1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0081.0004-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki

13/1/16
0081.0004-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    ngụ tỉnh Vân-nam. Có người làm nên, đời đời được tập phong tước vương. Một chi thiên ra ở xã Tào-sơn huyện Ngọc-sơn, cũng kế thế đăng khoa. Còn có một chi thì ở xã Hội-trào, huyện Hoằng-hóa, sinh ra ông Lương-đắc-Bằng, đỗ Bảng-nhãn trong thời Cảnh-thống đời vua Hiến-tôn nhà Lê.

    Lương-đắc-Bằng vì có người họ ở Tàu, mới mua được nhiều thứ bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào quí, cho nên học giỏi về nghề lý số. Ngoại 50 tuổi, chưa có con giai, chỉ có người vợ lẽ có mang được 3 tháng. Khi gần mất, dặn vợ lẽ rằng:

    - Nếu mai sau sinh được con giai, thì tất nó làm nên công danh sự nghiệp, tỏ rạng cửa nhà. Khi nào con nhớn, thì nên cho đến học ông Trạng Trình ở huyện Vĩnh-lại, thì mới giữ được nền nếp nhà ta.

    Nói đoạn thì mất. Về sau quả người vợ lẽ sinh được con giai, mới đặt tên là Hữu-Khánh.

    Hữu-Khánh thông minh sớm, mười tuổi đã biết làm văn; mà sức ăn cực khỏe, thường ăn gấp ba bốn phần người thường mới no. Mẹ lắm khi nhịn đói để con ăn.

    Nhà ông ấy nghèo, mới bảo với mẹ rằng:

    - Cha tôi khi xưa làm quan thanh liêm, đến nỗi con cháu không đủ cơm cháo mà ăn, vậy mẹ cho tôi đi nơi khác, tùy đường kiếm ăn, kẻo để phiền đến bụng mẹ.

    Mẹ buồn rầu nói rằng:

    - Mẹ con không nuôi được nhau, đến nỗi để con đi tha phương cầu thực, mẹ lấy làm đau xót ruột lắm.

    Nói thế rồi, ứa hai hàng nước mắt. Ông ấy từ mẹ đi ra, sang các nhà học-trò bên cạnh huyện ngâm thơ làm phú để độ thân.

    Một khi đi qua bến đò sông Tam-kỳ, gặp 5,6 nhà sư tự đám chay về, mang một cái đẫy có 100 phẩm oản. Ông ấy từ nói rằng:

    - Học-trò nghèo nhịn đói đã mấy hôm nay, may gặp được Đại-bồ-tát, tưởng là có bụng bố-thí làm sao, lại bủn xỉn cho được vài phẩm oản, thì ăn chả bõ dính mồm.

    Có một nhà sư già cười nói rằng:

    - Thầy kia đã gọi là học-trò, thì thử làm một bài thơ “Học-trò đi thuyền chung với nhà sư”, hễ sang khỏi sông mà xong bài thơ, thì có bao nhiêu oản xin biếu cả.

    Ông ấy ngồi trong thuyền, ngâm ngay một bài thơ như sau này:

    Một pho kinh sử bộ kim-cương,

    Đây đấy cùng thuyền khéo một đường!

    Trong hội cổ đàm ngươi thảo thích;

    Trên ngôi đài-các tớ nghênh ngang.

    Truyện xưa người vẫn căm Hàn-Dũ,(1)

    Việc trước ta còn oán Thủy-hoàng.(2)

    Gặp gỡ mảy may rồi lại biệt,

    Kẻ tròn quả phúc, kẻ vinh xương.

    Chưa sang khỏi đò đã vịnh xong bài thơ. Nhà sư mừng rỡ, giốc cả đẫy oản ra cho ông ấy. Ông ấy ngồi ngay đầu thuyền ăn một lúc hết 80 phẩm oản. Người trong thuyền ai cũng ngạc nhiên, nhà sư lấy làm kỳ dị, lại tặng thêm một quan tiền và nói rằng:

    - Thầy có tài như thế, nay tuy còn ở trong trần ai, nhưng tất có ngày làm nên hách dịch. Sư nghèo này xin dâng một bữa, ngày sau có đắc chí, đánh dẹp đốt phá ở đâu, thì xin chừa những nơi chùa chiền ra, mới là ân huệ.

    Sang khỏi đò, ông ấy từ bọn sư đi rồi. Bấy giờ đang lúc Lê, Mạc đánh nhau, dân xã điêu tàn, ông ấy đi đến đâu không kẻ nào nhìn đến, có khi ba ngày mới được ăn một bữa, thường vẫn phải làm mướn kiếm ăn.

    Một buổi, sớm đến làng Vĩnh-trị, gặp một bà già ra chợ, gọi người thuê làm ruộng hoang. Hỏi mấy mẫu, thì bà già đưa đến chỗ ruộng sâu, trỏ ra bảo rằng:

    - Chỗ ruộng kia nước sâu, mà cỏ mọc lùm tùm, ước chừng năm mẫu.

    Ông ấy bảo rằng:

    - Bà cụ về nhà, thổi cơm độ mười người ăn, và đem sẵn tiền gạo thuê công đến bờ ruộng này, để tôi gọi giúp người làm cho.

    Bà kia y nhời ấy giở về làm cơm. Ông ấy mới cầm một con dao to lội xuống ruộng dọn cỏ, chưa đến buổi trưa, đã dọn quang cả 5 mẫu ruộng. Dọn xong, nằm ngủ dưới gốc cây, tiếng ngáy như sấm.

    Một lát, bà già sai người nhà đem cơm đến, gọi ông ấy thức dậy, ông ấy ăn một lúc, hết cả hai mâm cơm, rồi lấy tiền gạo mà đi.

    Chúng tưởng là thần, dần dần mới biết là con quan Bảng-nhãn ai nấy phàn nàn không ngần nào.

    Đến năm 18 tuổi, nhớ nhời cha dặn, mới đến học quan Trạng Trình. Bấy giờ học-trò quan Trạng hơn 3.000 người, duy có ông Kế-Khê là hay chữ nhất trường, khi ông Hữu-Khánh đến học, mới làm ba kỳ văn, đã đè lên ông Kế-Khê.

    Trình tiên-sinh vốn là học-trò ông Lương-đắc-Bằng khi xưa, nay thấy con thầy đến học, hay chữ như thế, có bụng quí trọng trăm phần, thường tư cấp cho để mà học.

    Bấy giờ nhà Mạc mở khoa thi, ông Lương-hữu-Khánh vốn không có bụng làm quan với nhà Mạc, nhưng ngặt vì nhà nghèo và còn mẹ già, bất-đắc-dĩ phải ra thi. Khi thi thì bốn kỳ cùng thứ nhất, mà văn ông Kế-Khê thì đỗ thứ nhì. Đến lúc hồi phách(3), quan Tràng thấy ông ấy là người Thanh-hóa mới đánh xuống thứ nhì mà ông Kế-Khê lên đỗ thứ nhất (vì bấy giờ tự Thanh giở vào thuộc nhà Lê, tự Ninh-bình giở ra thuộc về nhà Mạc). Ông Hữu-Khánh thấy xử thiên tư làm vậy, mới bỏ không vào thi đình nữa, vì thế ông Kế-Khê mới đỗ Trạng-nguyên.

    Khi ấy, Hữu-Khánh trọ ở hàng Bông, một hôm để dành được 6,7 đấu gạo, và hai lọ nước mắm. Thổi cơm rồi giải chiếu xuống đất ngồi ăn, rung đùi đắc chí, cười vang lên nói rằng:

    - Thế này chẳng kém gì mâm cơm nhà quan!

    Xẩy có một ông quan tự trong triều trở về, nghe thấy tiếng cười nói, dừng xe lại nhìn, lấy làm kỳ dị, cho 5 quan tiền, rồi tiến lên với vua nhà Mạc.

    Vua Mạc sai sứ đến nhà trọ, khuyên dụ trăm triều, Hữu-Khánh nhất định không ra làm quan. Tự bấy giờ lại đi bơ vơ, nay đây mai đó, con một nơi, mẹ một nẻo, trông cảnh động lòng, lắm phen chua xót.

    Nhà Lê bấy giờ khởi quân ở phủ An-tràng, vốn nghe tiếng ông Hữu-Khánh là người tài lạ, nhiều khi muốn sai người ra đón về giúp, nhưng vì đường xá xa khơi, đi lại gian hiểm, cho nên chưa có dịp nào mà đem về được.

    Vài năm sau, Kế-Khê được cầm quyền chính nhà Mạc, sai người tìm Hữu-Khánh thì gặp cả hai mẹ con ở huyện Lục-ngạn tỉnh Bắc đem về, Kế-Khê nghĩ tình bạn, lưu ở trong nhà, cung đốn tử tế, và khuyên dỗ cho ra làm quan, nhưng Hữu-Khánh biết cơ nhà Lê sắp trung hưng, có ý muốn phò nhà Lê, cho nên không ra làm quan với nhà Mạc.

    Kế-Khê biết ý Hữu-Khánh, muốn đuổi đi nhưng không nói ra, nhân một bữa ở trong triều về, giả tảng nói rằng:

    - Tôi hôm nay phụng chỉ làm một bài phú, nhưng việc quan bận bội lắm, nhờ anh làm giúp cho tôi.

    Nói rồi, thò tay vào túi, lấy ra một mảnh giấy đầu bài, đưa cho ông Hữu-Khánh, Hữu-Khánh thấy đầu bài: “Tần quan văn kê”(4), biết ý là muốn đuổi mình, lập tức dặn mẹ đi lẻn ra bến Hoàng-liệt về Thanh-hoá trước, mà mình thì mật đưa một bài biểu bào An-tràng, hẹn ngày ấy thì đem thuyền ra đón tại cửa Thần-phù.

    Được vài hôm, làm xong bài phú, để trên đầu giường, rồi lẻn ra đi gấp đường xuống cửa bể Thần-phù. Khi Kế-Khê ở trong triều giở về, đến nhà học, không thấy ông Hữu-Khánh đâu, cho đi hỏi khắp các nhà anh em bạn học, cũng không thấy tin tức gì cả. Xẩy thấy trên đầu giường có bài phú, trong bài có câu rằng: “Lưu khách hóa ra đuổi khách đi”. Kế-Khê ngạc nhiên nói rằng:

    - Anh này đi mất, triều-đình còn là nhiễu về anh này!

    Lập tức sai quân đi các ngả đuổi theo bắt về. Khi Hữu-Khánh đến cửa Thần-phù, thì vua Lê đã sai năm chiếc thuyền chiến và 1.000 quân ra đón. Hữu-Khánh vừa bước chân xuống thuyền thì quân nhà Mạc đuổi theo vừa đến.

    Hữu-Khánh ngồi trong thuyền gọi to lên bảo rằng:

    - Gửi nhời các anh, về ta ông Kế-Khê, ngày sau ta sẽ xin đền giả ơn.

    Khi về đến cửa phủ An-tràng, Vua Lê mừng rỡ lắm, cử làm Thị-lang, cho tham tá việc quân cơ. Hữu-Khánh bầy ra mưu mẹo gì cũng đắc cả, vua tin dùng hơn cả mọi người, sai cầm riêng một đạo quân đi dẹp giặc. Hữu-Khánh nhớ đến nhời nhà sư khi trước, phàm các trận mạc, thấy chỗ nào đồn giặc đóng cạnh chùa chiền, thì rút quân lảng đi không đánh, để tránh sự phá hại nhà chùa.

    [​IMG]Về sau làm đến Binh-bộ thượng-thư, công nghiệp hiển hách vào bậc danh-thần đời trung-hưng

    Hàn-Dũ đời nhà Đường, xin hủy tượng phật và đốt bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào phật.

    Thủy-hoàng chôn học-trò và đốt bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào nho.

    Quyến thi rọc tên ra, gọi là rọc phách. Đến lúc chấm văn xong lại dán tên lại gọi là hồi phách.

    Nghĩa là cửa ải nhà Tần nghe tiếng gà gáy. Ngày xưa Mạnh-thường-Quân ở nước Tần trốn về Tề, ra đến cửa ải thì cửa ải còn đóng chưa mở. Lệ lính canh ải, hễ gà gáy thì mới mở cửa cho khách đi lại. Trong bọn đầy-tớ Mạnh-thường-Quân, có người giả làm gà gáy. Các gà canh đấy tưởng là giời sắp sáng, đua nhau gáy ầm cả lên, lính canh mới mở cửa, Mạnh-thường- Quân vì thế chạy được thoát.

    14.- Phạm-đình-Trọng

    Phạm-đình-Trọng người làng Kinh-dao, huyện Giáp-sơn, tỉnh Hải-dương.

    Tục truyền ngài là thần Ngũ-hồ giáng sinh(1). Năm 26 tuổi, đỗ Tiến-sĩ, quan trường là Nguyễn-trọng-Quát xem văn của ngài, đã mừng cho triều-đình được người kinh-luân giỏi.

    Năm Cảnh-hưng thứ nhất (1740), được cử làm Giám-sát ngự-sử, một khi ở kinh về, ngủ trọ làng Hoàng-xá, huyện Kim-thành, trông thấy một người nằm núp trong đống củi, bắt ra tra hỏi, thì là tướng giặc tên quận Gió, ngài bắt đem nộp, được thưởng 300 quan tiền.

    Năm Tân-sửu, ngài làm Hiệp-đồng, kiêm chức Phòng-ngữ-sứ, phải đi dẹp giặc, bắt được hai tướng giặc là ngụy Cừ và ngụy Tuyển ở núi Ngọa-vân, đóng cũi đem về kinh-đô, được phong làm Công-bộ Hữu-thị-lang.

    Bấy giờ trong nước lắm giặc, mà kiệt hiệt nhất là quận He tên chữ là Nguyễn-hữu-Cầu, quận He là người làng Lôi-đỗng, huyện Thanh-hà có sức khỏe như thần, mỗi khi lâm trận, chỉ cắp hai thanh siêu-đao phi ngựa xông vào, quan quân tan giãn, không ai địch nổi, đã có tiếng gọi là Hạng-võ nước Nam. Tục truyền là thần cá bể sinh ra, cho nên lại tài nghề lặn nước.

    Quận He quấy nhũng vùng đông-nam, quan quân đánh mãi không trừ được. Ngài phụng mệnh đúc quân thủy; đóng ở bờ sông cạnh núi Đồ sơn, huyện Đông-triều. Một hôm, ngài đang ngồi trong thuyền, không ngờ quận He lặn ngầm dưới nước, nhẩy vọt lên thuyền, giết chết một tên lính. Ngài vội vàng đóng cửa thuyền hô to lên rằng:

    - Tao đã chém được quận He rồi đây!

    Chúng tưởng thực xô cả lại, quận He phải nhẩy xuống sông, núp dưới bánh lái. Ngài sai quân cầm giáo đâm xỉa xuống, quận He chạy mất.

    Lại một hôm, ngài chỉ có một chiếc thuyền đóng ở bến Triều, bất-thình-lình giặc kéo 3 thuyền đến vây lại đánh, ngài xuất thủ-hạ đánh hăng sức quá, giặc phải bỏ mà chạy, vua khen là mưu dũng hơn người, phong làm Giao-lĩnh hầu.

    Năm Nhâm-tuất, vua triệu ngài về sai làm chủ khảo thi hội. Thi xong, lại sai cùng với Tuân quận-công tiến quân đi đánh giặc. Vua hỏi những cơ mưu đánh giặc, ngài tâu tường tận lắm, vua mừng mà thưởng cho 3 cấp và 300 quan tiền.

    Năm Giáp-tí, quận He chiếm giữ núi Đồ-sơn ở phủ Kinh-môn, tán tí, tàn vàng, lừng lẫy một vùng bãi bể, tự hiệu là nhà Triều, thủ-hạ có 18 quận-công, và bốn trăm vạn quân, thanh thế rất là hách dịch.

    Ngài phụng mệnh làm Thống-lĩnh Bình-khấu đại-tướng-quân được quyền sai phái binh mã thủy bộ các xứ Hải-dương, Kinh-bắc, Sơn-mam, An-quảng. Ngài nhận chức, coi việc đánh giặc là trách nhiệm của mình. Khi cất quân ra khỏi cửa phủ, đóng cờ ở đình Quảng-văn, rồi vào hầu hoàng-thượng ở trong đền chính. Hoàng-thượng an ủy một hồi, rồi ngự viết một đạo sắc ban cho.

    Sắc rằng:

    Trăm họ đâu cũng là binh, kho tàng đâu cũng là của, cho người tùy tiện mà làm được việc, nhất thiết giao phó cho ngươi cả đó”.

    Ngài lạy từ đi ra, tiến binh đến thẳng núi Đồ-sơn, chiếm chỗ núi cao hạ trại, rồi dùng mẹo đánh phá, sai quân thủy chặn đường tải lương của giặc ở các cửa bể; mà ngài mang một đạo binh, đi ngầm đàng mé sau núi, chặt cây cối mở lối đi, rồi xe súng nhớn lên đỉnh núi, bắn vào trong trại giặc, giặc phải trốn đi nơi khác, lại chiếm giữ mạn sông Thương ở tỉnh Kinh-bắc; đắp thành Thọ-xương, dần dần lại chiếm được hết tự bờ sông giở sang bắc.

    Bấy giờ Hoàng-ngũ-Phúc (quận Việp) đang làm thống lĩnh tỉnh Bắc, đem quân đánh nhau với giặc, đánh ba trận thì thua cả ba, vì thế giặc lây láng ra mọi nơi.

    Năm Ất-sửu, ngài lại phụng mệnh đốc chiến. Một hôm, ngài đang ngồi ở mé nam bờ sông Thương, cùng với một người khách uống rượu, bàn việc binh. Giặc ở bên kia bờ sông, bắn sang một phát, chết mất một tên lính hầu. Người khách xin ngài hãy tạm lánh đi. Ngài nói rằng:

    - Ba quân hay dở, quan hệ về một ông tướng, nếu mà ta lui đi, thì giặc tất kéo sang sông ngay.

    Bấy giờ giặc giàn chiến-thuyền ở mé bắc; mà cắm cờ ở cửa sông để phòng quan quân tràn vào, ngài sai đắp lũy ở trên bờ sông làm kế vững bền; một mặt thì sai kéo tự trên thượng-lưu, di chuyển đường bộ kéo xuống, đến làng Đa-mai, huyện An-dũng, thủy bộ giáp hai mặt lại đánh. Giặc núng thế, muốn phá cừ để chạy ra ngoài, nhưng không ngờ cừ đã bị quân của ngài đóng kĩ lại từ bao giờ không sao phá mà ra được, giặc phải bỏ cả thuyền chạy lên bộ, quan quân đuổi đánh, bắt được rất nhiều.

    Vua được tin mừng lắm, thưởng cho 10 lạng vàng và vài trăm thẻ bạc, để tùy ý thưởng cho tướng-sĩ. Vua lại viết bốn chữ “Văn võ toàn tài” ban cho.

    Khi ấy lại có đám nghịch Ngũ chiếm giữ làng Ngọc-bội, đã được vài năm, thế cũng hùng dũng. Phan-phái hầu là Nguyên-Phan đem quân đi đánh, bị giặc vây ở làng Hương-canh. Vua sai ông Quốc-cữu cầm 18 cơ binh lên đánh giải vây, đánh hơn một tháng giời không được. Vua thấy mặt đông-bắc đã hơi yên, mới triệu ngài về sai lên dẹp mặt Sơn-tây.

    Khi ngài về vào chầu, vua ban cho một thanh gươm bảo rằng:

    - Từ phó-tướng trở xuống, hễ ai không tuân nhời, cho phép cứ chém; còn cái áo gấm ban cho tướng trước sai đi, làm không nổi việc, cho người lên mà đòi lấy, hẹn cho 10 hôm thì phải xong việc.

    Ngài cứ mang quân đi. Khi đến gần chỗ đất giặc, ngài cưỡi voi trèo lên trái núi trông xem, thì thấy khu giặc ở có 15 ngọn đồn, liên-tiếp với nhau; mà chung quanh ngoài lũy thì toàn đồng lầy cả. Ngài mới truyền cho quân mỗi người phải mang một bó củi và một bó đuốc, nửa đêm kéo quân vào, sai ném củi xuống, đồng lầy làm đường đi, rồi phá trộm lũy vào chính trại to của giặc, phóng hỏa đốt trại, rồi thì trong ngoài đánh ập vào, đốt luôn cả các đồn khác. Giặc đánh không nổi phải tan chạy, mới giải được vây cho Phan-phái hầu.

    Người ngồi trên đầu voi, thảo biểu dâng về tâu công, và sai người lại đòi áo gấm của tướng trước, rồi đem quân về chầu, bấy giờ mới có 6 ngày.

    Vua mừng lắm, cho ngồi ăn yến cùng một chiếu với Việp quận-công.

    Vua bảo rằng:

    - Nghịch Ngũ tuy nhiên dông dỡ, nhưng chẳng qua chỉ là giặc giữ nhà mà thôi. Còn như nghịch He, nó còn ra vào bất trắc lắm, ngươi phải lưu tâm mà đề phòng, vậy ngươi nên về ngay dưới mặt đông-nam mới được.

    Ngài lạy tạ, lập tức lên đường, về đến trại cũ ở làng Bối-thị huyện Vĩnh-lại, khao thưởng quân sĩ, nói phao lên rằng: cho quân vui chơi ăn uống năm ngày.

    Bỗng dâng đến nửa đêm hôm thứ ba, nghe tiếng trống om sòm, thì ra ngài đã mang quân thủy đuổi đánh quận He ở ngã ba sông Tranh. Các tướng cũng kéo quân bộ ra đánh, quận He phải chạy trốn mất. Các tướng ai nấy mừng rỡ, nhưng không biết vì cớ gì mà ngài biết trước giặc đến mà đánh ngay được như thế.

    Các tướng hỏi thì ngài bảo là:

    - Ta mới tự kinh-đô lại đây, giặc tất có người do thám. Hôm thứ nhất, nó xem ta động tĩnh thế nào. Nó thấy ta nói phao lên cho quân ăn uống năm ngày, tất nó đồ rằng quân ta trễ nhác. Sang ngày thứ hai, nó tất đem ngầm quân đến đánh quân ta, ngày thứ ba thì nó đến nơi, cho nên ta đón đường trước mà đánh. Đó là phép binh dử cho người đến mà đánh đấy.

    Các tướng ai cũng chịu là mẹo cao. Ngài lại sai đem quân chia giữ các nơi xung yếu; và sức cho dân phải giữ giúp cho nhau, hễ có giặc phải báo quan ngay, để đem binh đến tiễu. Từ đấy thế giặc mỗi ngày một kém, dần dần quân thưa lương cạn.

    Một hôm, quận He sai người cầm giấy lại trình ngài, trong giấy viết ra một câu đối rằng:

    - Ngọc tàng nhất điểm; xuất vi chúa, nhập vi vương(2)

    Ngài lập tức viết lại đối rằng:

    - Thổ tiệt (截) bán hoành; thuận giả thượng, nghịch giả hạ(3).

    Quận He trông thấy, vừa sợ vừa thẹn, không dám đánh nhau nữa. Mới sai người đem vàng bạc hối lộ cho người quyền-thần phủ chúa tên là Đỗ-thế-Giai, giả tiếng xin ra hàng, mà kì thực muốn dùng chước hoãn binh. Đỗ-thế-Giai nhận lễ, nói với chúa Trịnh. Chúa Trịnh tin nhời cho hàng, và phong cho quận He làm Ninh-đông hầu, truyền đem thủ-hạ lại chầu.

    Phạm-đình-Trọng khăng khăng một mực xin đánh, thề không chịu cùng với giặc sống ở đời. Có quan Thự-phủ nhân có hiềm riêng với ngài, gièm pha với chúa Trịnh, để chúa Trịnh triệu ngài về kinh. Ngài thì biết cơ quận He trá hàng, mới đóng quân lại ở đồn Bôi-thị, và chiêu mộ thêm quân cường tráng các huyện Thanh-hà, Tứ-kỳ, Thượng-hồng, Vĩnh-lại, chia làm hai cơ nghĩa-binh, đặt tên gọi là cơ Thanh-kì và cơ Hồng-vĩnh, sai hai tướng thủ-hạ thống lĩnh hai cơ ấy.

    Quan Thự-phủ gièm với chúa Trịnh rằng:

    - Phạm-đình-Trọng chẳng khác gì Huyền-Đức, mà Thanh-kì thì là Quan-Võ, Hồng-vĩnh thì như Trương-Phi. Nay ông ta cầm đại binh ở ngoài, hoặc sinh bụng bất trắc thì làm thế nào?

    Chúa Trịnh vốn tin ngài, không nói gì đến, lại đưa cho một bài thơ để ngài yên tâm.

    Về sau quận He quả nhiên không ra hàng, cướp bóc vùng đông-nam lại càng nhũng lắm. Triều-đình sai quận Côn lĩnh binh đi đánh. Khi sang qua sông Nhị-hà, đến trạm Điên-dao, bị giặc đánh lừa, bắt sống được quận Côn, chư quân tan vỡ mất cả. Giặc bắt triều-đình phải chuộc quận Côn 300 lạng bạc, Kinh-thành nhao nhác cả lên.

    Chúa Trịnh lại sai ngài đi đánh. Ngài lập tức phái binh các đạo và quân nghĩa-binh tiến tiễu, đánh nhau ở Gia-phúc, Quảng-xuyên, An-ninh, Tông-hóa trận nào cũng được, giặc phải trốn đi nơi xa, dân vùng ấy được yên ổn.

    Khi trước ở bến Hồng-đàm châu Vạn-ninh, là một nơi rất hiểm ở miền bể đông. Có đám giặc Quan-lan, tụ đồ đảng giữ chỗ ấy làm sào huyệt, cướp bóc các thuyền buôn đường bể, việc buôn bán ta với Tàu đọng cả lại. Quan Tổng-đốc Quảng-đông, không sao trừ được, nhiều lần đưa giấy sang cho quan Tuần-phủ Yên-quảng, hợp binh tiễu giặc, đánh luôn mấy năm vẫn chưa xong. Khi ấy ngài đi tuần mặt bể đông, sai thuộc-tướng là Vinh-thọ hầu đem chiến thuyền đóng ở châu Vạn-ninh, nói phao lên rằng đánh giặc, hẹn ngày với quan Tàu để hợp tiễu. Mà ngài thì mật đem đội thuyền từ dưới núi Đề-thi, ra đường Bạch-long-vĩ, đến thẳng bến Hồng-đàm, đánh phá trại giặc, bắt được tướng đầu đảng và 7 người đồ đảng, đóng cũi nộp cho quan Tàu. Ngài thân đến chơi với quan Trấn-thủ Long-môn, người Tàu trông thấy ngài lấy làm lạ lùng, tiếc thay cho ngài lạ đại tài mà sinh về nước nhỏ, chính-nhân mà thời người quyền-thần.

    Quan Tàu tâu việc ấy lên vua Tàu. Vua Tàu khen nước Nam có người giỏi, yên được cõi ngoài ven, sai quan sang ban thưởng cho ngài áo đai, trăm tấm gấm, mười lạng vàng và phong làm Thượng-thư. Chúa Trịnh cũng phong cho ngài làm Binh-bộ Thượng-thư, bởi thế gọi là Thượng-thư hai nước.

    Sực lại có tin quận He quấy nhiễu các huyện Thần-khê, Thanh-lan, dân sự tàn hại. Chúa Trịnh lại sai ngài đi đánh. Ngài đi gấp đường đến huyện Ngự-thiên, đang cùng bàn mưu với quận Việp, xảy đâu giặc kéo đến vây kín làng ấy. Ngài sai chư quân giàn trận, cầm giáo trông về phía giặc. Một mặt sai quân đắp lũy. Ngài ngồi ngay trong trận thảo tờ hịch, sai đòi tướng tá lại hội. Đang khi ấy, giặc bắn chết một tên lính cầm nghiên mực, ngài sai tên khác thay vào, mà ngài thì cứ ngồi vững vàng như không, trỏ bảo các quân. Giặc thấy vậy không dám đến gần, phải tháo vây mà chạy. Ngài đem quân các đạo, thừa thế đuổi đánh, phá được giặc ở sông Lộng-khê (về huyện Phụ-dực). Lại đuổi đến làng An-vệ, huyện Quỳnh-côi, vây bọc được giặc hai ba từng. Quận He sai quân bó nhiều đình-liệu, nói phao lên rằng đến đêm thì đốt đình-liệu mà đánh ra, quân sĩ không ai dám chống lại, chỉ có một mặt của ngài vây mé ngoài thì giặc không dám cửa ấy.

    Về sau quận He trốn về Nghệ-an, hợp đảng với nghịch Diên, quấy nhiễu trong vùng Thanh, Nghệ, ngài đem quân vào Nghệ, đốt phá được trại giặc ở làng Hưng-lãm, rồi đánh tràn vào đến Bạch-đường, Bào-giang. Ngài suất bộ-tướng là quận Trân

Chia sẻ trang này