1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

011. Phần 011 - @teddy_M (done)

14/7/15
011. Phần 011 - @teddy_M (done)
  • Về Tân Trào

    "Hồi ấy là tháng 5-1945. Những ngày đang rạo rực đón chờ một sự chuyển mình vĩ đại của Tổ quốc.

    Chúng tôi đang ở mặt trận; bỗng có thư hỏa tốc đến báo tin là Bác sắp về và chúng tôi có nhiệm vụ đi bảo vệ đón Bác.

    Tuy chưa được thấy Bác, nhưng một không khí khác hẳn ngày thường đã diễn ra sôi nổi chẳng khác nào vừa nhận được một tin đại thắng.

    Riêng một số chúng tôi đã được gặp Bác lần đầu tiên từ năm 1941. Cuối năm 1942, đầu năm 1943, chúng tôi lại có dịp lên Pắc Bó (Cao Bằng) đề tìm gặp Bác; nhưng nghe tin Bác đi công tác xa nên lại không gặp. Thế là hơn bốn năm xa Bác, không lúc nào lòng chúng tôi không nhớ mong Bác.

    Nay nghe tin Bác về chẳng khác nào như hạn hán gặp mưa rào. Tất cả chúng tôi ai nấy tràn ngập một niềm sung sướng không sao tả xiết.

    Chúng tôi bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị đón Bác.

    Nhiệm vụ chúng tôi là phải bảo vệ con đường từ cây số 31 rẽ vào chợ Chu lên Đèo Xó chợ Đồn. Chúng tôi xem kỹ bức thư, trao đổi với một số đồng chí trong đó có đồng chí Quang Trung và một vài đồng chí phụ nữ, sau đó chủ trương phục kích ở Đèo Xó, nếu giặc Nhật thọc vào là kiên quyết đánh, không cho chúng tiến vào khu vực Bác đi Tân Trào.

    Chúng tôi tổ chức trinh sát khu vực đường ra chợ Chu, chia làm mấy chặng gác ở Đèo Xó, chọn sẵn địa điểm thuận lợi cho cả hai mặt công và thủ, bố trí cách phát hiện địch từ xa để kịp thời đối phó.

    Trong lúc bố trí, anh em ngồi chụm nhau ai cũng thì thào bàn tán xoay quanh chuyện Bác về và chuyện bảo vệ đường đi, nhưng say sưa nhất là chuyện Bác về: mong Bác cũng có mà lo về Bác cũng có, mong vì mọi người đang khát khao được thấy Bác, vì Bác về nơi căn cứ địa thì sẽ là một thuận lợi lớn cho phong trào, còn lo vì Bác đã có tuổi mà phải đi từ xa xôi về không biết có mệt không.

    Bỗng được tin Bác không đi qua Đèo Xó mà đi đường bên trong và đã đi xuống Thành Cóc. Chúng tôi liền cấp tốc rút quân về Tân Trào để kịp hôm sau đón Bác ở vùng Sơn Dương.

    Chúng tôi cùng đồng chí Văn, đồng chí Song Hào và một số cán bộ nữa đến đón Bác ở đình Hồng Thái. Trong lúc chờ đợi, câu chuyện bàn tán về Bác cũng sôi nổi. Mọi người hỏi nhau Bác người như thế nào. Một số chúng tôi trước đã được gặp Bác thì cứ luôn luôn phải diễn tả lại hình dáng, cũng như đạo đức, tác phong của Bác cho anh em nghe.

    Câu chuyện đang say sưa thì được tin báo là Bác sắp về tới nơi. Tất cả đều im lặng nhìn nhau hồi hộp và hướng cả về phía Bác sẽ tới.

    Một lát sau thấy một toán người từ xa lại. Chúng tôi như nín thở, các cặp mắt cố hết sức tập trung để nhìn rõ Bác.

    Thoạt tiên thấy mấy người đi trước, rồi đến một ông cụ dáng người cao cao, chân bước rất nhanh nhẹn, tay cầm cái ba-toong vừa đi vừa chỉ trỏ, từ xa xa đã thấy nét mặt tươi cười vui vẻ.

    Trong hàng ngũ cán bộ tập trung đón Bác, có những câu thốt ra: "Đâu Bác đâu, Bác đấy phải không, có lẽ đúng ông cụ kia là Bác rồi, v.v..."

    Lúc ấy đang giữa buổi trưa. Bầu trời trong sáng hẳn, cao lồng lộng; ánh nắng mới bừng lên rực rỡ chan hòa, hình ảnh của Bác càng đến gần càng nổi bật lên với khuôn mặt hồng hào, đôi mắt quắc thước sáng ngời…

    Bác vừa bước tới, thì những tiếng chào mừng chúc Bác khỏe vang lên hòa cùng nhịp ngay với những lời Bác ân cần hỏi thăm chúng tôi.

    Bác cùng chúng tôi tay bắt mặt mừng vô cùng cảm động. Bác nhìn suốt mọi người hỏi thăm sức khỏe và nói chuyện thân mật với chúng tôi khác nào một người cha lâu ngày xa vắng nay mới lại gặp đàn con thân yêu của mình. Tôi chú ý nhìn kỹ Bác thấy so với năm 1941 thì Bác có già hơn nhưng đặc biệt Bác vẫn vui vẻ hoạt bát như xưa, tuy đi xa về vất vả nhưng không tỏ ra có gì là mệt mỏi.

    Sau khi hỏi thăm chúng tôi, Bác không quên hỏi ngay tình hình địa phương. Bác ngước mắt nhìn tứ phía núi đồi rồi hỏi chúng tôi định đặt cơ quan ở chỗ nào. Chúng tôi chỉ về phía Tân Trào báo cáo. Trong chốc lát, Bác nắm được sơ bộ tình hình địa thế rồi Bác giục chúng tôi đưa ngay Bác về nơi đóng cơ quan. Nơi ấy là xã Kim Lộng, nay là xã Tân Trào, một khu vực giáp giới giữa Tuyên Quang - Thái Nguyên, có cơ sở cách mạng tốt, địa hình, địa thế thuận lợi, phong trào quần chúng khá mạnh.

    Qua những phút đầu tiên tiếp xúc với Bác, chúng tôi cảm thấy rất rõ Bác có một sức mạnh phi thường hấp dẫn lòng người. Chúng tôi bàn tán trao đổi với nhau về đạo đức tác phong của Bác cũng như về vai trò vô cùng quan trọng của Người đối với sự nghiệp cách mạng:

    "Một vị lãnh tụ cách mạng lão thành, kết tinh của tinh hoa đất nước, súc tích bao nhiêu kinh nghiệm đấu tranh của các phong trào cách mạng từ bốn phương trời, lại biết nhiều thứ tiếng, nhìn xa trông rộng, lãnh đạo tài tình..., chịu đựng bao nhiêu hy sinh gian khổ vượt suối băng ngàn nay mới về tới đây..."

    Bác thật là vĩ đại nhưng cũng thật vô cùng giản dị.

    Tuy mới gần Bác có mười mấy phút thôi, nhưng gương của Bác đã soi sáng cho chúng tôi rất nhiều, khuyến khích thêm chúng tôi làm việc không biết mệt mỏi. Ngay từ giây phút đầu, chúng tôi đã cảm thấy gần Bác được chừng nào là như được lớn lên chừng ấy, tư tưởng càng thêm phóng khoáng, tin tưởng sâu thêm ở Đảng, ở cách mạng.

    So với cuộc đời hoạt động của Bác, chúng tôi càng cảm thấy mình làm cho Đảng chưa được bao nhiêu mà còn phải cố gắng nhiều hơn nữa.

    Từ đình Hồng Thái về xã Tân Trào là nơi đóng cơ quan, phải đi qua con sông Đáy. Anh em bộ đội bảo vệ đã cấp tốc hành quân về trước, chuẩn bị bè mảng sẵn sàng.

    Một số chúng tôi cùng đi với Bác. Khi xuống mảng, mặc dù nước sông dâng to, nhưng Bác rất nhanh nhẹn, tự nhiên, tươi cười như không có gì khó khăn cả. Trong khi Bác tỏ ra rất thạo nước, thì chúng tôi ai cũng hồi hộp lo sao cho qua sông được an toàn.

    Qua sông, chúng tôi đi bộ qua làng Thia, dọc theo cánh đồng vào xóm Kim Lộng.

    Đến nơi, chúng tôi bố trí Bác vào một gia đình quần chúng tốt để ở tạm.

    Vào đến nhà, Bác đã hòa hợp rất nhanh với mọi người chẳng khác nào một người cùng làng bản vừa mới đi xa về, và Bác tranh thủ làm ngay công tác quần chúng. Qua sự tiếp xúc với Bác, ông chủ nhà Bác ở (nay không nhớ tên) tỏ ra rất cảm động trước đạo đức và tác phong hàng ngày của Bác, và càng có một quan niệm đúng đắn rõ ràng hơn về sự nghiệp vĩ đại của cách mạng.

    Chẳng bao lâu, Bác đã thu được cảm tình sâu sâc của quảng đại quần chúng nhân dân địa phương.

    Tiếng đồn đi khắp nơi: "Chẳng những bây giờ có đồng chí Văn, đồng chí Tân Hồng mà còn có ông Cụ rất thông minh tài giỏi..." Qua đó nhân dân càng tin tưởng rất sâu sắc vào cách mạng.

    Sau một thời gian ngắn, công việc của Bác đã đi vào nề nếp, sự liên hệ công tác giữa Trung ương với các địa phương ngày càng tăng, do đó làm việc ở làng không tiện lắm, và bắt đầu chuyển cơ quan lên đóng ở rừng.

    Khu núi rừng trùng điệp của Tân Trào xưa kia dưới thời Pháp thuộc, cũng như hàng trăm dãy núi rừng khác của đất nước, chỉ là những nơi âm u buồn vắng, không tên tuổi, nhưng từ ngày bước chân của Bác, của Đảng đã đặt tới, thì nghiễm nhiên trở thành khu núi rừng lịch sử oai nghiêm hùng vĩ, là nơi tập trung linh hồn của Tổ quốc, nơi trung tâm tỏa ánh sáng rực rỡ của Đảng đi khắp mọi nơi.

    Núi rừng Tân Trào mất hẳn vẻ âm u ngậm tủi nuốt hờn mà trở nên hiên ngang cùng với sức mạnh vĩ đại của non sông đất nước đã đến giờ quật khởi.

    Nhà ở của Bác là một chiếc lán nhỏ làm theo kiểu nửa sàn, giữa một khu rừng nứa ở lưng chừng đồi.

    Dưới chân đồi là con đường mòn đi từ chợ Chu sang Tân Trào, cạnh đường có con suối quanh co uốn khúc.

    Căn nhà nhỏ ấy chia làm hai gian nhỏ, trang trí rất giản đơn. Một bên là buồng nằm của Bác, còn một bên để một chiếc bàn nứa vừa là nơi làm việc vừa là nơi tiếp khách.

    Khung cảnh sinh hoạt thật giản dị, nhưng nó là nơi chứng kiến những hoạt động vô cùng phong phú, khẩn trương của Bác trong những giờ phút sôi sục của thời kỳ tiền khởi nghĩa.

    Ngoài thì giờ cần thiết cho sinh hoạt cá nhân, thời gian còn lại trong ngày, Bác bố trí rất sít sao, hầu như chẳng còn lúc nào nghỉ ngơi đối với Bác.

    Bác làm việc suốt ngày, thường đến tận đêm khuya, có nhiều lúc đang ngủ cũng dậy làm việc. Có lần nửa đêm, Bác dậy, chúng tôi ở cạnh, có hỏi Bác, thì Bác nói: "Đang nghĩ được một vấn đề, phải dậy ghi lại cho khỏi quên".

    Điều đó chứng tỏ Bác cẩn thận như thế nào, và ngay trong khi ngủ Bác vẫn còn luôn suy nghĩ tính toán những việc lợi dân lợi nước.

    Bác chú ý phong trào chung toàn quốc, chú ý việc củng cố biên giới, củng cố căn cứ địa, củng cố đường giao thông. Bác theo dõi các mặt trận, lo cách liên lạc về xuôi cũng như mong Trung ương ở xuôi lên.

    Công việc thì bừa bộn như thế mà Bác vẫn dành được thì giờ nghiên cứu, viết tài liệu bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào báo. Ngoài ra Bác lại có thì giờ để tiếp khách.

    Trong công việc Bác rất khẩn trương hoạt bát.

    Khi tiếp xúc với nhân dân và cán bộ, tác phong của Bác thật là ân cần, cởi mở. Dù là Nùng, Tày, Mán,v.v... ai đã được gặp Bác, khi ra về đều rất kính phục và tin tưởng.

    Các cụ người Tày Kim Lộng như ông Ngọc, và hai ông nữa, sau khi gặp Bác, về nói: "Cụ đã nhiều tuổi sao mà nhanh nhẹn, khỏe mạnh và tài giỏi đến thế..." Những cụ người Mán, tuổi đã khá cao như cụ Hương, cụ Vượng v.v... cũng nói: "Dân Việt Nam ta quả là phúc đức bằng trời bể mới có được ông cụ đã nhiều tuổi mà còn đi hoạt động như thế này, vừa sáng suốt tài giỏi, nhiều kinh nghiệm lại vừa tốt vô cùng. Dân mình tài thật, Việt Minh nhất định thắng..."

    Những lời nói mộc mạc giản dị của người nông dân thiểu số miền núi đủ nói lên lòng tin tưởng rất sâu sắc của quần chúng đối với Bác, cũng như đối với Đảng.

    Có một lần, chúng tôi đang ở một mặt trận trên đường số 3, cây số 36 rẽ vào chợ Chu, bỗng có thư hỏa tốc của đồng chí Văn bảo là: "Bác mệt, tiếp được thư phải về ngay không kể ngày đêm" và phải tìm một người giỏi thuốc nam về chữa cho Bác.

    Lòng chúng tôi hồi hộp lo lắng muôn phần...

    Chúng tôi biết có bà Báo là một bà lang thiểu số nên mời bà đến chữa cho Bác.

    Vào thăm Bác hôm ấy có tôi và anh Văn, về đến nơi thì Bác đã mệt khá nặng. Thấy Bác, chúng tôi không ai cầm được nước mắt, sự cảm xúc thật không sao tả xiết: phần thương Bác vì đã làm việc quá sức, suy nghĩ nhiều, thức khuya dậy sớm, lao động đi lại vất vả, cộng vào đó ăn uống lại kham khổ, - phần lo vì sức khỏe của Bác có liên quan tới vận mệnh của Tổ quốc, nhất là trong những giờ phút quyết định này.

    Bác người tuy rất mệt, nhưng nhiệt tình làm việc của Bác thì không hề mệt mỏi.

    Bác vẫn hỏi thăm tình hình phong trào chung, tình hình mặt trận, an ủi chúng tôi và chỉ thị công tác cho chúng tôi. Còn Bác thì luôn ở bên cạnh máy chữ, nhiều lúc miệng chỉ thị, tay đánh máy.

    Anh Văn và tôi khuyên Bác hãy xếp công việc lại và nghỉ cho khỏe đã. Nhưng Bác nói Bác vẫn còn làm việc được.

    Thấy Bác phải tiếp chuyện nhiều, ảnh hưởng đến sức khỏe, chúng tôi từ giã ra nghỉ ở ngoài làng. Lúc ra, Bác không quên dặn lại chúng tôi: "Nhà đã mua được con ba ba, mai các chú lại đây ăn cơm cùng cho vui".

    Hôm sau chúng tôi về chỗ Bác ăn cơm.

    Đến nơi thấy Bác vẫn làm việc như hôm qua với chiếc máy chữ bên cạnh luôn luôn hoạt động, mặc dầu bệnh chưa chuyển mấy.

    Bữa cơm hôm ấy giữa Bác với chúng tôi thân mật cởi mở, chứa chan tình thương yêu giữa lãnh tụ với cán bộ. Nó đậm đà ấm cúng và cũng bổ ích qua những câu chuyện lịch sử lý thú, chuyện hoạt động ở nước ngoài, chuyện công tác thiết thực mà Bác nói cho chúng tôi nghe trong lúc ăn.

    Bữa cơm đầy ý nghĩa chỉ có thể có giữa những người cộng sản hôm ấy, thật chúng tôi ghi nhớ suốt đời.

    Ăn cơm xong, Bác vẫn còn say mê trò chuyện với chúng tôi, mặc dầu Bác càng nói càng mệt.

    Chúng tôi mời Bác đi nghỉ, và xin phép Bác ra về...

    Ra được một quãng, hai anh em chúng tôi lại bí mật lẻn vào và bê cái máy chữ của Bác giấu hẳn đi một chỗ.

    Chiếc máy chữ lịch sử này gẳn liền với đời hoạt động của Bác, là phương tiện duy nhất không bao giờ rời Bác.

    Hôm sau chúng tôi vào thăm Bác, Bác trách chúng tôi: "Máy của tôi lúc nào cũng phải ở bên cạnh để làm việc. Các chú cất máy làm tôi phải bó tay, có hại cho công việc chung".

    Tuy vậy chúng tôi vẫn nhất định chưa đưa máy ra.

    Mấy hôm sau, Bác khỏe dần. Lúc ấy chúng tôi đưa máy cho Bác. Chúng tôi rất vui mừng, Bác cũng tươi cười vui vẻ. Và lại tiếp tục làm việc như mọi ngày..." [1]

    *

    "Tháng Sáu 1945, chúng tôi nhận được thư của đồng chí Chu Văn Tấn báo cho biết phải chuẩn bị để đón một đồng chí thượng cấp về Tân Trào. Đồng chí Tấn đã đưa một đơn vị đi Chợ Chu để đón đồng chí thượng cấp ở dọc đường. Thư viết vắn tắt nhưng toát ra một tinh thần rất quan trọng. Đồng chí thượng cấp! Tôi thăm hỏi và cũng mơ hồ đoán được ra người đồng chí mang cái mật hiệu kia là ai?

    Đã từ lâu lắm tôi đã được nghe nói nhiều về đồng chí Nguyễn Ái Quốc, người lãnh đạo vĩ đại của cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng là một chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế. Đã có không biết bao nhiêu chuyện lớn lao, xúc động về cuộc đời hoạt động của Người, mà các đồng chí của Đảng ta cũng như của các Đảng anh em đã kể lại cho nhau nghe gần như những truyền thuyết dân gian kỳ diệu.

    Tôi vui mừng báo ngay cho đồng chí Tùng (lúc bấy giờ đã làm chủ tịch Ủy ban nhân dân lâm thời châu Hồng Thái) chuẩn bị gấp mọi mặt, tu sửa lại ngôi đình Hồng Thái để làm trạm tiếp đón trước khi đồng chí sang Tân Trào.

    Đình Hồng Thái cũng có những cây đa cổ thụ, cành lá sum suê xanh tốt. Đình lợp lá cọ, cột gỗ phong rêu, đứng giữa một khu đất rộng, cỏ mọc xanh rì, cây cao bóng cả, phong cảnh thật là trầm mặc. Phía sau đình không xa là bản làng có một cái giếng con, nước trong leo lẻo quanh năm, nhân dân vẫn gọi là "giếng ngọc". Xế về phía bên trái, trước cửa đình là dòng sông Đáy hẹp như một dòng suối lớn, êm đềm chảy giữa hai bờ lau sậy. Có lẽ cũng giống như ở Kim Long, nhân dân ở đây từ lâu đã tự hào về phong cảnh đẹp của quê hương mình, đồng thời cũng đã từ lâu mơ ước một cuộc đời tươi sáng hạnh phúc hơn, cho nên đã có hai vế câu đối khắc ở cột đình:

    Đề giang tả bão linh nguyên hội;
    Ngọc tỉnh hữu triều thụy khi chung
    .​

    tạm lược dịch :

    (Dòng sông Đáy bao bọc bên trái chẳng khác gì một nguồn linh thiêng tụ hội lại, còn bên phải có giếng ngọc chầu, tựa như có khí đẹp chung đúc về).

    Có đồng chí cán bộ biết chữ Hán dịch lại hai câu đối ấy cho tôi nghe và mỉm cười nói vui:

    - Có lẽ nhân dân ở đây đã tiên đoán được từ lâu là sẽ có ngày ngôi đình này được chọn làm nơi để tiếp đón người chiến sĩ vĩ đại, vị cứu tinh của dân tộc mình về xây dựng thủ đô cách mạng, nên mới có hai vế câu đối đẹp đẽ, hàm súc như thế!

    Riêng tôi, đứng trước đình Hồng Thải, nhìn về chòm núi trùng điệp, xanh mờ phía xa, tôi còn nhớ tới bản Pài. Bản Pài cũng thuộc địa phận của Hồng Thái, theo đường chim bay không xa ngôi đình này quá mười cây số. Lịch sử như đã vô tình làm một công việc đối chiếu và so sánh có ý nghĩa. Cũng trên khu vực này cách đây có hơn nửa năm trời, đoàn mười hai người chúng tôi còn bị vây hãm nguy khốn ở những mỏm núi kia. Bây giờ chúng tôi đã xuống được tới làng bản, ra tới đây công khai, long trọng tổ chức đón tiếp lãnh tụ của dân tộc, của giai cấp trở về chỉ đạo cách mạng cả nước.

    Công việc chuẩn bị của chúng tôi vừa xong thì đồng chí Chu Văn Tấn lật đật trở về. Đồng chí cho biết : đồng chí đón hụt. Bác đã không đi theo con đường do chúng tôi đề nghị, mà đi theo một con đường khác; con đường Nam tiến do Bác đã vạch ra trước đây cho đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân từ hồi đầu mới xây dựng.

    Chúng tôi không phải mong đợi lâu, ngay hôm sau đã có tin báo: thượng cấp về tới ngoài đầu dốc. Tất cả chúng tôi mừng rỡ, vội vã chạy ra. Trước mặt chúng tôi là một đoàn trên mười người ăn vận khác nhau, trong đó có cả đồng chí Võ Nguyên Giáp. Đi đầu đoàn người là một đồng chí đã có tuổi, mặc áo chàm, dáng người mảnh dẻ, khuôn mặt xương xương, nước da rám nắng, chòm râu đen nhánh, lưa thưa. Đồng chí bước đi thoăn thoắt, chiếc mũ dạ đen đội đầu, mảnh khăn mặt trắng vắt vai, tay cầm một chiếc gậy nhỏ. Mới thoạt nom, chúng tôi cũng đã có thể biết ngay: đó là người mà chúng tôi đã từ lâu mong đợi. Bác tới gần, cặp mắt sáng đẹp tuyệt vời nhìn thẳng vào chúng tôi, và cũng ngay từ giây phút ấy đã chiếm hết tâm hồn chúng tôi làm cho chúng tôi muốn cầm chặt lấy bàn tay Người mà thốt lên tất cả những lời kính yêu tha thiết, tin tưởng không bờ không bến.

    Bác bước vào đình Hồng Thái nhìn bao quát khung cảnh và các đồng chí chung quanh, vẻ rất hài lòng. Tất cả chúng tôi đều xúm xít lại. Bác bắt đầu câu chuyện bằng những lời thăm hỏi ân cần về sức khỏe chung của chúng tôi rồi hỏi ủy ban châu về tình hình phong trào của địa phương. Đã chuẩn bị rất kỹ, nhưng trước những câu hỏi rất cụ thể tỉ mỉ của Bác, đồng chí Tùng vẫn không khỏi bối rối.

    Bác sang xóm Tân Lập (Tân Trào) vào tạm trú ở một gia đình cơ sở ít hôm, trước khi ra ở lán phía chân núi Nà Lừa. Chúng tôi cố hết sức giữ bí mật, đón Bác về bình thường như đón mọi đồng chí cán bộ khác. Nhưng Bác chỉ ở trong xóm được vài hôm, toàn thể nhân dân đã chăm chú, xì xào: "Có một đồng chí già mới về, yêu dân, yêu bộ đội đặc biệt. Lại chăm chỉ khác thường, đêm làm việc tới khuya, sáng mờ đất đã quét nhà, tưới rau, lấy củi, đánh thức bộ đội dậy đi tập, hoặc tăng gia giúp dân. Ông cụ nhiều buổi cũng đi làm. Ông cụ rất chăm lo nước tưới. Hôm nào đi thăm đồng về thấy ruộng cạn là vận động bà con đi tát ngay, cả ông cụ cũng đi. Có buổi thấy ông cụ lúi húi ở ngoài đồng, tưởng làm gì, té ra đắp một cái bờ bị nẻ để giữ nước cho dân..."

    Từ cụ già tới trẻ nhỏ trong xóm, người nào cũng đều muốn đến gặp "ông cụ" hoặc "đồng chí già" để được nghe chuyện thế giới, trong nước, và nghe những lời khuyên bảo về đấu tranh chống đế quốc, phát xít, và tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

    Có một chuyện mà nhiều đồng chí cho tới bây giờ vẫn còn nhớ và không khỏi buồn cười. Ngay hôm sau mới tới Tân Lập, Bác đi thăm luôn chỗ ở của đơn vị Giải phóng quân đóng ở đó. Chúng tôi vẫn giữ bí mật, ngay cả với đồng chí chỉ huy đơn vị, Bác thấy chỗ ăn, nơi ở của bộ đội không được trật tự cho lắm, bèn gặp đồng chí chỉ huy góp ý kiến. Đồng chí chỉ huy vốn là người nóng nảy, thấy vậy có ý không bằng lòng: "Phê bình chúng tôi, chuyện ấy đã có cấp trên của chúng tôi". Bác vẫn hồn hậu, tươi cười đáp: "Tôi là người dân tôi cũng có quyền phê bình góp ý với bộ đội chứ!... Bộ đội cách mạng là bộ đội của dân cơ mà!". Đồng chí chỉ huy đơn vị nghe ra ngay, không dám nói nữa. Hôm sau gặp tôi, đồng chí lắc đầu: "Có một ông cụ già không biết ở xã nào đến, nói năng cừ lắm, phê bình mà tôi cũng phải chịu". Tôi cười, nói nhỏ: "Lãnh tụ của phong trào cách mạng ta hiện nay đấy!". Đồng chí chỉ huy đơn vị trợn tròn mắt: "Có thật không?"... Từ đó, mỗi khi nhắc lại câu chuyện ấy, đồng chí vẫn không khỏi đỏ mặt.

    Từ khi Bác và Trung ương về Tân Trào càng dần dần trở nên thực sự là thủ đô lâm thời của Tổ quốc, trái tim của cách mạng Việt Nam. Từ nơi đây tỏa đi khắp các chân trời của đất nước mọi chỉ thị về đường lối, phương châm, bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào lược của Đảng nhằm đẩy mạnh công cuộc chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Cũng từ nơi đây đã thu hút về biết bao nhiêu thanh niên anh tuấn bốn phương. Nghe theo tiếng gọi của cách mạng, anh em đã rời bỏ làng mạc, xưởng máy, trường học, công sở, đô thị... đi tìm Việt Minh, đi tìm Giải phóng quân, đi tìm Đảng. Con đường cửa ngõ Bình Ca càng ngày càng trở nên tấp nập kẻ ra người vào, như con đường chùa Hương trong những ngày mở hội.

    Nhân dân trong khu giải phóng nói chung và Tân Trào nói riêng cũng ngày càng được hưởng đầy đủ những quyền lợi tốt đẹp mà cách mạng đã mang tới như: phổ thông bầu cử hội đồng nhân dân, mở rộng bình dân học vụ xóa nạn mù chữ, thực hiện nam nữ bình đẳng và "đời sống mới", bãi bỏ các thứ thuế má vô lý, nặng nề, nhục nhã mà đế quốc, phát xít đã bắt nhân dân ta phải còng lưng cống nạp... Một mặt được hưởng những quyền lợi do cách mạng mang tới, một mặt nhân dân khu giải phóng và Tân Trào cũng nô nức, hăng hái làm tròn những phần trách nhiệm của mình để đẩy mạnh cách mạng tiến tới như vào dân quân tự vệ, canh gác, tuần tra, tiếp tế lương thực, thi đua sản xuất.

    Đời sống tươi vui, lành mạnh, cách mạng và chiến đấu của nhân dân khu giải phóng đã được một đồng chí cơ sở người địa phương phản ánh một phần nào trong bài vè do đồng chí sáng tác và đã được truyền miệng khá rộng rãi trong nhân dân Tân Trào, Hồng Thái khi đó. Tôi còn nhớ được một vài đoạn:

    Hạ thiên nông vụ đã qua
    Ngồi rồi cầm bút chép ra một bài
    Kể ra lịch sử chẳng sai
    Đến năm Ất Dậu[2] ai ai một lòng
    Tháng Hai[3] cách mạng khởi công
    Noi gương giòng giống Lạc Hồng nổ ra
    Trong xuân, mồng tám thực là
    Cán bộ về đến đất nhà Kim Long
    Từ giờ việc Pháp bỏ không
    Bây giờ việc nước theo cùng Việt Minh
    Giặc Tây đến lúc phải kinh
    Việt Minh đã nổi, dân tình đều theo
    Việc văn[4] đặt kể cũng nhiều
    Còn như việc võ mọi điều kể qua:
    Chánh phó tự vệ cắt ra.
    Canh gác túc trực lối ba bốn người
    Để mà phòng thủ mọi nơi
    Xem ai phản động vậy thời điều tra.
    Bao giờ giành nước cộng hòa
    Cán bộ đi khỏi dân đà ngẩn ngơ[5]
    Vì chung cơ hội đang chờ
    Tháng tư vừa thấy Cụ Hồ về đây
    Thật là cơ hội rồng mây
    Cùng nhau theo Cụ đánh Tây diệt thù
    Lập trường "quân chính" chiến khu
    Cùng nhau lấy máu trả thù mới cam
    Cụ Hồ người thật đảm đang
    "Truyền thanh tuyến điện" Cụ mang trong mình
    Tháng Tư Cụ mới khởi hành
    "Truyền thanh" nghe nói rành rành chẳng sai
    Ngoại giao Cụ thật anh tài
    Nội trị thật cũng chẳng ai sánh cùng

    ……………………………

    Trong bài vè có câu "Lập trường quân chính chiến khu", trường quân chính ấy là trường Quân chính kháng Nhật theo chỉ thị của Bác đã được thành lập ở Khuổi Kịch. Tại Tân Trào, Bác chăm lo đủ mọi mặt công tác cách mạng, nhưng đặc biệt là việc đào tạo cán bộ. Trước đây, khi còn bôn ba hải ngoại, Bác đã đào tạo nên biết bao cán bộ quí cho cách mạng nước nhà. Hầu như phần đông các đồng chí Trung ương của Đảng ta đều là những người do chính tay Bác dìu dắt. Tới nay cách mạng đang ở giai đoạn phát triển cao nhất, cán bộ có bao nhiêu cũng còn là thiếu, Bác lại càng chú ý điều đó nhiều hơn. Bác luôn luôn nhắc lại câu nói của Xta-lin: "Cán bộ quyết định hết thảy".

    Trong gian nhà lá đơn sơ bên rừng Nà Lứa, Bác đã trải qua những ngày thật thiếu thốn, gian khổ, nhưng tinh thần làm việc và nghị lực thì thật phi thường. Trong những giờ phút hết sức mệt nhọc, nguy kịch ấy Bác vẫn giữ được trí tuệ rất sáng suốt, minh mẫn. Bác ân cần dặn dò từng việc lớn và truyền lại cho các đồng chí của Đảng ta tấm lòng kiên quyết lớn lao của mình đối với sự nghiệp giải phóng Tổ quốc, trong việc nắm lấy thời cơ để hành động. Trong những ngày ấy gần như cả thủ đô cách mạng lo lắng, âu sầu. Không những cán bộ, đảng viên mà cả những quần chúng cứu quốc, khi biết tin "đồng chí già" đau yếu, ai nấy đều cảm thấy lòng mình trĩu nặng. Thuốc men thiếu thốn, các cụ già, các quần chúng cứu quốc trong làng bảo nhau đi tìm kiếm thuốc bằng lá, rễ cây về để đưa cho "đồng chí già" sắc uống. Có một người ra tận sông Đáy tìm bắt được một con ba ba, đem ra lán cắt tiết hòa rượu để làm thuốc mời Bác.

    Sau đó ít lâu cơn bệnh của Bác lui dần. Bầu trời Tân Trào càng như dần dần quang sạch mây đen. Tất cả chúng tôi đều thở trút ra, mừng vui khôn tả..."[6]

    *
    "... Mùa hè năm 1945, chúng tôi đến Tân Trào. Tôi cùng anh Trường Chinh, anh Hà Huy Giáp, và một số đại biểu đi dự Đại hội Mặt trận. Đi trong khu giải phóng, thở hít không khí tự do, người thấy nhẹ nhàng. Liên lạc dẫn chúng tôi tới một cơ quan. Chúng tôi thấy lố nhố những anh chị em du kích, tự vệ, mang gươm, mang súng. Người thì đang làm nhiệm vụ canh gác, người đang họp bàn công tác. Từ người dân mất nước, trong tay không một tấc vũ khí, nay đứng trước quang cảnh ấy, cả đoàn đại biểu đều cảm động, có người rưng rưng nước mắt. Tôi được tin ông Cụ đã ở Tân Trào, nên quên cả mỏi mệt, định tiếp tục đi ngay, vì từ cơ quan này vào trong ấy cũng gần thôi. Nhưng một trận mưa to sập đến. Suối dềnh lên, đường bị nghẽn. Chúng tôi đành phải nghỉ lại đây. Suốt đêm tôi thao thức. Hết nghĩ đến ông Cụ, lại ngắm nhìn những đồng chí du kích bố trí bảo vệ đoàn đại biểu. Lắng nghe thấy mấy đồng chí nói tiếng Tày Cao Bằng, tôi nghĩ ngày mai vào gặp ông Cụ, chỗ ở chắc là còn nghiêm mật hơn thế này.

    Sáng hôm sau, cơm nước xong, chúng tôi vào Tân Trào. Tới nơi anh Võ Nguyên Giáp cho chúng tôi biết ông Cụ đang chờ, nhưng ốm lắm. Mấy hôm trước, bệnh tình có vẻ nguy kịch, tưởng chết. Ông Cụ đã một lần cho gọi anh Phạm Văn Đồng và anh Võ Nguyên Giáp vào bàn các công tác như có ý giối giăng. Rồi anh Giáp dẫn chúng tôi đến chỗ Bác ngay. Qua cây đa Tân Trào, lội một con suối, tới chân đèo Nhe, đi sâu vào chừng vài trăm thước. Tôi tiến vào một nhà sàn thấp, ngạc nhiên vì thấy việc bảo vệ gần như không có. Trong nhà sàn bên cạnh, chỉ có mấy đồng chí phụ trách máy vô tuyến điện.

    Bước vào cái lều Bác ở, tôi rất cảm động. Nhà trống hơ trống hác, bốn phía không có phên che. Ngoài chiếc máy đánh chữ và một ít giấy, không có một thứ đồ đạc gì khác. Bây giờ đã vào thu, lại sau những trận mưa liên miên, khí trời lành lạnh, Ông Cụ ngồi xổm một mình trên sàn. Tôi nhận ra ngay ông Cụ, nhưng ông Cụ hom hem quá, khác hẳn đồng chí Vương hồi trước, ông Cụ đã để râu, tóc lốm đốm bạc, hai má hóp lại. Đầu đội miếng vải túm lại như mũ nồi mình mặc áo cộc chàm; hai thân gầy khẳng khiu làm cho hai ống quần soóc càng rộng. Chỉ có đôi mắt là vẫn sáng như xưa.
    Chúng tôi hỏi thăm sức khỏe, hỏi về thuốc men, Bác nói:

    - Có một bà con thiểu số ở đây vào rừng lấy thuốc lá về cho mình uống. Uống mấy hôm nay đã đỡ.

    Bác bảo mọi người ngồi. Giọng nói không có gì đổi khác vẫn từ tốn, đầm ấm như trước. Sau bao nhiêu năm bây giờ mới gặp lại Bác, tôi ngồi nghĩ liên miên, nghĩ chuyện ngày xưa, nhớ những lời Bác dặn dò, rồi tin Bác bị bắt, ho lao chết, rồi bây giờ không ngờ lại trở về đây. Hôm ấy tôi không nói được chuyện riêng với Bác. Chúng tôi vào thăm Bác, và để bàn với Bác về công việc chuẩn bị hội nghị Trung ương. Khi bàn công việc, Bác vẫn minh mẫn, khẩn trương. Tôi nhớ khi ấy Thường vụ chưa ấn định dứt khoát ngày họp của hội nghị Trung ương mờ rộng. Bác nói:

    - Nên họp ngay, và cũng không nên kéo dài hội nghị. Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút. Tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội.

    Một mặt Thường vụ họp, một mặt Bác đề nghị một số đồng chí đi dự hội nghị Trung ương phải về ngay địa phương, nắm lấy những ý kiến của Ban thường vụ đem về mà thi hành. Ngày ẩy, Nhật chưa đầu hàng đồng minh. Bác nói: "Chỉ vài ngày nữa là nó hàng, và hàng không điều kiện". Vài hôm sau, trong khi hội nghị Trung ương đang họp, chúng tôi được tin phát xít Nhật đầu hàng.

    Bác tuy ốm yếu, nhưng dự họp suốt từ đầu tới cuối với Ban Thường vụ. Ngày 13, 14, 15-8-1945, hội nghị Trung ương lần thứ chín họp. Những quyết định của hội nghị này có một tầm quan trọng rất lớn đối với vận mạng của dân tộc ta.

    Cuộc thảo luận ở hội nghị Trung ương thật sôi nổi và gay go. Bàn nhiều nhất là hai khả năng của cách mạng. Khả năng thứ nhất là ta lấy lại được nước, nắm được chính quyền, tức là có cương vị nói chuyện với đồng minh. Khả năng thứ hai là lực lượng chủ quan của ta yếu, không thừa được thời cơ thuận lợi mà giành lấy chính quyền trước khi đồng minh kéo vào - mà đồng minh là có Pháp ở trong, - thì tức là phải đặt vấn đề đàm phán với Pháp, đòi quyền tự do, dân chủ, nắm lấy đấy mà tuyên truyền, giác ngộ quần chúng nhân dân, đẩy mạnh phong trào cách mạng hơn nữa để tiếp tục đấu tranh với Pháp cho đến thắng lợi cuối cùng.

    Tôi nhớ khi bàn đến khả năng Pháp có thể trở lại, có đồng chí uất quá nói: nó vào thì cứ đánh, dù lực lượng nhỏ đến đâu cũng đánh. Đấy là những lời tâm huyết, biểu lộ một tấm lòng nhiệt tình yêu nước. Nhưng khách quan mà nhìn nhận vấn đề, thì đánh Pháp lúc ấy phức tạp là vì nó núp sau danh nghĩa đồng minh.

    Vì điều kiện sức khỏe, Bác không dự hội nghị Trung ương được suốt. Nhưng Bác góp rất nhiều ý kiến. Bác rất sáng suốt và bình tĩnh. Bác phân tích tình hình một cách rõ ràng và khoa học. Bác nhận định cách mạng là một cuộc đấu tranh lâu dài, làm cách mạng phải chiến đấu hết keo này đến keo khác. Trước mắt là phải nỗ lực phát động một cao trào khởi nghĩa, đã có khu giải phóng rồi phải mở rộng khu giải phóng ra khắp nơi trong nước, dù lực lượng còn nhỏ cũng lập khu giải phóng, trước khi đồng minh vào. Tích cực thì nắm được thời cơ. Không tích cực thì thời cơ không chờ mình...

    Hội nghị quyết định phát động một cao trào khởi nghĩa suốt từ Bắc chí Nam. Ai nấy đều bừng bừng phấn khởi. Ngày nay ta đã có một khối nhân dân đoàn kết, giác ngộ và lớn mạnh, có một chính quyền vững chắc, có một quân đội chiến thắng, nhưng ngày nay nghĩ lại những ngày trứng nước của cách mạng, ta mới càng thấy hết những khó khăn của thời bấy giờ, mới càng thấy thắng lợi ngày ấy thật là to tát. Nhân dân ta khi ấy chưa thạo bắn súng. Lực lượng vũ trang có vẻn vẹn vài nghìn khẩu súng gồm rất nhiều kiểu Pháp, Anh, Đức, Nhật, và súng kíp, súng hỏa mai của ta, mà lực lượng địch thì hùng hậu, vũ khí hiện dại. Liên- xô thắng Đức, Nhật là một viện trợ tinh thần rất lớn. Nhưng quyết định thắng lợi của cách mạng tháng Tám vẫn là do sự lãnh đạo khôn khéo, kiên quyết của Đảng và do lòng yêu nước và tinh thần quật khởi của nhân dân ta. Càng thấy dân tộc mình anh dũng thật.

    *

    Một buổi tối, hình như sau cuộc họp của Ban Thường vụ thì phải, chúng tôi đốt đuốc vào thăm Bác. Tôi ngồi gần Bác, Bác đang nói chuyện với các anh ấy, bỗng nhìn tôi và nói:

    - Trông chú già đi nhiều

    Tôi hỏi lại :

    - Bác còn nhớ tôi cơ ạ ?

    - Nhớ chứ.

    - Thưa Bác, trông Bác cũng già đi nhiều.

    Tôi nhắc lại chuyện hồi ở tù đọc báo thấy tin Bác bị bắt, rồi tin Bác mất vì ho lao, v.v... Bác nói:

    - Đúng đấy. Hồi ấy, mình cũng đọc cái tin ấy. Thực dân Pháp thường đưa những tin như vậy để đánh vào tinh thần dân ta. Buồn cười là báo Anh lúc bấy giờ lại đả thực dân Pháp là hèn nhát, không hãm hại được người ta thì phao tin người ta chết!"

    *

    "...Sáng 16 tháng 8 năm 1945, Quốc dân Đại hội khai mạc ở Tân Trào. Bác được bầu vào trong đoàn chủ tịch. Từ khi trở về nước, đây là lần đầu tiên Bác tiếp xúc với một đại hội đại biểu nhân dân. Hôm ấy, ban tổ chức giới thiệu Bác là cụ Hồ Chí Minh, một nhà lão thành cách mạng. Nhiều đại biểu không khỏi ngạc nhiên vì chưa nghe thấy tên Hồ Chí Minh bao giờ. Nhưng một số người cũng đã thì thầm bàn tán về Bác mà người ta gọi là ông Ké Tân Trào. Mấy đại biểu kháo nhau: Cụ Nguyễn Ái Quốc đấy. Hồi ấy, chưa có tục vỗ tay. Nhưng khi nghe giới thiệu Bác, các đại biểu đều rất hân hoan. Bác hỏi thăm sức khỏe mọi người, niềm nở mời các đại biểu vào làm việc. Các đại biểu vừa phấn khởi vừa bồi hồi.

    Đại hội họp ở một gian bên. Gian chính giữa triển lãm những vũ khí lấy được của Nhật. Gian bên kia là chỗ ăn uống của đại biểu. Suốt ngày hôm ấy, Bác điều khiển hội nghị. Đại biểu nào cũng chú ý lắng nghe những ý kiến của Bác. Anh Trường Chinh đọc báo cáo trước đại hội, nêu ra hai vấn đề lớn để đại hội thảo luận: Tổng khởi nghĩa và bầu Ủy ban giải phóng dân tộc. Ngoài ra, còn có các bản báo cáo về phong trào công nhân của anh Hoàng Quốc Việt, về tình hình nông hội của anh Trần Đức Thịnh, về văn hóa của anh Nguyễn Đình Thi. Đoàn đại biểu nhân dân Tân Trào đem gạo, đem bò, đem gà đến mừng đại hội. Một ông già người Tày dắt một con bò đến tặng. Đồng bào ta đã bị chiến tranh bòn mót đến xương tủy, ai nấy đều tiều tụy, rách rưới. Đáng thương nhất là các em bé thiểu số gầy gò, vàng vọt. Chúng nó ở truồng tồng ngồng, theo người lớn đến chào Quốc dân đại hội. Bác đến gần các cháu, chỉ vào chúng và nói với các đại biểu:

    - Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm sao cho các em bé có cơm no, có áo ấm, được đi học, không lam lũ mãi thế này.

    Chúng tôi đều cảm động. Câu nói ấy, về sau này Bác thường nhắc nhở luôn luôn.

    Quốc dân đại hội quyết định lệnh Tổng khởi nghĩa và bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc mà Bác làm Chủ tịch. Bác tổng kết đại hội lịch sử này, động viên các đại biểu trở về địa phương nỗ lực phấn đấu, giành lấy thời cơ thuận lợi có một không hai để đưa cách mạng đến thành công.

    Sáng ngày mười bảy, Ủy ban giải phóng dân tộc ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ. Tôi được cử đi đón Bác. Mấy hôm ấy trời mưa, đường lội. Bác đi chân đất. Gần tới đình Tân Trào, Bác xuống suối rửa chân. Suối sâu, đường trơn và dốc. Thấy Bác chưa được khỏe, tôi chạy lại đỡ. Bảc gạt đi và bảo: "Không sao, chú cứ đi".

    Khi Bác từ dưới suối lên, các vị trong Ủy ban đã đứng ở trước đình chờ sẵn. Bác bước tới và đứng vào giữa. Bác thay mặt Ủy ban, hướng lên lá cờ đỏ sao vàng dựng trước đình, đọc lời tuyên thệ. Lời thề rất ngắn, nhưng rất súc tích, như mọi câu nói, mọi bài viết của Bác. Tôi không nhớ được lời văn, chỉ nhớ đại ý như sau:

    "Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Ủy ban giải phóng dân tộc để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân ta. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, quyết không lùi bước. Xin thề!".

    Giọng Bác trang nghiêm, lời thề dõng dạc, biểu lộ cái khí phách kiên cường, dũng cảm, quật khởi của dân tộc ta. Chúng tôi thấy rạo rực trong người, và giơ tay theo kiểu chào bình dân, hô một cách mạnh mẽ: Xin thề!

    Du kích bắn mấy loạt súng chào mừng Ủy ban giải phóng dân tộc..." [7]


    [1] Chu Văn Tấn — "Bác về Tân Trào", trong tập "Bác Hồ", Nhà xuất bản Văn học, năm 1960.

    [2] Tức 1945

    [3] Tức tháng Ba 1945

    [4] Ý nói việc chính trị

    [5] Ý nói khi tổng khởi nghĩa xong, cán bộ rút đi nơi khác

    [6] Song Hào, trong tập "Dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng", Nhà xuất bản Quân đội, năm 1970.

    [7] Nguyễn Lương Bằng, trích bài: "Những lần gặp Bác", trong tập "Bác Hồ", Nhà xuất bản Văn học, năm 1960.