0087.0004

Jan 26, 2016
0087.0004
  • {:Bang Tang Du Tu 1:}

    Vè khâm sai
    Năm 1885, sau khi kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm-nghi xuất bôn. Bù nhin Đồng-Khánh được Pháp dựng lên làm chiêu bài chính trị để mua chuộc lòng người. Nhưng chỉ mua được bọn Hoàng-cao-Khải, Nguyễn-hữu-Độ, Lê-Hoan, Nguyễn-Thân, Trần-bá-Lộc v.v… chớ người chân chính hỏi ai mà không hiểu dã tâm bè lũ chúng. Vì thế phong trảo kháng chiến đã nổi lên khắp nơi suốt từ Nam chí Bắc. Trong ấy, các thân hào ở Quảng-Bình, Quảng-Nam, Bình-Định có lập ra nghĩa hội do các ông Trần-văn-Dự, Nguyễn-tự-Như, Trương-đình-Hội, Nguyễn-phạm-Tuân cầm đầu. Triều đình Đồng-Khánh và thực dân Pháp cử tên bán nước Nguyễn-Thân làm khâm-sai đi dẹp, khoa trương thanh thế là tiễu trừ giặc loạn để an phủ nhân dân. Nhưng dấu đầu hở đuôi, bọn chúng đã an phủ thế nào, chúng ta hãy đọc bài vè Khâm sai này đủ rõ những hành-động của chúng. Bài này không biết tác giả là ai, nhưng ở các tỉnh nói trên hiện nay vẫn còn nhiều người nhớ. Như vậy đủ biết tác dụng nó thế nào.


    Bà con cô bác, lẳng lặng mà nghe!

    Tôi nói cái vè, cái vè sai đạo,

    Danh vi trấp trảo, vu dĩ an dân.

    Khâm-sai đại-thần, kéo vô Đà-Nẵng.

    Tướng quân đều sẵn, tán lý tán tương;

    Chú Bang chú Thương, Chú Đề chú Lãnh([1])

    Quân hùng tướng mạnh, các đội các cơ.

    Dóng trống mở cờ, kéo vô tỉnh cũ.

    Phân quân vừa đủ, phát vãng Thượng-du.

    Thác-cá, Rập cu, đôi đường tiến tiễu.

    Nhất thời phương liệu, văn miếu đồn binh.

    Ai thấy cũng kinh, gọi Khâm sai giỏi.

    Kêu dân tói hỏi. Rằng Nghĩa đã tàn.

    Hạnh hoặc tương an, thị vi thịnh sự.

    Sau lên Phong-sử, Nghĩa dũng tứ vi.

    May chẳng hề chi, nhờ ba chú Pháp.

    Thâu qua Yên Giáp, trở lại La-Thành

    Từ ấy thất kinh, vừa làm vừa sợ.

    Tướng chi, tướng dở, vị luyện quân tinh.

    Chẳng có Tây-binh, e không khỏi chết.

    Chước chi cũng hết, năm ngoái năm ni,

    Làm chẳng ra chi, lại thêm ăn bậy.

    Lũ quân đi lấy, các tướng về chia.

    Thôi đã tràn đia, cái chi chẳng xách.

    Cái quần đã rách, cái áo tả tơ.

    Cũng dành cũng quơ, huống chi cái khá;

    Kẻ thì đào mả, thằng thì phá nhà.

    Những chó những gà, những heo những vịt

    Bắt mà ăn thịt, lại bán lấy tiền

    Đem về Thừa-Thiên, Nghĩa, Bình, Quảng-Trị,

    Thậm vi khả bỉ([2]), quân lệnh Khâm sai!

    Thiên hạ ai ai, chớ tin mà mắc.

    Thác từ ([3]) đánh giặc, hại ngã lê dân.

    Thiên đại quỷ thần, nguyện kỳ chiếu giám. ([4])

    Nói càng thêm thảm, chẳng biết làm sao.

    Hiệu lệnh dường nào, quân gia đến thế!

    Hà mưu hà kế, hà lự hà tư?([5])

    Viện những đổ hư, để đi ăn giựt.

    Bợm nào đắc lực, tiến chức tiến quan,

    Lớn bé một đoàn, vô sở bất chí([6])

    Nhân dân nghị, nghị, thùy lạc chi tùng.

    Sự thế nhật cùng, Quảng-Nam ở lỗ.

    Trời làm chi khổ, thất đảo bát điên.

    Nói lắm cũng phiền, như tư nhi dĩ. ([7])


    Khóc Phan-đình-Phùng

    Cụ Phan-đình-Phùng người làng Đông-thái, tổng Việt-yên, huyện La-sơn, tỉnh Hà-tỉnh (Trung Việt), đỗ cử nhân khoa Bính-Tý năm 1876 hồi 39 tuổi và đỗ Đình-nguyên năm 1877, được bổ Ngự sử Đô sát viện.

    Khi vua Tự-đức mất, nhân thấy Tôn-thất-Thuyết, Nguyễn-văn-Tường làm việc phế lập, cụ phản đối nên bị cách chức và thải hồi nguyên quán.

    Năm 1884 cụ được phục chức bổ Tham-tri Sơn-phòng tỉnh Hà-tỉnh.

    Năm 1885, kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm-Nghi chạy ra Quảng-bình, cử cụ làm Tán-lý quân vụ, thống lãnh các Nghĩa quân đánh giặc. Cuộc kháng chiến của cụ là một cuộc lừng lẫy nhất và mạnh nhất trong thời kỳ Cần-vương khởi nghĩa. Giặc Pháp tấn công thế nào cũng không chuyển và chiêu dụ thế nào cũng không được.

    Năm 1895, cụ bị bệnh lỵ mất tại căn cứ địa núi Quạt, thật là một cái tang lớn cho cả nước. Các văn thân Nghệ Tĩnh có câu đối khóc cụ:

    Thành bại anh hùng mạc luận, thử cô trung, thử đại nghĩa, thệ dữ chư quân tử thủy chung, Châu chi anh, Mạc chi linh, độc thử mỗi niệm cương thường trọng. Khả hận giả, thùy điên đại hạ, nhất mộc nan chi. Cung lãnh yên tiêu, thùy nhân bất tác thâm sơn oán. Huống đương nhật long phi vân ám, cộng ta nhận sự vô thường. Khả lân La-việt giang sơn, bách niên văn hiến phiên cung mã.

    Cổ kim thiên địa vô cùng, nhi lưu thủy, nhi cao phong, đồng thử đại trượng phu vũ trụ. Lam chi phong, Hồng chi tuyết, xung hàn vô nại bách tàng điêu. Vi hà tai, hội quyết đồi ba, trung lưu chỉ trụ. Tinh vi vật hoán, hà nhân bất khởi cố viên tình. Cập thử thời nhạn tán phong suy, kham thân thiên tâm mạc trợ. Độc thử tùng mai khi tiết, nhất tử tinh thần quán đẩu ngưu. ([8])

    Còn bài thơ này là của cụ Nguyễn-thượng-Hiền hiệu mai-Sơn, một nhà cách mạng tiền bối đã trốn sang lục địa Trung-hoa, và lúc đó đang làm đốc học tỉnh Nam-định.​


    Vạn lý ai già bất khả văn!

    Lục long thiên ngoại cách yên phần.

    Bình qua chấp nghĩa phù tôn quốc;

    Bào hốt lâm nguy bái thánh quân.

    Lang miếu cựu truyền chân ngự sử;

    Giagn hồ kim khấp cố tương([9])quân.

    Tha niên tái kiến Trung nguyên định,

    Cản tặc Thường-sơn hữu đại huân.


    Bản dịch của Thái-Bạch:

    Tiếng kèn ai oán vẳng ngàn xa.

    Mờ mịt trời mây dặm hải hà.

    Gươm giáo tô màu cờ biển cũ;

    Cân đại nặng gánh nước non nhà.

    Vang danh Ngự sử nơi triều trước;

    Xót cảnh tướng quân giọt lệ nhòa.

    Ngày khác Trung nguyên về một mối;

    Công đầu giết giặc chẳng ai qua.


    Á-Tế-Á ca

    Bài này có người nói của cụ Tham-tán Nguyễn-thiện-Thuật, người anh hùng khởi nghĩa Bãi-Sậy (1883-1894); có người nói của cụ Mai-Sơn Nguyễn-thượng-Hiền; lại có người nói của cụ Sào-Nam Phan-bội-Châu.

    Căn cứ nội dung bài, nhất là ở đoạn cuối, thì tác giả là người đã có công trong quân-dội Nhật, đã có tham dự trận Nhật-Nga đại-chiến năm 1905 và đã có dự tiệc khải hoàn của triều đình Minh-Trị.

    Như vậy thì tác giả là ai?

    Theo quyển Ngục-trung-thư của cụ Phan-Bội-Châu thì năm 1905, cụ Nguyễn-thiện-Thuật còn ở nhà Lưu-vĩnh-Phúc (nguyên tướng Cờ đen) tại Sa-hà, tỉnh Quảng-đông. Năm ấy cụ Phan-bội-Châu không có ở Nhật, cụ phải về nước, họp hội nghị bí mật ở Quảng-nam để bàn định việc đưa Kỳ-ngoại-hầu Cường-Để xuất dương, rồi khi sang Tàu cụ còn đi Quảng-châu ra mắt cụ Tán Thuật. Như thế, chắc chắn tác giả không phải cụ Phan-bội-Châu hay cụ Nguyễn-thiện-Thuật. Còn cụ Mai-Sơn thì không có ở trong quân Nhật rồi.

    Theo thiểu ý, tác giả bài này, có lẽ là cụ Tăng-bạt-Hổ, người Bình-Định (Trung-Việt), vì qua nhiều bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào vở và tài-liệu, thấy trong các nhà cách-mệnh Đông-du chỉ có cụ Tăng là tham gia trận Nhật-Nga 1905. Trước cụ ở nhà Lưu-Vĩnh-Phúc, sau làm thủy thủ một tàu buôn qua Trường-Kỳ, Hoành-tân , rồi xung vào Thủy-quân Nhật-Bản, cụ có công lớn trong các trận Đại-liên, Lữ-thuận, được Nhật-Hoàng thưởng huy-chương quân công. Trong bữa tiệc Nhật-Hoàng khao thưởng các tướng sĩ, cụ có thamd ự. Nhật-Hoàng tự rót rượu thưởng, cụ uống cạn rồi khóc lớn, kể nỗi nước mất nhà tan, ai nấy đều cảm động. Sau cụ ngỏ ý xin viện binh đánh Pháp. Nhưng thủ-tướng Khuyển-dưỡng-Nghị khuyên cụ hãy lo phát triển tinh thần duy tân trong nước đã, và thay vì đề nghị xin viện binh, Khuyển hứa giúp cho du học sinh người Việt được phép cư trú và được miễn học phí. Kế đó, cụ về nước hoạt-động, và ít lâu mất tại Huế vì bệnh kiết lỵ.

    Đại lược tiểu sử cụ Tăng là thế, nên khi được tin cụ từ trần, cụ Đặng-thế-Thân, nhân sĩ ở Nghệ-An (đỗ đầu xứ nên tục gọi xứ Đặng) có làm câu đối khóc:

    Quân khởi kỳ sinh tác ký ư thời gian, đề binh thập nẫm, khứ quốc trấp dư niên, ký khốc ư Xiêm, ký khốc ư Hoa, ký khốc ư Nga, hốt hốt nhiên đại khốc ư Đông; thùy giao tứ nhập thu phong, hướng ngã thần kinh mai hiệp cốt.

    Ngã bất tri tử chi vi hà vật giả, độc thư ngũ châu, kết giao số thập bối, hoặc chiến dĩ thiệt, hoặc chiến dĩ bút, hoặc chiến dĩ não, đoan đoan trích trực chiến dĩ thiết, yếu đắc huyết lưu ôn đới, vị quân hoàng chủng thụ hồng kỳ.


    Cụ Huỳnh-thúc-Kháng viết trong “Thi tù tùng loại” xuất bản năm 1939 có nhắc đến, và dịch nghĩa như sau:

    “Người há sinh làm đởn với trời sao? Cầm binh một độ, bỏ nước hai mươi năm, đã khóc với Xiêm đã khóc với Tàu, đã khóc với Nga, đùng đùng sang khóc lớn bên Đông, ai dè gió phất trời thu, nắm cốt về chôn thành đất Huế.

    Ta chả biết chết là cái gì vậy, đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào năm châu, kết giao vài chục bạn, hoặc đánh bằng lưỡi, hoặc đánh bằng bút, hoặc đánh bằng não, khăng khăng chỉ độc đánh bằng sắt, thề quyết máu trôi đất nóng, cờ đảo tỏ mặt giống da vàng.”​

    Á-tế-á năm châu đệ nhất.

    Người nhiều hơn mà đất rộng hơn,

    Cuộc đời mở hội dinh hoàn

    Anh hùng bốn bể giang san một nhà,

    Ngẫm từ thuở Âu-La tiếm đất.

    Vượt Chi-na qua đất Triều-tiên

    Xiêm-la, Diến-điện gần liền

    An-nam, Chân-Lạp thông miền Ai-lao.

    Thịt một miếng trăm bao bâu xé

    Chiếc kim âu đã mẻ khôn lành

    Tôi tớ Pháp, muỗi ruồi Anh!

    Nén hơi đại Đức chịu lòn cường Nga.

    Gương Ấn-Độ chẳng xa đâu đó,

    Chẳng máu đào cũng họ da vàng.

    Mênh mông một dải Đông-Dương

    Nước non nô lệ trông càng thêm đau.



    Ngồi mà nghĩ thêm sầu thêm tủi,

    Nước Nam mình gặp buổi truân chuyên.

    Dã man quen thói ngu hèn

    Biết chi nước mất nòi tan nỗi này.

    Từ Pháp-lan thẳng tay đô hộ,

    Giày xéo lên mồ mả ông cha

    Giống nòi tủi nhục xót xa,

    Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu.

    Việc giây thép, việc tàu, việc pháo.

    Việc canh nông, việc giáo học đường.

    Việc kỹ nghệ, việc nông thương

    Việc khai các mỏ lập đường hỏa xa.

    Giữ các việc chẳng qua người Pháp

    Người Việt-Nam bồi bếp cu-li!

    Thông ngôn, ký lục chi chi,

    Mãn dời lính tập, trọn vì quan sang.

    Các hạng thuế Pháp càng tăng mãi:

    Thuế đinh điền rồi lại thuế bò

    Thuế cho cũi, thuế lợn èo,

    Thuế muối, thuế ruộng, thuế đò, thuế xe.

    Thuế tất cả, trầu, cau, chè, thuốc,

    Thuế môn bài, thuế nước, thuế đèn

    Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền

    Thuế rừn tre gỗ, thuế thuyền bán buôn.

    Thuế dầu mật, thuế sơn, thuế mỡ.

    Thuế gạo rau, thuế đỗ, thuế bòng.

    Thuế tơ, thuế sắt, thuế đồng,

    Thuế chim, thuế cá, khắp trong ba kỳ.

    Nhiều hạng thuế kể chi cho xiết:

    Thuế “phát xia” mới việc lạ lùng!

    Nói ra luống những đau lòng,

    Cha con khổ nhục, vợ chồng lìa tan.

    Cũng có lúc bầm gan tím ruột.

    Vạch trời kêu mà tuốt gươm ra.

    Cũng xương, cũng thịt, cũng da!

    Cũng dòng máu đỏ con nhà Lạc-Long!

    Thế mà chịu trong vòng trói buộc,

    Mấy mươi năm nhơ nhuốc lầm than.

    Thai ôi! Bách Việt giang san!

    Thông minh đã sẵn, khôn ngoan có thừa.

    Hồn mê mẩn tỉnh chưa? Chưa tỉnh!

    Anh em mình phải tính sao đây?

    Nhật là bạn, Pháp là thầy…

    Trí khôn phải học, điều hay phải tìm.

    Việc tân học kíp đem sang trước,

    Hội dân đoàn cả nước với nhau,

    Sự buôn ta lấy làm đầu,

    Mọi nghề cũng ghé, đội cầu một vai.

    Bây giờ kể còn dài chưa xiết.

    Chữ tự do xin kết một lòng.

    Gương Nhật-Bổn đất Á-Đông.

    Giống ta, ta cũng soi chung kẻo mà.

    Đường học thức dần dà mở rộng.

    Nước Lang-sa rồi cũng nể nang.

    Có khi Âu Á tranh hùng

    Thay phường nô lệ, làm phường văn minh.

    Kìa thuở trước như Anh, Pháp, Đức,

    Cũng chẳng qua cùng cực thời thông.

    Họa may trời có chiều lòng.

    Việt-Nam đứng vững phương Đông một mình.

    Thân phiêu bạt đã đành vô lại,

    Bấy nhiêu năm Thượng-Hải, Hoành-Tân.

    Liêu-Đông nhân lúc tùy quân,

    Tủi thân bôn bá theo chân khải hoàn.

    Bưng chén rượu ân ban hạ tiệc,

    Gạt hàng châu khép nép quỳ tâu.

    Trời Nam mờ mịt ngàn dâu,

    Gió thu như thôi cơn sầu năm canh.

    Biết bao nỗi bất bình khôn giải,

    Mượn bút thoa mà gửi quốc âm.

    Thân lươn bao quản cát lầm,

    Khuyên ai dốc chữ đồng tâm sau này…




    Tiếng gọi thanh-niên


    Bài của Trường Đông-Kinh Nghĩa-Thục. Trường này của các nhà cách-mạng tiền bối Phan-Chu-Trinh, Phan-bội-Châu, Lương-văn-Can, Nguyễn-Quyền, Vũ-Hoành v.v… thành-lập ở đầu phố hàng Đào Hà-nội vào năm 1906 do cụ Lương-văn-Can làm hiệu-trưởng, cụ Nguyễn-Quyền làm giám học. Trường ra đời với mục-đích để mở mang dân trí và làm cơ sở tinh thần cho phong trào cách mạng. Trường chẳng những mở các lớp học không lấy tiền, mà còn nuôi cơm cho các học sinh nghèo.

    Ngoài việc dạy học ra, trường còn tổ chức những cuộc diễn-thuyết để cổ động phong trào. Trường chuyên chú dạy vào thường-thức và thực-nghiệp. Ở ban tiểu-học thì dạy viết văn, còn lên trung học và đại-học thì dạy Pháp-văn và Hán-văn…

    Ảnh hưởng của Trường từ Hà-nội lan tràn đi khắp các nơi Trung, Nam, Bắc. Những người có tâm hồn với quốc gia, dân tộc, ai nấy đều nhiệt liệt hưởng ứng, nhất là đối với việc cổ võ và vận-động cho phong trào Đông-du. Nhưng than ôi! Đến năm 1908 thì Trường bị nhà cầm quyền Pháp ra lệnh đóng cửa và tịch thu tất cả giấy tờ tài liệu. Cụ Lương-văn-Can phải đày đi Nam-Vang, cụ Nguyễn-Quyền phải đi an trí ở Bến-tre, cụ Vũ-Hoành phải đi an trí ở Sa-đéc. Ngày nay nhắc đến Đông-kinh Nghĩa-thục, không ai là không phải có những kính mến và ngậm ngùi trong lòng. Nghĩa-thục tuy chỉ sống được có mấy năm trời, nhưng là một trường lịch sử của dân-tộc. Dân tộc còn, tên tuổi của Đông-kinh Nghĩa-thục và những người sáng lập vẫn còn.

    Mục đích của Trường đối với dân nước ta ra sao? Chúng ta chỉ đọc mấy bài văn này cũng đủ hiểu rõ. Bài của Trường kể ra có rất nhiều và bài nào cũng có giá trị về mặt cổ võ tinh thần yêu nước. Nhưng tiếc rằng, chúng tôi chỉ mới sưu tầm được có bài “Tiếng gọi Thanh-niên” này mà lại cũng chưa tra cứu được tác-giả là ai.

    Ngồi ngẫm lại năm châu trong trái đất,

    Biển văn minh dồi dập giữa phong trào,

    Kìa ai người thời khôn, nước thời mạnh,

    Đất thời rộng, của thời nhiều,

    Trời đất lẽ riêng yêu vì một cõi.

    Sao ta cứ dã man quen thói,

    Xách thân nô mà len lỏi dưới cường quyền?

    Hú ba hồn mấy chú thiếu niên!

    Vì áp lực mới gắng nên đồng lực.

    Trí não tiềm tàng tân học đắc,

    Phương châm tu tựu nhiệt thành lai.([12])

    Dắt tay nhau lên chốn vũ đài,

    Cho rõ mặt nhân tài trong Á-hải.

    Ai thắng ưu, ta đành liệt bại?

    Nắm dân quyền lôi lại giữa phương Đông.

    Tạo thời mới gọi anh hùng.

    Nhất sự bất tri nho sở sỉ,([13])

    Công thương hay mà công cổ cũng hay.

    Trong cuộc đời nào ai dở, ai hay.

    Thả ra mới biết kẻ gầy người béo.

    Nhà nho hủ tưởng mình là khôn khéo,

    Đem văn chương mà ráo réo với đời.

    Năm ba câu bát cổ tơi bời,

    Trừ cử nghiệp sự ngoài chi chẳng biết.

    Ai sinh tồn, ai cạnh tranh,

    Ai thắng lưu, ai bại liệt?

    Trong địa cầu nào biết những ai ai!

    Chữ duy tân gác bỏ ngoài tai,

    Những tấp tểnh đua tài nô-lệ.

    Đãn ngôn vũ trụ giai ngô sự,

    Mạc bả giang sơn thuộc bỉ cương([14])

    Nếu ai mà có chí cải lương

    Thì phải tự cường âu mới được,

    Sá kể chi vài trăm năm nhưng bước,

    Nghĩa đồng bào xin hãy hợp quần chơi.

    Khi nên trời cũng chiều người.


    Trong thế-giới biết ai là họa phước,

    Ơí ai ơi, nghĩ lại đó mà coi.

    Trời sinh ta là đấng làm trai,

    Phải như điếc, như đui,

    Như câm, như cùi thì cũng phải.

    Bởi vì: mắt có thấy, tai có nghe,

    Miệng có ăn, chân có bước,

    Biểu phưởi pha sao cho được với đời.

    Giận căm gan nghĩ cũng nực cười,

    Sự vô ích làm chi giữ mãi.

    So sánh những thi, phú, văn, kinh ngãi.

    Hỏi gặp thời, mão cho cao,

    Áo cho rộng, xiêm cho dài,

    Ngồi vắt đốc cũng như hình con ngợm gỗ.

    Những rứa đó xấu thân là khái khổ,

    Mới cầm viết đề tên vô quyển,

    Thì phải lo chấp tay cúi mọp dưới thềm.

    Dù đuổi xua cho khỏi lưới cá lồng chim,

    Cũng trối chết nhảy vô làm vinh diệu.

    Tính nô lệ tập ràng đà thuộc lâu,

    Miễn ra cúi vào lòn cho tận mặt,

    Lạy dạ nhiều thì bổng lộc mới xuê xoang.

    Nghi nghĩ lại dân tắc ngô chi dân.([15])

    Quốc tắc ngô chi quốc.([16])

    Đất nước ta thì sưu thuế của nhà ta.

    Bạc đôi trăm, năm bảy chục bấy nhiêu mà.

    Lấy tiền tháng mà bán nước đi cho đành hử?

    Sự thế, thôi thôi không xiết kể!

    Ớ mấy anh! ớ này chú! ớ này ông!

    Ớ này bác! Xùm cùng nhau lo lấy việc nhà,

    Dưới bóng trời cùng một hòn máu sinh ra,

    Đâu lại người có huyết mà ta đây mục xương.

    Hồn mê mẩn tỉnh say đà có lúc,

    Vận tuần hoàn rồi cũng có nơi.

    Đường đường đạp đất đội trời,

    Anh hùng há nhượng cho người thế gian;

    Cũng xương cũng thịt cũng gan!


    Gọi lính tập

    Bài này của trường “Đông-kinh Nghĩa-thục” làm để kêu gọi lòng ái quốc của những người Việt-Nam đi lính cho bọn thực dân Pháp.

    Các chú tập binh!

    Chú ở An-Nam sinh,

    Chú ở An-Nam trưởng.

    Chú sung chú sướng.

    Chú hả chú hê.

    Chú mãn hạn về,

    Thuế sưu chú chết.

    Họ đương chú quệ kiệt,

    Thân thích chú xác xơ.

    Chú nghĩ đã biết chưa?

    Tây công ơn gì chú.

    Tây thương yêu gì chú!

    Yếm bà lại buộc cổ bà!...



    Đời người cuộc thế

    Tác giả bài này là cụ Phan-chu-Trinh, một nhà cách mạng tiền bối của dân tộc Việt-Nam. Cụ hiệu là Tây-Hồ, biệt hiệu là Hy-Mã, sinh năm 1871 (niên hiệu Tự-Đức thứ 26) ở làng Tân-lộc, huyện Hà-đông(nay thuộc phủ Tam-Kỳ) tỉnh Quảng-Nam(Trung-Việt).

    Cụ thi đỗ phó bảng năm Thành-Thái thứ 13, dương lịch 1901 được bổ chức Thừa-biện. Nhưng với lòng yêu nước, với một ý chí hiến thân cho cách mạng, không bao lâu, cụ cáo quan về, đi khắp các nơi để hoạt động. Năm 1908, cụ bị nhà cầm quyền Pháp và Nam triều bắt đày đi Côn-đảo về tội yêu nước.

    Năm 1910, cụ được ân xá về Sài-gòn, rồi cụ qua Pháp để hoạt động cách mạng. Năm 1915, cụ bị chính phủ Pháp bắt giam vào ngục Sante cùng một lượt với các cụ Phan-văn-Trường, Nguyễn-như-Chuyên vi tình nghi là thông đông với Đức, Qua năm sau cụ được thả.

    Năm 1925, Tả đảng Pháp lên nắm chính quyền, cụ về nước hoạt-động. Nhưng đến ngày 24 tháng 3 năm 1926 cụ trút hơi thở cuối cùng. Hưởng thọ được 55 tuổi.

    Lễ an táng cụ được cử hành ngày 4 tháng 4-1926 tại nghĩa địa Gò-Công(gần Phú-Nhuận). Đồng bào toàn quốc đều làm lễ truy điệu.

    Và nhân cái tang cụ mà nẩy ra phong trào học sinh bãi khóa suốt từ Nam chí Bắc, ảnh hưởng rất lợi cho công cuộc cách-mạng giải-phóng dân tộc.


    Bài “Người đời cuộc thế” này là bài cụ làm năm 1907 khi cụ ra Bắc diễn-thuyết công-khai ở trường Đông-kinh Nghĩa-thục. Ông Đồ Điềm ở làng Lữ-Đô, huyện Ý-Yên, tỉnh Nam-Định(học trò trường Đông-kinh) nhớ thuộc lòng và đọc lại cho chúng tôi chép.

    Trăm năm trong cỏi người ta,

    Sực nay giấc ngủ tỉnh ra nửa đời.

    Vừng đông rạng bốn phương trời,

    Trống khua đã giục mấy hồi bên tai.

    Mơ màng phách quế hồn mai,

    Bâng khuâng nào đã biết ai mà nhìn.

    Thầy Đông-kinh đã đứng lên([17]),

    Đem kinh giác thế([18]) mà khuyên những lời;

    Ta ơi, ta hỡi ta ơi!

    Phải ta ta dậy tỉnh rồi hãy mê?

    Hay còn đang cuộc rượu chè?

    Chén anh chén chú kè nhè ở đâu?

    Hay còn vui thú cô đầu?

    Tiếng đèn, tiếng hát, tiếng chầu đánh xen!

    Hay còn vơ vẩn bàn đèn?

    Mỗi khi mỗi điếu đã quen cái mồm.

    Hay còn đang cuộc tổ tôm?

    Hội đơn hội kép đang gom nhau tiền!

    Chốc là ngoại bốn mươi niên,

    Gớm cho giấc ngủ đã bền lắm thay!



    [1] Bang-biện, Thương-biện, Đề-đốc, Lãnh-binh.

    [2] Rất đáng là khinh bỉ.

    [3] Thác từ là mượn lời mượn tiếng.

    [4] Cầu mong trời đất quỷ thần chứng giám cho.

    [5] Mưu gì kế gì, lo gì nghĩ gì

    [6] Không có chỗ nào không ruồng tới.

    [7] Đến thế là thôi vậy.

    [8] ông Đào trinh Nhất dịch: Anh hùng thành bại kể chi, dạ sắt son, lòng vàng đá, thề cùng các bạn giữ trước sau. Mạc châu đúc khí tinh anh, trung hiếu hẹn hò cùng sử bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào. Ngao ngán lẽ lầu cao sắp đổ, một cột khó nâng, phòng vắng khói tan, liếc mắt non xanh thêm tức tối. Và bây giờ rồng bay mây ám, xót xa việc thế khôn lường, những thương La-việt giang sơn, văn hiến trăm năm thành trận mạc – Trời đất xưa nay thế mãi. Đá dựng ngược nước chảy xuôi, đó vẫn non sông phường tuấn kiệt. Lam Hồng nổi cơn bão tuyết, bách tùng úa rụng luống xông pha. Đau đớn thay đê vỡ sóng vồ, giữa dòng trụ đứng, sao dời vật đổi, ngảnh đầu người cũ phải bôn chôn. Đương lúc này gió thổi nhạn lìa, căm giận lòng trời cay nghiệt, riêng cảm tùng mai khí tiết, tinh thần một thác rạng trăng sao.

    [9] Tức là tướng

    [12] Hai câu này có nghĩa là muốn cho trí não mở mang thì phải theo tân học và phải nhiệt thành cố gắng.

    [13] Một việc gì không biết là một việc xấu hổ của con nhà Nho vậy.

    [14] Hai câu này có nghĩa là mọi việc trong vũ trụ đều là việc của ta. Chớ để cho giang san thuộc về tay người nước khác.

    [15] Dân là dân ta

    [16] Nước là nước ta.

    [17] Câu này có ý nói nên theo gương duy tân của người Nhật.

    [18] Giác thế là đánh thức người dậy.
  • Share This Page