời Bác đến gặp. Cách vài hôm sau, Bác đi gặp y.

    Trong phòng khách của bộ thuộc địa, một bầy người Pháp “tai to mặt lớn” đang lô nhô chờ đến phiên mình được “quan thượng thư” gọi vào. Nhưng Bác không phải chờ, vừa đến thì liền có ông già mang xiềng bằng bạc (người truyền đạt ở các cơ quan cấp cao) mời vào ngay.

    Một gian phòng rộng rãi và lộng lẫy, trưng bầy đầy những đồ xưa vật quý mang từ thuộc địa về. Quan thượng thư, đầu hói như quả bưởi, một mắt mang kính trắng, “uy phong lẫm lẫm” ngồi chẵm chọe bên một cái bàn rất rộng và chất đầy giấy tờ. Thấy Bác vào, ông ta đứng dậy bắt tay và mời ngồi một cách lễ độ giả dối.

    Hai người ngồi đối mặt nhau.

    Một người thì đại biểu chế độ đế quốc thực dân Pháp đang áp bức bóc lột Việt Nam.

    Một người là tượng trưng của nhân dân Việt Nam đang bị Pháp đô hộ một cách tàn nhẫn.

    Y thì nắm trong tay cả quyền bính kinh tế, chính trị, quân sự, cảnh sát, tòa án, trại giam… ở các thuộc địa Pháp.

    Bác là một trong 50 triệu người thuộc địa bị bọn thực dân Pháp bắt làm nô lệ.

    Y có quyền bắt giải Bác về Việt Nam, gán cho tội tuyên truyền cộng sản, rồi đưa lên máy chém (Triều đình Việt Nam đã vâng lệnh Pháp mà xử án Bác vắng mặt).

    Bác thì chỉ dựa vào lực lượng của chính nghĩa và cảm tình của giai cấp công nhân Pháp, nhất là công nhân Pa-ri.

    Hai giai cấp, hai chế độ ngồi đối mặt nhau. Thế nhưng Bác cảm thấy ông ta sợ Bác, vì sợ cách mạng; và đoán biết rằng ông ta cũng cảm thấy Bác không sợ ông ta, vì cách mạng không sợ cái chế độ do ông ta đại biểu.

    Thượng thư thuộc địa mắt thì nhìn Bác chằm chằm, tay thì vẽ trên bàn, miệng thì nói như phun ra lửa. Y nói đại ý như sau:

    “Hiện nay có những kẻ ngông cuồng hoạt động ở Pháp. Họ liên lạc với bọn Bôn-sơ-vích ở Nga. Từ Nga họ liên lạc với Quảng Đông. Và từ Quảng Đông họ liên lạc với Việt Nam. Chính phủ Pháp biết rõ hết những dây liên lạc đó ! Họ âm mưu phá rối trật tự trị an ở Đông Dương và chống đối lại nhà nước bảo hộ. Nước mẹ Đại Pháp rất khoan hồng, nhưng sẽ không tha thứ những kẻ gây rối loạn… Nước mẹ Đại Pháp đủ sức để bẻ gãy họ, như thế này…”

    Nói đến đó, y vẻ mặt hầm hầm, hai tai nắm lại và làm như đang bẻ những vật gì rất cứng rắn – những người cách mạng Việt Nam…

    Bác cứ giữ thái độ ung dung, cứ mỉm cười, để mặc y nói.

    Cái mỉm cười trước những lời đe dọa làm cho thượng thư thuộc địa càng bực dọc, càng sợ. Khi ông ta tạm dứt lời. Bác hỏi: “Ngài nói xong rồi chứ?”

    Là một nhà chính trị cáo già, ông ta đổi giọng và nói một cách ôn tồn:

    “Tôi rất thích những thanh niên có chí khí như ông. Có chí khí là tốt, nhưng còn phải “thức thời” mới ngoan. Ồ này! Khi nào ông có cần gì tôi thì tôi luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ ông. Từ nay, chúng ta quen biết nhau, ông không nên khách sáo…”

    Bác nói: “Cảm ơn ngài! Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập… Kính ngài ở lại, tôi xin phép về”.

    Trên đường về, ngồi trong xe điện dưới hầm (mê-tơ-rô) Bác cười trong bụng: “Con cáo già thuộc địa đã đoán trúng ý định của mình!”[1]


    Đến Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đầu tiên

    “Cách mạng tháng Mười vĩ đại có một sức lôi cuốn kỳ diệu vô cùng. Từ khi nghe tin cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công. Bác liền có ý định đi Nga, mặc dù lúc đó chưa hiểu hết ý nghĩa cực kỳ to lớn của cuộc cách mạng ấy.

    Hồi đó, đi Nga là một việc rất khó khăn và nguy hiểm. Sau khi Hồng quân đã đánh lui bộ độ của 14 nước đế quốc và dẹp xong bọn phản động trong nước, thì Nga lại bị các nước đế quốc bao vây chặt chẽ. Có những người như nhà thơ Pháp là đồng chí Ray-mông Lơ-phe-vơ-rơ cùng mấy anh em công nhân đã mạo hiểm bí mật đi Nga, lúc về đã bị đắm thuyền chết ở biển Ban Tích. Nhiều người khác đi gần đến Nga, thì bị bọn phản động quốc tế bắt và thủ tiêu…

    Nguy hiểm thì không sợ. Nhưng làm thế nào để giải quyết các khó khăn. Trước hết, làm thế nào để vượt được đoạn đường từ Pa-ri đến biên giới cho khỏi bị mật thám Pháp bắt lại? Làm thế nào để xuyên qua nước Đức và nước Ba Lan?...

    Ngày thường gần gũi anh em công nhân, Bác biết họ rất khảng khái. Vài ví dụ:

    - Trong một cuộc mít-tinh ở Pa-ri, nhằm quyên góp giúp Nga đang bị đói kém và bệnh hoạn, người diễn thuyết là bà Sơ-vơ-rin, đồng chí Ca-sanh và đồng chí V. Cu-tuy-ri-ê. Khi nghe nói đến lạc quyên, thì trăm người như một, trong túi có bao nhiêu trút ra quyên hết, không ai đếm xem mình quyên ít hay là nhiều. Đó là một biểu hiện đồng tình vô sản quốc tế rất cao quý!

    - Một đồng chí thợ già tên là N. làm ở nhà máy điện thường cùng Bác đi dự cuộc mít-tinh. Một hôm khi cùng nhau từ cuộc hội họp đi về, đồng chí N. thủ thỉ nói với Bác: “Chú này! Mình không vợ không con, bao giờ mình “nhắm mắt”, mình để số tiền đó giúp chú làm cách mạng…”

    Nay muốn đi Nga, thì chỉ có một cách là nhờ anh em công nhân giúp. Ý định như vậy rồi, Bác tìm làm quen với anh em công nhân xe lửa. Sau nhiều ngày tìm kiếm, thăm dò, Bác đến gặp đồng chí X. làm ở đầu máy xe lửa đi Pa-ri - Bá-linh. Nghe nói Bác muốn đi Nga, đồng chí X. vui vẻ nhận giúp ngay. Đồng chí X. nói : “Được, chúng tôi sẽ giấu đồng chí ở một chỗ trên xe, bố mật thám cũng chẳng tìm ra được! Nhưng xe chúng tôi chỉ đi đến Bá-linh thôi…” Nheo mắt lại nghĩ ngợi một lát, rồi đồng chí X. nói tiếp: “Không sao! Tôi sẽ bàn với anh em công nhân xe lửa Đức giúp cho đồng chí…”

    Thế là bước đầu đã thành công. Nhưng khó khăn vẫn còn không ít. Làm thế nào để bỏ rơi bọn mật thám ngày đêm theo mình như bóng theo hình ? Anh em công nhân Đức có thể giúp, nhưng công nhân Ba Lan sẽ sẵn sàng giúp mình chăng ? Và ai sẽ phụ trách tờ báo Pa-ri-a ? Các đồng chí Á Phi người thì giúp bài, kẻ thì giúp tiền làm báo, nhưng cần có người không có gia đình bận bịu như mình để phụ trách mọi việc như đi góp tiền, đi giục bài, bí mật gửi báo đến các thuộc địa, bán báo để tuyên truyền ngay ở Pa-ri… Thật là “ngổn ngang trăm mối bên lòng!”

    Quanh quẩn mấy tháng, kế hoạch chưa xong, thì một hôm được Trung ương Đảng Cộng sản Pháp gọi đến và báo:”Đồng chí sẽ được đi dự Đại hội lần thứ năm của Quốc tế cộng sản, với danh nghĩa là đại biểu dân tộc thuộc địa”.

    Tin mừng đó làm cho Bác sung sướng ngất trời!

    Bọn mật thám nắm vững “quy luật” hoạt động của Bác. Sáng đi làm công. Chiều đến thư viện. Tối dự mít-tinh. Khuya về nhà ngủ…

    Bác cũng nắm vững “quy luật” hoạt động của chúng: Chúng chỉ theo Bác từ nhà trọ đến chỗ làm việc, đến chỗ xem bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, đến nơi hội họp. Sau đó, tin chắc rằng Bác chẳng đi đâu mất, chúng về nhà chúng để vui thú gia đình.

    Hôm đó, hai tay đút túi. Bác ung dung lên xe “buýt” đi tham gia một cuộc mít-tinh ở ngoại ô Pa-ri. Độ nửa giờ sau, Bác lặng lẽ đi quanh về ga xe lửa. Một đồng chí tin cẩn đã chờ sẵn ở đó, trao cho Bác một vé xe lửa hạng nhất (vì hạng nhất chỉ có những khách sang trọng, ít bị tình nghi) và một cái va-ly con… Bác cố trấn tĩnh, nhưng đến khi xe lửa qua khỏi biên giới Pháp – Đức, trong ngực mới hết phập phồng.

    Chắc chắn bọn mật thám phụ trách gác Bác sẽ được quan thượng thư thuộc địa “thưởng” cho một mẻ nên thân! Mà chính quan thượng thư cũng tức mình đến “ung thư phát bối”.

    Khi đi qua địa phận Đức bị quân Pháp chiếm đóng thì thấy lại những cảnh tượng thực dân. Đối với người Đức, bọn quân phiệt Pháp ở đây cũng vênh váo lên mặt, làm mưa làm gió, y như bọn Pháp ở nước ta…Có mấy người thương binh Pháp lên nhầm toa xe hạng nhất, liền bị một tên quan sáu Pháp khua ba toong đuổi xuống xe…

    Tuy sau chiến tranh đã sáu năm, ở Bá-linh vẫn đói kém dữ (có lẽ ở các nơi khác cũng vậy). Người nào cũng có vẻ xanh xao vàng vọt ! Nạn lạm phát giấy bạc thật là kinh khủng, sớm một giá khác, chiều một giá khác. Đưa giấy bạc mua một tờ báo thì số giấy bạc chập nhau lại, rộng hơn tờ báo! Cả gia tài Bác chỉ vẻn vẹn non 1000 phơ-răng, vậy mà tính ra tiền Đức, Bác đã trở thành người giàu bạc triệu!

    Bác đến Nga vào mùa đông. Mọi vật đều bị tuyết phủ trắng xóa như một thế giới bằng bạc, có ngày rét đến 42 độ dưới 0.

    Đại hội Quốc tế cộng sản hoãn chưa khai, vì Lê-nin còn ốm nặng.

    Hôm 21 tháng giêng 1924, một cơn gió thảm mưa sầu đã chấn động toàn thể nhân dân Nga, cũng như nhân dân lao động và dân tộc bị áp bức cả thế giới: Lê-nin – người thầy, người bạn, người đồng chí yêu kính của chúng ta mất rồi!

    Cuối tháng 8-1918, trong lúc đến nói chuyện ở một cuộc mít-tinh của công nhân nhà máy tại thành phố Pê-téc-bua (nay là Lê-nin Gờ-rát) Lê-nin bị một tên phản động bắn bị thương nặng. Từ đó về sau Lê-nin thường bị yếu, nhưng vẫn cố gắng làm việc đến hơi thở cuối cùng.

    Nghe tin buồn đó, nhiều người òa lên khóc, Bác cũng khóc. Kể sao cho xiết tình thương tiếc không bờ bến của những người lao động đối với người thầy cách mạng vĩ đại ấy! Biến thương xót thành hành động; Lê-nin mất nhưng ngọn cờ chủ nghĩa Lê-nin có đảng Bôn-sơ-vích anh dũng nắm vững và có hàng triệu người cộng sản khắp thế giới giương cao. Để tỏ tình đoàn kết chặt chẽ và nhiệt liệu ủng hộ Đảng của Lê-nin ; hơn 24 vạn công nhân Nga lúc đó xin gia nhập Đảng.”[2]

    *
    * *​

    “…Mát-xcơ-va tháng giêng năm 1924. Giữa mùa đông nước Nga, khí trời lạnh dưới 40 độ. Lê-nin vừa mất được mấy hôm.

    Sáng hôm ấy tại phòng chúng tôi, phòng số 8 khách sạn LUX có tiếng gõ cửa nhẹ. Một thanh niên rất gầy gò, đầu đội mũ cát-két, mình mặc chiếc áo mỏng manh mùa thu, tay xách một va-li bé tí, bước vào và nói:

    - Tôi là Nguyễn Ái Quốc, người Việt Nam, vừa ở Pa-ri đến. Tôi đến thì Lê-nin vừa mất – Nói đến đây người thanh niên ngừng lại, lau nước mắt. – Bây giờ tôi muốn đến viếng linh cữu Lê-nin…

    - Đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đồng chí mặc mỏng manh như thế không chịu được rét Nga đâu. Đồng chí hãy chờ đến ngày mai, khi có quần áo ấm hãy đi…

    Ái Quốc thở dài, không trả lời ngồi uống nước chè với chúng tôi, rồi trở về phòng mình. Chúng tôi cho rằng :”Thế là đồng chí ấy chịu nghe chúng mình rồi”.

    Ngoài trời tuyết tạm ngừng rơi, lạnh như cắt ruột. Trước nhà Công đoàn nơi để linh cữu Lê-nin, dòng người im lặng và dài vô tận đứng chờ, hầu như không nhúc nhích được bước nào. Rét quá! Ngoài đường có từng đống lửa để nhân dân sưởi đỡ rét. Tiếng máy truyền thanh buồn bã nói về Lê-nin, vị lãnh tụ vừa quá cố… Tiết trời hôm nay hình như cũng chia buồn với lòng người.

    Khoảng 10 giờ đêm, có tiếng gõ cửa nhẹ. Tôi bước ra mở cửa, trước mặt tôi là đồng chí Nguyễn Ái Quốc, vẫn trong bộ quần áo mỏng manh, đầu đội cát-két. Mặt đồng chí xanh xám, ngón tay, mũi và tai thâm tím vì giá rét.

    - Tôi vừa đi viếng Lê-nin về - Ái Quốc vừa nói vừa run cầm cập – Tôi không thể chờ đến ngày mai để viếng Người bạn vĩ đại nhất của nhân dân các nước thuộc địa… Đồng chí có nước chè uống không?...

    “Tôi luôn luôn nhớ mãi hình ảnh ấy, biểu hiện cho ý chí của con người luôn luôn kiên quyết đấu tranh chống thực dân, vì tự do và hạnh phúc của dân tộc. Sau đó chúng tôi trở thành bạn thân, cũng làm việc với nhau nhiều. Cái gì tiêu biểu nhất ở con người Hồ Chí Minh? Là tính khiên tốn lạ thường và ý chí phấn đấu và học hỏi vô cùng mạnh mẽ… Trong câu chuyện đồng chí Hồ thường nói:

    “Chỗ của tôi là ở Việt Nam, nơi mà các đồng chí và đồng bào tôi đang chiến đấu…”

    Chúng tôi thường cùng nhau nhắc lại những chuyện về nước Pháp, về Pa-ri… Chúng tôi thường nhắc đến cái “chợ trời” ở Pa-ri, tiếng Pháp gọi là “cái chợ rận”, đó là nơi mà những người cùng khổ ở Pa-ri mang bán từ tấm áo rách, đến cái xe đạp cũ, cái bàn, cái ghế gãy chân. Ở đây cũng là nơi mà hàng nghìn người vì đấu tranh cho tự do, cơm áo của nhân dân mà phải trốn tránh, những người mà pháp luật - “chính quốc” cũng như bọn quan lại, địa chủ trong nước họ đang tìm bắt, họ đang sống trong cảnh cực kỳ nghèo nàn, không thể tả được. Nhưng họ vẫn quyết tâm phấn đấu không ngừng. Đồng chí Hồ Chính Minh ngay từ đầu đã hiểu cách mạng tháng Mười, hiểu Lê-nin và ảnh hưởng to lớn của cách mạng ấy, của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đối với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Ở Pháp, tôi được quen khá nhiều người Đông Dương hoạt động chính trị, nhưng hình ảnh đồng chí Nguyễn Ái Quốc luôn luôn nổi bật bởi sự khiêm tốn, ham học và phấn đấu.

    Theo tôi, đồng chí Hồ Chí Minh là người đã giúp cho phong trào vô sản thế giới và phong trào giải phóng dân tộc nhiều tài liệu đầy đủ nhất về tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương và phong trào đấu tranh của nhân dân Đông Dương[3].

    *
    * *​


    “Mát-xcơ-va tháng ba…

    Con tàu băng qua vùng nông thôn phủ tuyết. Tuyết trắng muốt trên cây, lấp lánh dưới ánh mặt trời. Thỉnh thoảng nhìn một ngôi nhà, tuyết lấp gần kín một xe ngựa kéo.

    Tôi chỉ có một anh bạn cùng ngồi tàu. Anh đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào say sưa. Anh chẳng có vẻ gì là người Nga. Anh bất ngờ hỏi tôi :

    - Xpít-ki I-ét (tiếng Nga – anh có diêm không ?)

    Anh dùng tiếng Nga nói chuyện với tôi, một thứ tiếng Nga còn…thô sơ.

    Tôi trả lời “có” bằng tiếng Pháp. Người bạn cùng đi của tôi liền thôi nói tiếng Nga và nói tiếng Pháp rất thạo. Tôi hỏi anh ở đâu đến.

    - Tôi là người Việt Nam – bị Pháp cai trị, học sinh trường đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va. Tôi tên là Nguyễn Ái Quốc.

    Tôi tự giới thiệu và tôi nảy ý muốn phỏng vấn anh, một cuộc phỏng vấn không định trước.

    Tôi ngỏ ý với anh. Anh nhìn tôi, cười và gật đầu. Anh mảnh khảnh, da rám nắng, mắt đen lánh, tóc mượt.

    - Anh kể cho nghe về đời học sinh được không?

    - Được.

    Anh bắt đầu kể và cho tôi biết anh là cộng sản. Trước khi ghi tên học trường đại học Phương Đông, hai năm trước đây anh làm đủ mọi nghề tại Pa-ri: Bán diêm, bán báo, đánh giầy, làm các nghề linh tinh.

    - Trong nước, tôi lao động ở nông thôn, tôi rời Tổ quốc tôi cách đây ba năm [4].

    - Trước đây tôi có đọc một tờ báo phát hành sang nước tôi, một vài tờ có tính chống đối. Ở Việt Nam, có những người lính lê dương do Poăng-ca-rê (Poincaré)[5] gửi sang để cải huấn. Những người lính lê dương này đọc đủ thứ. Họ là những kẻ chống đối về bản chất. Họ cho tôi đọc các báo Pháp. Vì thế tôi nảy ra ý muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao và tôi đã tới Pa-ri. Khi trường đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va mở, tôi bèn xin học.

    - Trường có đông học sinh không?

    - Tất cả có 1025 người học thuộc 62 xứ thuộc địa trong đó có 150 gái, 895 vào đảng cộng sản. Trong số 1025 người học 547 là nông dân, khoảng 300 là công nhân, còn là trí thức tư sản.

    - Anh nghĩ thế nào về sáng kiến Bôn-sơ-vích này?

    - Tôi rất phấn khởi đối với sáng kiến này. Tôi đã đọc nhiều tuyên bố ủng hộ và đoàn kết của những người chống đối nhưng không người nào đem lại cho chúng tôi một sự giúp đỡ thiết thực để thoát khỏi chế độ nô lệ mà những “người đi gieo rắc văn minh” đang giam hãm chúng tôi. Tôi cho rằng sáng kiến này sẽ đem lại những kết quả rất tốt. Nhiều người đã hiểu tình trạng kém cỏi của chúng tôi nhưng chưa có ai, trừ những người làm cách mạng Nga, chỉ cho chúng tôi con đường đi đến giải phóng. Ở Ba-cu, năm 1921, lần đầu tiên trong lịch sự của giai cấp vô sản, đã họp một đại hội của các dân tộc phương Đông và chính Lê-nin, đồng chí I-lít-sơ[6] thân mến của chúng tôi đã nêu lên những đề án và hướng dẫn chúng tôi đi những bước đầu đề làm cho chúng tôi có khả năng cùng tiến bước với giai cấp vô sản thế giới.

    Đồng chí Việt Nam nói rất hào hứng, nhanh và thạo tiếng Pháp. Một tay đồng chí phải băng.

    - Tay anh làm sao thế?

    - Không sao, anh trả lời. Tôi mang vòng hoa của học sinh viếng Lê-nin, vì thế hai ngón tay tôi bị tê cóng.

    - Các anh có bao nhiêu giáo sư ? Chương trình học có những môn gì?

    - Chúng tôi có 150 giáo sư dạy các môn: khoa học xã hội, duy vật lịch sử, lịch sử phong trào công nhân, khoa học tự nhiên, lịch sử cách mạng, kinh tế chính trị học v.v… Trường đại học có một phòng chiếu bóng, một thư viện 47.000 cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào. Mỗi dân tộc có một thư viện riêng gồm bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, báo, tạp chí. Nên biết là chúng tôi thuộc 62 dân tộc mà đoàn kết với nhau như anh em ruột thịt. Người học tự viết lấy báo hàng tuần. Chúng tôi có một nhà an dưỡng ở Cơ-ri-mê và hai nhà nghỉ hè, một trong hai nhà đó trước cách mạng là lâu đài của một quận công.

    Anh thanh niên Việt Nam vừa cười vừa nói với tôi: anh hãy hình dung là ở trên đỉnh ngọn tháp của lâu đài, gần con quạ, biểu tượng của đế chế, phấp phới là cờ đỏ và ở trong phòng khách thay vào ngài quận công, là những người nông dân Triều Tiên, Ác-mê-ni nô đùa với nhau.

    - Ai nấu cho các anh ăn?

    Tôi hỏi người đồng chí và người bạn cùng chuyến tàu. Anh vẫn còn cười vì vẫn còn nghĩ đến những người Triều Tiên nô đùa trong phòng khách của quận công.

    - Chúng tôi thay phiên nhau làm bếp. Chúng tôi cũng thay phiên nhau làm ở thư viện, ở câu lạc bộ, giặt giũ. Chúng tôi tổ chức thành công xã[7]. “Công xã” họp một tuần một lần để thảo luận chính trị, và tổ chức các buổi biểu diễn nghệ thuật, giải trí. Những sự sai phạm sẽ do một “tòa án” do công xã bầu ra thấy cần thiết, xét xử.

    - Khi học xong, anh dự định làm gì?

    - Dĩ nhiên là tôi sẽ trở về Tổ quốc tôi để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi. Ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm lắm. Chúng tôi chẳng có quyền gì cả, trừ quyền đóng thuế cho “mẫu quốc” Pháp, cho bọn chủ bản xứ. Sự việc nổi bật nhất như thế này: chúng tôi là những người bị đô hộ, như đồng chí biết, chúng tôi là những dân tộc “hạ đẳng”, và vì thế chúng tôi không có quyền ứng cử, bầu cử. Ở nước Nga, ở cái nước của những người dã man – giai cấp tư sản dân chủ gọi các đồng chí Nga như thế - chúng tôi có đầy đủ những quyền như công nhân Nga. Thật vậy, những đại biểu của chúng tôi do Xô-viết của chúng tôi bầu ra theo đúng kỳ hạn, đã cùng hội họp với các đại biểu công, nông, binh. Đó, anh đã thấy rõ sự đối xử khác nhau của chế độ dân chủ tư sản và chế độ dân chủ công nhân đối với chúng tôi!

    Người bạn nói chuyện với tôi ngừng nói. Anh nhìn thẳng trước mặt anh, như để đo khoảng cách giữa hai loại dân chủ, rồi anh tiếp tục:

    - Chúng tôi đã đau khổ nhiều và chúng tôi còn phải đau khổ nữa. Những người “khai hóa” các nước chúng tôi để chúng tôi tự do. Nhưng chúng tôi tiếp tục đi theo con đường Cách mạng tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được. Các đồng chí của tôi làm việc phấn khởi, tin tưởng, nghiêm túc. Nhiều người còn rất trẻ đã có một trình độ Mác-xít ít có thể tưởng tượng là có thể có được vào tuổi đó. Chúng tôi hiểu rõ là chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề, và tương lại của các dân tộc thuộc địa tùy thuộc vào sự tuyên truyền và tinh thần hy sinh của chúng tôi.

    Người đồng chí Việt Nam của tôi, dân thuộc địa của Poăng-ca-rê, nói tiếp:

    - Ở Phương Đông, từ Xy-ri đến Triều Tiên – tôi chỉ nói các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, có một diện tích rộng mênh mông với hơn 1.200 triệu dân. Cả vùng rộng lớn này nằm dưới ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc tư bản chủ nghĩa. Các dân tộc ở đó không bao giờ có thể ngẩng đầu lên được nếu không gắn bó với giai cấp vô sản thế giới. Những nghị quyết của phái xã hội dân chủ tỏ cảm tình dù nồng nhiệt đến đâu cũng không có sức nặng.

    Việc thành lập trường đại học Bôn-sơ-vích đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử các dân tộc thuộc địa ở Phương Đông, và nhà trường đã dạy chúng tôi nguyên lý đấu tranh giai cấp, đã đặt mối liên hệ giữa chúng tôi với các dân tộc phương Tây, trang bị cho chúng tôi – những người nô lệ, khả năng hoạt động chặt chẽ.

    - Khí hậu nước Nga thế nào, có cực lắm không?

    - Có… Tôi chưa quen tuy đã ở hai năm. Nhưng không sao, tôi sẽ khắc phục được.

    Chúng tôi còn nói chuyện với nhau thêm một lúc thì người bạn Việt Nam xuống một ga nhỏ. Anh bắt tay tôi và nói:

    - Tôi đi thăm một công xã nông nghiệp. Thôi chào anh.

    Tôi thấy anh choàng chiếc áo khoác ngoài quấn chăn vào người, bước lên một chiếc xe ba ngựa kéo rồi biến sau quả đồi, như bị biển tuyết bạc óng ánh lấp đi. Con tàu chuyển bánh, băng qua cánh đồng.[8]



    *
    * *​


    “…Nguyễn Ái Quốc cũng là người thường đến xem triển lãm. Người đã có quan hệ với chúng tôi từ trước khi mở triển lãm này. Quê hương của Người là Việt Nam ngày nay. Người biết thông thạo ngôn ngữ của những nước lớn ở Châu Âu, và khi thảo luận Người có cách nói rất sinh động. Người am hiểu những trào lưu nghệ thuật Tây Âu và mỉm cười để lộ rằng ở Pa-ri, Người cũng có vẽ chút ít. Người nói một cách rất tinh tế về những tác phẩm mà người đã xem và trước hết về những nghệ sĩ đã mạnh dạn phơi trần sự thật xã hội và kêu gọi đấu tranh. Người coi nghệ thuật trừu tượng không có tác dụng đối với cuộc đấu tranh giai cấp. Người bàn luận về những vấn đề nghệ thuật của Châu Âu một cách có suy xét đầy đủ, chính xác và thận trọng, và nhấn mạnh rằng mỗi dân tộc cần phải chăm lo đến đặc tính của dân tộc mình trong nghệ thuật. Ngày nay Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh.”[9]


    *
    * *​


    “Cuối chiến tranh thế giới thứ nhất, tôi thấy ở binh công xưởng Rô-an-nơ vùng quê tôi có nhiều người Châu Á mà thời đó người ta quen gọi là “Người An Nam”. Hàng nghìn người Việt Nam đã phải rời quê hương, tổ quốc, bị đầy đi lính hoặc đi làm thợ như thế cho thực dân Pháp. Đấy là lần đầu tiên trong đời tôi có dịp gặp người Việt Nam.

    Năm tôi 19 tuổi, tôi làm bí thư thanh niên cộng sản vùng La Loa. Mùa xuân năm đó, tức năm 1922, có hội nghị Trung ương mở rộng của liên đoàn thanh niên cộng sản Pháp. Tôi được cử đi dự hội nghị đó cùng với các bí thư đoàn thanh niên khác. Hội nghị họp trong hai ngày. Ngày đầu họp Lê-ga-li-te phố Săm-brơ-ê Mơ-dơ nội thành Pa-ri. Sáng ngày thứ hai chuyển ra họp ở phòng thể thao thị xã A-ni-e thuộc ngoại ô Pa-ri. Trong ngày thứ hai, đồng chí điều khiển hội nghị báo tin: “Hôm nay sẽ có một đồng chí thanh niên “An Nam” đến nói chuyện với các đồng chí về những đau khổ và những niềm hy vọng của đất nước đồng chí ấy”.

    Một người thanh niên Châu Á bước vào phòng họp giữa tiếng vỗ tay. Anh làm tôi nhớ lại những người lính thợ Việt Nam mà tôi đã gặp ở binh công xưởng Rô-an-nơ. Anh mặc quần áo kiểu Châu Âu, thắt cà-vạt, giản dị, nhanh nhẹn, thân người hơi gầy, nét mặt tươi cười, thái độ bình tĩnh. Tôi thấy anh ấy giống in hệt ảnh người đại biểu dân tộc Đông Dương đứng nói ở đại hội Tua năm 1920 và sau tôi được biết đây là đồng chí Nguyễn Ái Quốc.

    Đứng trước các đại biểu thanh niên Pháp, đồng chí Nguyễn Ái Quốc nói trong vòng 15 phút. Đồng chí trình bày tình hình Việt Nam dưới ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và lòng tin một ngày kia nhân dân Việt Nam nhất định dành được độc lập, tư do. Rồi đồng chí phân tích mối quan hệ khăng khít giữa cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam và cuộc chiến đấu của nhân dân Pháp chống kẻ thù chung. Cuối cùng đồng chí kêu gọi thanh niên và nhân dân Pháp ủng hộ nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp.

    Nói xong chuyện, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đến bắt tay hỏi thăm một số đại biểu chúng tôi, đứng nói chuyện lâu với Lô-dơ-ray trong Ban lãnh đạo thanh niên cộng sản rồi ra đi.

    Hai năm sau, vào mùa hè năm 1924, tôi lại được gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Lần này không phải gặp đồng chí trong vài phút mà nhiều tuần liền, không phải ở Pa-ri mà ở Mát-xcơ-va. Năm đó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc ở trong đoàn đại biểu Đảng cộng sản Pháp, do Pi-e Xê-man dẫn đầu, đi dự Đại hội Quốc tế cộng sản họp trong điện Krem-lanh. Còn tôi đến Mát-xcơ-va để đi dự Đại hội thanh niên quốc tế cộng sản. Tại đại hội Quốc tế cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã đọc bản tham luận nổi tiếng trong đó đồng chí phê phán một số điểm trong chính bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của Đảng cộng sản Pháp lúc bấy giờ chưa thoát khỏi ý thức hệ thực dân chủ nghĩa. Đồng chí nói thành khẩn và nghiêm khắc với động cơ duy nhất là phát triển hơn nữa tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Pháp – Việt chống kẻ thù chung: đế quốc Pháp. Trong những lúc nói chuyện riêng với chúng tôi, đồng chí luôn đề cập đến vấn đề đó, vì đối với đồng chí, đấy là một vấn đề hết sức quan trọng.

    Tôi lúc đó ở cùng với đồng chí Nguyễn Ái Quốc tại khách sạn “Đại Pa-ri” đường Tvéc-xkai-a, ở Mát-xcơ-va. Sau đại hội Quốc tế cộng sản ít hôm, đồng chí Nguyễn Ái Quốc được mời đến dự Đại hội Thanh niên quốc tế cộng sản của chúng tôi, đầu tiên họp trong điện Krem-lanh, sau họp trong phòng họp của Nhà công đoàn. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc có lên nói chuyện với đại hội và tham gia công việc của các tiểu ban”.[10]



    [1]T. Lan – “Vừa đi đường vừa kể chuyện”, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm 1963.

    [2]T. Lan: “Vừa đi đường vừa kể chuyện”, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm 1963.

    [3]Géc-Ma Nét-Tô – (nguyên Ủy viên chấp hành và Ban Bí thư công hội đỏ quốc tế) “Một buổi sáng mùa xuân 1924” trong tập “Bác Hồ”, Nhà xuất bản Văn học, năm 1960.

    [4]Sự thật, đồng chí Nguyễn Ái Quốc rời tổ quốc 13 năm, tức là năm 1911 (ND)

    [5]Poăng-ca-rê là thủ tướng Pháp thời đó, rất phản động.

    [6]I-lít-sơ là tên nhỏ của Lê-nin. Để tỏ tinh thần theo phong tục châu Âu, người ta gọi tên nhỏ.

    [7]Tiếng Ý viết là communita và commune.

    [8]Ma-ri và Mát-xi-mô Lô-kê, “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc trả lời phỏng vấn báo Đoàn kết (Ý) năm 1924”, Nguyễn Thành Lê dịch theo bản dịch tiếng Pháp.

    [9]Eric Johansson, tạp chí Nghệ thuật tạo hình số 12 – 1965 của nước Cộng hòa dân chủ Đức, “Nhớ lại kỷ niệm cuộc gặp gỡ Hồ Chủ tịch năm 1924, tại Cuộc triển lãm tổng hợp nghệ thuật Đức ở Mát-xcơ-va 1924”.

    [10]Phrăng-xoa Bi-u, “Bác Hồ của chúng tôi”, Hồng Hà ghi, trong tập “Bác Hồ ở Pháp”, Nhà xuất bản Văn học, năm 1970.