0075.0006

1/1/16
0075.0006
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:


    #0075.0006

    Đánh máy: windyclover (Đặng Thu Lan)




    Trứng rồng lại nở ra rồng,

    Hạt xoan lại nở xây xoan rườm rà.

    Có cha sinh mới ra ta,

    Làm nên thì bởi mẹ cha vun trồng.

    Khôn ngoan nhờ ấm cha ông,

    Làm nên phải đoái tổ-tông phụng-thờ.

    Đạo là con, chớ có hững hờ,

    Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm.


    Bao giờ đồng ruộng thinh thai,

    Ngồi trâu thổi sáo vui đời Thuấn, Nghiêu.


    [Tờ 27b] GIẢI


    Để khuyên lấy hiếu làm đầu,

    Bài trên mầng tiệc khuyên nhau làm lành.

    Dưới là ao ước thái bình.


    Trăng mờ còn tỏ hơn sao,

    Tuy rằng núi lở, còn cao hơn bờ.


    Hoa thơm, thơm nức cả cây,

    Ong chưa dám đỗ, bướm đừng xôn xao.


    GIẢI


    Thôi thôi, cậy sắc khoe tài mà chi.

    Sao không nghĩ, sao không suy,

    Phương-ngôn rằng:

    Suy ra ai kém ai đâu,

    Kẻ xe chỉ thắm, người xâu hạt vàng.


    Yêu nhau trầu chẩm cũng chơi,

    Ghét nhau, cau đậu đầy khay không màng.


    GIẢI


    Cũng như phương-ngôn rằng:

    Yêu nhau bốc bậy dần sàng,

    Ghét nhau đũa ngọc mâm vàng chớ thây.


    [Tờ 28a] Lưỡi vò độc quá đuôi ong,

    Xui người tan hiệp dứt lòng nghĩa nhân [ ]


    GIẢI


    Có câu rằng:

    Rung cây, rung cội, rung cành,

    Đố ai rung được chúng mình thì rung. [ ]


    Như thế thì:

    Chữ tâm, giữ lấy chữ đồng,

    Lưỡi vò cũng quên, lưỡi ong dám hề [ ].


    Một ngày mấy lúc trèo non,

    Lấy chi mà đẹp mà dòn hỡi anh.

    Đôi tay vịn cả đôi cành,

    Qảu chín thì hái, quả xanh thì đừng.


    GIẢI


    Lời rằng: Gái tham tài, trai tham sắc;

    Lại rằng: Một cái nết đánh chết trăm cái đẹp.

    Thuận mua thì bán, biết đâu là quả chín, quả [ ].


    [Tờ 28b] Đào tơ sen ngó xanh xanh,

    Ngọc lành phải giá, gái lành đẹp duyên.

    Cho nên tiên kết bạn tiên,

    Phụng hoàng chẳng chịu đứng ghen với gà.

    Chim khôn lánh bẩy lánh do,

    Người khôn lánh chốn ô-đồ mới khôn.


    GIẢI


    Chẳng những là:

    Trai khôn tìm vợ, gái khôn tìm chồng mà thôi,

    Chọn người làm bạn, chọn chúa làm tôi mới là.


    Trước đường những lối vào ra,

    Lợi danh là bẫy, do là quyền mưu.


    Cam ngon quít ngọt đã từng,

    Còn quả khế rụng trên rừng chớ ăn.

    Con gà tốt mã vì lông,

    Răng đen vì thuốc, rượu nồng vì men.


    GIẢI


    Ngọt chua cho trải mùi đời,

    Một đời cũng chẳng một người làm nên.

    [Tờ 29a] Anh khôn mà vợ anh đần,

    Lấy ai đãi khách xa gần cho anh.


    Tiếc thay cây gỗ lim chìm,

    Đem chôn cột giậu, cho bìm nó leo.

    Bìm leo thì mặc bìm leo,

    Ta đạp bìm xuống, ta trèo lên trên.


    GIẢI


    Một lời gái, một lời trai,

    Trách duyên rồi lại mỉa mai với tình.

    Chữ rằng: Giai ngẩu thiên thành, (94)

    (94) Giai ngầu thiên hành: tốt đôi là nhờ trời định.


    Nào ai kén cá, chọn canh được nào.


    Trăng thanh nguyệt rạng mái đình,

    Chén son chưa cạn, sao tình đã quên.


    Vợ chồng là nghĩa già đời,

    Ai ôi chớ nghĩ những lời thiệt hơn.


    Vợ anh như ngọc như ngà,

    Anh còn tình phụ, nữa là thân tôi.


    Vợ anh như thể đĩa xôi,

    Anh còn phụ bạc, huống tôi cơm đùm.


    [Tờ 29b] GIẢI


    Bốn bài ấy, dường là bài thiếp trách chồng.


    Trai làng ở góa còn đông,

    Cớ sao em vội lấy chồng ngụ cư.


    Ngụ cư có lúa cho vay,

    Có lụa bán đầy, em lấy ngụ vư,


    Lấy lính thời được ăn lương,

    Lấy thầy ăn mốc, ăn xương chi thầy.


    Em đừng thấy lính mà khinh,

    Lãnh-binh, thống-chế, tam-đinh một dòng.


    GIẢI


    Một người một ý, ai có như ai.

    Nên lại có câu rằng:

    Chẳng tham lắm ruộng lắm trâu.

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền.

    Chẳng tham ruộng cả ao liền,

    Tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ,


    Thuyền dời mà bến không dời,

    Bán buôn là nghĩa ở đời cùng nhau.


    [Tờ 30a] GIẢI


    Ấy là thương cổ chi giao, (95)

    Chi lan chi nghị, (96) thế nào biết không.

    Chiều chiều ra đứng bờ sông,

    Kẻ kéo cho chết, người không động mình.


    GIẢI


    Ấy là thuyền chài kéo lái chung.

    Phương ngôn rằng:

    Già quen việc, trẻ quen chơi,

    Giàu quen việc, thất nghiệp quen ăn.

    Việc nhà còn vậy, nữa phần việc quan.


    ĐỘC


    Thiên hạ sự vãng vãng như thử, tư ngôn

    tuy tiều, khả dĩ dụ dại (97).


    Trời mưa cho lúa chín vàng,

    Cho anh đi cắt, cho nàng đem cơm.

    Đem thì bát sứ mâm son,

    Chớ đem mâm gỗ, anh hờn không ăn.

    (95) Thương cổ chi giao: giao thiệp buôn bán,

    (96) Chi lan chi nghị: tình nghĩa bạn bè.

    (97) Thiên hạ sự, vãng vãng như thử, tư ngôn tuuy tiểum khả dĩ dụ đại: Việc thiên hạ, man mán như thế. Lời nầy tuy ít, có thể ví dụ việc lớn.


    Bởi anh chăm việc nông công,

    Cho nên mới có bồ trong bịch ngoài.

    Ngày [Tờ 30b] mùa trĩa đậu trồng khoai,

    Ngày ba tháng tám mới ngồi mà ăn.


    Kể việc làm ruộng mọi đàng,

    Tôi xin kể được rõ ràng ở ai.

    Tháng chạp là tiết trồng khoai,

    Tháng giêng trỉa đậu, tháng hai cấy cà.

    Tháng ba cày bã ruộng ra,

    Tháng tư bắt mạ, thuận hòa vui thay.

    Tháng năm cắt lúa vừa rồi,

    Tháng sáu mưa xuống, nước nôi đầy đồng,

    Tháng bảy cày cấy đã xong,

    Tháng tám thấy lúa tốt ròng vui thay.

    Tháng chín tôi lại kể nay,

    Bắt mạ chiêm được mới vui trong lòng.

    Tháng mười lúa chín đầy đồng,

    Cắt về đổ cót đề phòng năm sau.

    Tháng mười một là tiết cấy sâu,

    Một năm kể cả từ đầu đến đuôi.


    GIẢI

    Đây là tiết hậu nông công.


    ĐỘC


    Hà giảm Mân phong. (98)

    [Tờ 31a] Ngọc còn ẩn bóng cây tùng,

    Thuyền-quyên đợi khách anh hùng vãng lai.

    (98) Hà giảm Mân-phong: không thua gì thơ Mân-phong.


    Anh thấy em, anh cũng muốn thương.

    Sợ lòng bác mẹ soi gương chưa tường.


    Em thấy anh, em cũng muốn chào,

    Sợ lòng bác mẹ cây cao lá dài.


    Đêm qua thiếp mới hỏi chàng,

    Tre non đủ lá, đan sàn nên chăng?

    Đan sàn thiếp cũng xin vâng,

    Tre non đủ lá, chưa đan được sàn.

    Xa đường mượn ngựa mà đi,

    Xin cho tốt tuổi, quản chi xa đường.

    Trồng hường bẻ lá che hường,

    Thương em chẳng quản nỗi đường xa xuôi.


    Muốn ăn cá cả thì thả câu dài,

    Kìa như miệng cá, ai hoài mà đo,


    Đố ai lặn xuống vực sâu,

    Mà đo miệng cá, uốn câu cho vừa.


    Lưỡi câu anh uốn đã vừa,

    Sợ lòng cha mẹ kén lừa nơi đâu.


    Vực sâu thì mặc [Tờ31b] vực sâu,

    Kìa sâu hay cạn, nỡ đâu lo hoài.


    Thân em như tấm lụa đào,

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.


    Em nằm cành trúc, em dựa cành mai.

    Đông đào tây liễu (99) lấy ai bạn cùng.

    (99) Đông đào tây liễu: phía đông có cây đào và phía tây có cây liễu.


    Chàng về thì thiếp xin đưa,

    Xin trời đừng nắng, chớ mưa chặng đường.


    Em về em hỏi mẹ cha,

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng,.


    Chưa quen đi lại cho quen,

    Tuy rằng cửa đóng mà then không cài.


    Kẻ khinh người trọng vãng lai,

    Song le cũng chữa có ai bằng lòng.


    Sơn lâm mấy cội tương vàng,

    Cành bao nhiêu lá, thương chàng bấy nhiêu,


    Núi kia ai đắp nên cao,

    Sông kia ai đào, nước chảy cùng quanh,

    Cùng quanh thì mặc cùng quanh,

    Có về Lê-xá để anh đưa tiền.


    Ăn chơi cho hết tháng hai,

    Để làng [Tờ 32a] đóng án cho trai dọn đình.

    Trong thì trống đánh rập rình,

    Ngoài thì trai gái tự tình cùng nhau.


    Trèo non ước những non cao,

    Anh đi đò dọc, ước ao sao sông dài.


    GIẢI

    Trở lên lời trai gái hát phong tình.


    QUẢNG-XƯƠNG HUYỆN


    Trời che đất chở rộng thinh,

    Lò âm dương đúc nên hình người ra.

    Chữ tài sánh lại là ba,

    Gồm no thiên tánh (100) khác xa vật tình (101)..

    Kẻ tài là bậc tinh anh,

    Sinh tri (102) lựa phải học hành mới hay.

    Vua tôi sẵn có nghĩa dày,

    Cha con thân lắm, đấng người nên trông.

    Khi ấp lạnh, lúc quạt nồng,

    Bữa dâng ngon ngọt [Tờ 32b] bữa dùng sớm trưa.

    Ở cho thảo chí người ưa,

    Đền ân trả nghĩa thuở xưa bế bồng.

    Nhất hiếu lập vạn thiện tùng. (103)

    Ông bồng cháu, cháu lại nên ông,

    Hoàng-thiên chẳng phụ tấm lòng hiếu đâu.

    Đàn bà phận gái làm dâu,

    Làm dâu ắt muốn mai sau mẹ chồng,

    Phải nhắm bước trước cho xong,

    Bước sau theo dõi, ông ông bà bà,

    Chữ rằng tích thiện chi gia, (104)

    Đường kia nỗi nọ chẳng qua nợ nần.

    Ấy là khuyên hiếu ư thân.

    Lại còn một nỗi ái ân bạn bầu.

    Anh em cốt nhục đồng bào,

    (100) Thiên tánh: tánh của trời cho,

    (101) Vật tình: tánh tình của loài vật.

    (102) Sinh tri: sinh ra thì biết.

    (103) Nhất hiếu lập vạn thiện tùng: được một việc hiếu, muôn điều lành sẽ theo sau.

    (104) Tích thiện chi gia: nhà chứa nhiều điều lành.


    Kẻ sau người trước phải hầu cho vui.

    Lọ là ăn thịt ăn xôi,

    Qui hồ ưa nết, tới lui bằng lòng.

    Chớ hề tranh cạnh hành hung,

    Chớ nên khinh dễ, dốc lòng yêu đương,

    Cứ trong nghĩa lý luân thường, (105)

    Làm người phải giữ kỹ cương mới mầu.

    Đừng cậy khỏe chớ [Tờ 33a] khoe giàu,

    Trời kia còn ở trên đầu còn kinh.


    Trăm năm trong cõi trời chung,

    Trăm nghề cũng phải có công mới thành.

    Cứ trong gia nghiệp nhà mình,

    Ngày đêm xem sóc giữ gìn làm ăn.

    Chữ rằng tiều phú do cần, (106)

    Còn như đại phú là phần do thiên.

    Đừng dễ dãi, chớ ghét ghen,

    Còn nhờ lộc nước, có phen dồi dào.


    Người ra đi cấy lấy công,

    Đây tôi đi cấy còn trông nhiều bề.

    Trông trời trông đất trông mây,

    Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm.

    Trông cho chân cứng đá mềm,

    Trời thanh bể lặng mới êm tấm lòng.

    Chăm bề cày cấy cho xong,

    Rồi lên sửa việc cung công thế nào.

    Thì rằng: trù nhĩ vu mao, (107)

    (105) Luân (ngũ luân): vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bầu-bạn. Thường (ngũ thường): nhơn, nghĩa, lễ, trí, tín.

    (106) Tiều phú do cần: Giàu nhỏ nhờ siêng.

    (107) Trú nhĩ vu mao: ban ngày lo việc tranh tre.
  • Chia sẻ trang này