1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

10. superlazy (done)

30/7/15
10. superlazy (done)
  • Đại biểu của chủ nghĩa nhân vị tuyệt đối ở Mỹ là William Ernest Hocking (1873 - 1966).

    Trong những người theo chủ nghĩa nhân vị Mỹ đương đại có ảnh hưởng lớn còn phải kể tới V.H. Werkmeister, P.A. Bertocci, R.N. Beck cũng là những người kế thừa đường lối triết học của Bowne.

    Chủ nghĩa nhân vị có nguồn gốc tư tưởng rất phức tạp. Trước hết người ta bắt gặp khá đậm nét thần học của đạo Ky-tô, triết học của Thomas d’ Aquin. Ngoài ra, người ta còn thấy chủ nghĩa kinh nghiệm của Berkeley, chủ nghĩa đơn tử đa nguyên của Leibniz, chủ nghĩa hiện tượng của Kant, mục đích học của Lotze, chủ nghĩa duy tâm thuộc Anh. Đặc biệt chủ nghĩa nhân vị ở Mỹ chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng của William James và chủ nghĩa Hegel mới của Royce. Bowne gọi chủ nghĩa nhân vị là người môi giới giữa chủ nghĩa Hegel mới của Royce và chủ nghĩa thực dụng của James.

    Không nên nhìn nguồn gốc tư tưởng của chủ nghĩa nhân vị như một “chủ nghĩa chiết trung" bởi lẽ triết học nào chả phải dựa vào “tư liệu” đã có trong lịch sử. Cần nhìn ở đây một đặc điểm của triết học Mỹ bao giờ cũng coi trọng tính đa dạng, tính “cùng suy nghĩ” giữa các triết học, giữa chúng không có cái nào giữ “độc quyền".

    Chủ nghĩa nhân vị chào đời cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa thực dụng, triết học phân tích. Nhưng chủ nghĩa nhân vị vẫn có một sức sống bền vững và lâu dài. Những tác phẩm của Bowne, người sáng lập chủ nghĩa nhân vị vẫn được coi là chân lý đáng tin cậy nhất, vẫn đi vào đời sống của nhân dân Mỹ là nước có truyền thống coi trọng tôn giáo.

    Chủ nghĩa nhân vị bao giờ cũng coi giáo lý tôn giáo là căn cứ lý luận không thể thiếu. Tình hình trên còn gắn với một truyền thống khác nữa của Mỹ đó là việc chủ nghĩa nhân vị nêu lên tác dụng quyết định và tự do cá tính trong ý chí cá nhân của con người. Điều đó phù hợp với một trong những truyền thống lâu đời như ta đã thấy, về tự do, dân chủ ở Mỹ.

    Borden Parker Bowne

    Ông là người đặt nền móng cho chủ nghĩa nhân vị ở Mỹ.

    Ông sinh ra trong một gia đình Thanh giáo ở bang New Trassi. Ông học đại học ở New York, ở đây ông đã có hứng thú mạnh mẽ với triết học duy tâm. Năm 1871, sau khi tốt nghiệp, ông dạy học, làm mục sư và bắt đầu hoạt động triết học. Năm 1874, ông đến Đức và trở thành học trò của Lotze một nhà triết học duy tâm nổi tiếng. Tư tưởng của chủ nghĩa nhân vị của ông hình thành trực tiếp từ ảnh hưởng của Lotze. Năm 1878, ông nhận chức chủ nhiệm khoa triết học ở trường đại học Boston. Từ đó cho tới khi mất, ngoài thời gian đi du lịch ngắn, ông không rời khỏi Boston. Những tác phẩm chính của Bowne: ngoài cuốn Triết học của Herbert Spencer của ông ra đời nhằm chống lại chủ nghĩa tiên hóa của Spencer, nêu cao chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, các cuốn khác đều tập trung vào chủ nghĩa nhân vị. Đó là các cuốn: Siêu hình học, Triết học về chủ nghĩa hữu thần, Nguyên luân học, luận về tưởng và nhận thức, Tính nội tại của Thượng đế, Chủ nghĩa nhân vị.

    Sau này trường đại học Boston, để kỷ niệm ông, người ta đã thành lập một lớp triết học Bowne. Lớp học này là một giảng đường quan trọng của chủ nghĩa nhân vị ở Mỹ.

    Trước hết chúng ta cần tìm hiểu ngay khái niệm “nhân vị” của Bowne từ đó thấy được khuynh hướng triết học của ông.

    Bowne có ý thức đầy đủ về chủ nghĩa duy tâm hữu thần của mình. Ông viết rằng ông là “một người theo chủ nghĩa duy tâm hữu thần, một người theo chủ nghĩa nhân vị, một người theo chủ nghĩa kinh nghiệm siêu nghiệm, theo chủ nghĩa hiện thực của chủ nghĩa duy tâm, một người theo chủ nghĩa duy tâm hiện thực chủ nghĩa”.

    Từ lập trường duy tâm đó, ông phê phán tính cơ giới của chủ nghĩa duy vật vì nó không thể trả lời một cách chính xác nguồn gốc của ý thức. Ông cho rằng chủ nghĩa duy vật sẽ sa vào “chủ nghĩa hoài nghi” không thể khắc phục được. Chủ nghĩa duy vật theo ông không thể trở thành khoa học và triết học chân chính mà ngược lại còn làm cản trở con người trong việc xây dựng khoa học và triết học.

    Chủ nghĩa duy tâm của Bowne có một đặc điểm: ông không tán thành chủ nghĩa duy tâm loại bỏ tác dụng của cá tính. Ông cũng không tán thành chủ nghĩa kinh nghiệm của Berkeley: ông cho rằng không thể quy tất cả những gì trên thế giới vào cảm giác chủ quan của con người, tất cả những gì tồn tại có ý nghĩa đều phải thông qua con người. Bowne kết luận điểm xuất phát của chủ nghĩa duy tâm của mình là vừa có tinh thần phổ quát, vừa có nhân vị riêng biệt.

    Ông tuyệt đối hóa sự tồn tại của nhân vị cho nó là sự tồn tại chân thật nhất, thậm chí duy nhất của thế giới. Nó là một loại chủ thể có các cơ năng như khả năng tự ý thức, tự khống chế, cảm giác, tình cảm và ý chí... Bản thể nhân vị mà Bowne nói tới thuần túy là một bản thể tinh thần, là hoạt động tinh thần ý thức của con người với tư cách là chủ thể.

    Không những Bowne coi nhân vị con người là mang tính tinh thần mà còn đưa lại cho nó một sắc thái duy ý chí, nó là hoạt động ý thức phi lý tính thuộc loại tình cảm của con người. Tiêu chuẩn mang tính hiện thực của tâm linh chính là ở chỗ hứng thú chủ quan của nó. Tâm linh mà Bowne muốn nói ở đây chính là nhân vị.

    Bowne coi nhân vị là bản thể chân thật nhất. Ông biện luận như sau: chỉ có sự vật có thể thỏa mãn được yêu cầu tính hoạt động và tính đồng nhất tự thân đó mới là hiện thực. Tất cả các sự vật khác đều không thể thỏa mãn được yêu cầu này. Ego tự thân với tư cách là vật hoạt động, với tư cách là vật đồng nhất trong toàn bộ kinh nghiệm biến hóa của nó là hạng mục không thể nghi ngờ gì trong ý thức mà chúng ta nắm được. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng trong việc giải thích về nhân vị của Bowne.

    Đồng thời với luận chứng về sự tồn tại chân thật duy nhất, Bowne đã phủ nhận tính hiện thực của giới tự nhiên, thế giới vật chất và tính nhân quả, tính quy luật... Ông nói rõ ràng rằng: xét từ ý nghĩa một sự vật nào đó nằm ngoài tư tưởng và không hề phục tùng tư tuởng một sự vật siêu tâm linh như thế thì thực sự là một khái niệm không thể có. Hiện thực siêu tâm linh là thứ không thể nắm được một cách tuyệt đối, nếu chúng ta phát hiện được nó thì đó là một cảm giác sai lầm hoàn toàn. Tư tưởng hiện thực chủ nghĩa dùng để cấu tạo nên các phạm trù khác nhau của hiện thực thuần túy là hình thức trống rỗng của lý trí. Đó là một bản thể không có ý nghĩa. Ông bác bỏ tính nhân quả, tính thống nhất, tính đồng nhất gắn liền với lý trí. Ông cũng cho đó là không có ý nghĩa.

    Từ quan điểm nêu trên, Bowne đã tiếp thu quan điểm về thế giới vật chất, đó chỉ là thế giới hiện tượng không có ý nghĩa của bản thể học của Kant. Nhưng ông lại phủ nhận quan điểm “vật tự nó” của Kant.

    Chủ nghĩa nhân vị của Emmanuel Mounier (1905-1950) ở Pháp cũng là một triết học coi sự thâm nhập của con người vào xã hội và thế giới là một nguyên tắc. Chủ nghĩa nhân vị của Bowne cũng muốn không sa vào chủ nghĩa duy ngã, không dừng lại ở cá nhân đơn độc, nó muốn đặt mối liên hệ với tha nhân, trước hết với Thượng đế.

    Không phủ nhận tha nhân tức không phủ nhận thế giới kinh nghiệm. Mỗi người có một thế giới kinh nghiệm đó, lấy nhân vị của người đó để chuyển hóa. Cá nhân không chỉ sống trong ý thức bên trong mà phải có mối liên hệ qua lại với tha nhân, sống chung với tha nhân.

    Thông qua Thượng đế, ý nghĩa tồn tại của tha nhân được khẳng định, bởi vì Thượng đế là lý trí tối cao tức là nhân vị vô hạn. Toàn bộ thế giới chính là biểu hiện lý trí tối cao đó. Ý thức, nhân vị của cá nhân đều là có hạn, chúng đều coi lý trí tối cao là ngọn nguồn. Mỗi nhân vị có hạn đều là biểu hiện của nhân vị vô hạn. Đối với ta, tha nhân tồn tại trong ý thức của ta. Nhưng với tư cách là biểu hiện của nhân cách vô hạn, nó lại độc lập với nhân vị có hạn của ta.

    Thế giới mà mỗi con người kinh nghiệm được tồn tại ở trong kinh nghiệm của cá nhân nhưng thế giới này là biểu hiện của Thượng đế. Nó cũng có thể tồn tại trong kinh nghiệm của tha nhân, vậy là mọi người đều có một thế giới cộng đồng.

    Mỗi thế giới kinh nghiệm của cá nhân đều được đặt dưới Thượng đế tối cao cho nên các thế giới của cá nhân đều tương thông với nhau.

    Người ta thấy tư tưởng trên của Bowne đã kế thừa chủ nghĩa đơn cử của Leibniz thông qua Lotze. Điều đó đã làm cho tư tưởng triết học của ông mang sắc thái của chủ nghĩa duy tâm luân lý học của Lotze. Ông đã coi hệ thống thế giới nhân vị, lấy nhân vị làm vô hạn làm chúa tể, là một loại trật tự luân lý nhân vị với tư cách là một loại bản thể tinh thần, là một loại bản thể đạo đức.

    Thượng đế chính là giá trị đạo đức tối cao, tức được gọi là “điều thiện” cao cả nhất.

    Về nhận thức học, đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa duy tâm chủ quan mà Bowne gọi là “chủ nghĩa Berkeley Kant hóa” và chủ nghĩa tín ngưỡng trong đó học thuyết trên giữ vai trò chủ đạo. Do đó ông phản đối chủ nghĩa bất khả tri từ chối sự nhận thức của con người đối với thế giới chung đều là sản vật của Thượng đế, là đồng chất do đó có sự tương thông với nhau. Khi nói tới đoạn đường nhận thức, ông nhấn mạnh tác dụng kinh nghiệm, thậm chí ông tự nhận nhận thức học của mình là chủ nghĩa kinh nghiệm. Nhưng khi giải thích các kinh nghiệm về nhân vị, ông có khuynh hướng duy ý chí, có khuynh hướng chủ nghĩa phi lý tính, quy đối tượng nhận thức thành sự sáng tạo của chủ thể.

    Khi trình bày nhận thức học, Bowne muốn làm rõ ranh giới với chủ nghĩa bất khả tri đang lưu hành ở thế kỷ XIX. Ông cho rằng mọi người phải tin tưởng vào khả năng nhận thức của mình, một bộ phận nào đó của vũ trụ cũng như nhân vị của chúng ta đều là sản vật của Thượng đế. Vạn vật trong vũ trụ với tư cách là đối tượng của sự nhận thức một cách cụ thể lại xuất hiện do sự sáng tạo của chủ thể, vì vậy giữa chủ thể và đối tượng không có khoảng cách.

    Thế giới mà Bowne gọi là có thể biết được là thế giới do nhận thức nhân vị phú cho một ý nghĩa. Còn thế giới vật chất thì chỉ có ý nghĩa hiện tượng. Thế giới khách quan không do ý thức con người chuyển hóa thì bản thân chúng không có ý nghĩa cho nên cũng không thể nói tới sự nhận thức đối với chúng.

    Bowne tỏ ra lạc quan đối với sự phát triển của khoa học, đối với giá trị của tri thức khoa học, trật tự của sự vật do khoa học nghiên cứu. Những tri thức “cùng một tính chất” này có giá trị thực tế rất lớn đối với việc chỉ đạo đời sống của con người.

    Theo Bowne khoa học chỉ đi tới hiện tượng, chứ không đi tới bản chất của sự vật và nguyên nhân căn bản của sự tồn tại của nó. Khoa học chỉ nói được như thế chứ không biết vì sao như thế. Nhiệm vụ đó thuộc về triết học. Khoa học coi thế giới hiện tượng, không gian, thời gian là lĩnh vực của mình, nhưng thế giới ấy bắt nguồn từ một sức mạnh không thể thấy được và không thể miêu tả được, đó là thế giới của mục đích. Tất cả những nguyên nhân chính biểu hiện không gian và thời gian chỉ có thể tìm được trong thế giới sức mạnh này. Khoa học phát triển, miêu tả, ghi lại sự thực, còn triết học thì giải thích chúng. Nhưng theo Bowne, triết học và thần học là thống nhất.

    Khi trình bày cụ thể về đường hướng và quá trình của nhận thức, Bowne nhấn mạnh tác dụng của kinh nghiệm. Ông coi đó là nguồn gốc của nhận thức. Tất cả những tư tưởng về hiện thực nhất định đều hình thành từ trong kinh nghiệm, rơi khỏi kinh nghiệm, chúng ta không bao giờ có thể khẳng định được khái niệm đại biểu cho bất cứ sự thực hiện thực nào. Kinh nghiệm là hiện thực, tức là có hiệu quả đáng tin cậy và là hiện thực có thực. Tính tin cậy thực tế của cuộc sống chỉ có thể biết được từ trong kinh nghiệm, cũng chỉ ở trong kinh nghiệm mới có thể chứng thực được cuộc sống.

    Điều quan trọng đặt ra thế nào là kinh nghiệm? Bowne cho rằng kinh nghiệm không phải là hình ảnh chủ quan của hiện thực khách quan. Ông cho rằng ý thức tâm lý không thể trực tiếp kéo dài từ các đồ vật vật lý. Ông nói: “Nếu sự sản sinh của tư tưởng được coi là đồng nhất với tác dụng nhân quả trong thế giới vật lý thì nhất định chúng ta phải nói tư tưởng là tổ hợp của một nguyên tố hóa học nào đó, thiết tưởng có thể đặt nó dưới kính hiển vi để tiến hành quan sát. Nhưng nếu tư tưởng không phải tổ hợp như thế thì sẽ chứng minh nó nằm ngoài tác dụng nhân quả của vật lý". Như vậy kinh nghiệm, ý thức, tư tưởng chỉ có thể là quá trình phát sinh trong nội bộ nhân vị của chủ thể, không do một tác động bên ngoài nào đưa đến. Những phản ứng tâm linh mà chúng ta gọi là nhận thức chỉ có thể coi là một sự biểu đạt theo nguyên tắc bản thân nội tại của bản tính tâm linh của chúng ta. Kinh nghiệm nhận thức là quá trình nội bộ của nhân vị, vậy chúng có quan hệ gì đối với đối tượng của chúng? Về mặt này, Bowne kế thừa Kant cho rằng đốì tượng của kinh nghiêm và nhận thức là do chủ thể sáng tạo ra trong bản thân hoạt động của nhận thức. Đối tượng, biến thành đối tượng của chúng ta khi chúng ta phải trải qua hoạt động sáng tạo. Chúng ta dựa vào hoạt động này mà sáng tạo ra đối tượng của nhận thức.

    Về vấn đề này vẫn có sự khác biệt giữa Bowne và Kant. Kant thừa nhận sự tồn tại của “vật tự nó” và đó là nguồn gốc của kinh nghiệm. Bowne không thừa nhận luận đề quan trọng của Kant. Kant cho rằng chủ thể sáng tạo đối tượng phải lợi dụng phạm trù có sẵn của đối tượng. Trái lại Bowne nhiều lần tuyên bố "người là phạm trù của phạm trù” có nghĩa là phạm trù cũng do chủ thể sáng tạo nên. Ông viết: “Lý trí không thể thông qua phạm trù để lý giải mà phạm trù phải thông qua kinh nghiệm sôi động của bản thân lý trí chúng ta để lý giải. Lý trí không phục tùng bất cứ nguyên tắc trừu tượng nào ngoài bản thân nó”. Lý trí mà ông nói đây chính là nhân vị. Xét ở góc độ này thì Bowne lại càng gần với Berkeley. Có khác là ở chỗ như ông nói, nó được “Kant hóa” hoặc được gọi là "chủ nghĩa kinh nghiệm tiên nghiệm”.

    Tiêu chuẩn và chân lý đối với Bowne là ở chỗ bản thân chủ thể. Ông viết: “Lý trí sinh động, hành động là nguồn gốc của tất cả chân lý và hiện thực, cũng là tiêu chuẩn duy nhất của bản thân nó”.

    Tóm lại nhận thức của Berkeley đã Kant hóa cộng với tín ngưỡng bởi vì khả năng nhận thức của chủ thể của nhân vị là do Thượng đế phú cho, là bộc lộ ý chí của Thượng đế. Độ tin cậy của kinh nghiệm và nhận thức của chủ thể, của nhân vị là do Thượng đế bảo đảm.

    Bản năng đi vào đời sống xã hội của chủ nghĩa nhân vị chính là ở lý luận về luân của nó. Bởi vậy vấn đề luân lý Bowne giữ một địa vị quan trọng.

    Ở đây ông cũng lấy nhân vị làm điểm xuất phát. Theo ông, nhân vị là sự tồn tại ý thức của tinh thần, của ý thức luân lý. Như vậy theo Bowne, cơ sở của đời sống xã hội là luân lý, Bowne viết: “Hình thái xã hội có tổ chức là một loại cơ cấu có mục đích đạo đức. Cho dù cá nhân có đặc biệt ra sao, nếu không có một loại trật tự xã hội lấy quan niệm đạo đức làm cơ sở thì họ sẽ không thể sống chung trong một cộng đồng”.

    Luân lý là cơ sở của quan hệ giữa người và người trong xã hội cho nên con đường thúc đẩy tiến bộ xã hội chính là sự hoàn thiện luân lý ở nơi con người. Đó cũng là con đường căn bản để giải quyết mọi vấn đề lịch sử xã hội. Chủ đề quan trọng này của chủ nghĩa nhân vị sẽ được các môn đệ của Bowne hoàn thiện tiếp.

    Edgar Shefeild Brightman (1884 -1953) và Ralph Tyler Flewelling (1871 -1960)

    Là những nhà triết học có ảnh hưởng lớn nhất trong những người theo chủ nghĩa nhân vị thế hệ thứ hai ở Mỹ. Brightman đã từng theo đuổi chủ nghĩa duy tâm của Royce sau đó lại chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân vị của Bowne. Ông cho rằng triết học của Bowne đã chứa đựng triết học của Royce và của James, nhưng lại tránh được những thiếu sót của họ. Brightman đã làm giáo sư ở nhiều trường đại học, làm hiệu trưởng trường đại học Boston và Harvard.

    Năm 1936, ông làm chủ tịch phân hội miền đông của hiệp hội triết học Mỹ. Từ năm 1925, lớp triết học Bowne ở trường đại học Boston do ông chủ trì cho đến khi ông mất. Ông đã đọc lại và tiếp tục phát triển những tư tưởng của Bowne ở chỗ ông giới hạn quyền uy của Thượng đế và nhấn mạnh tác dụng của con người, giới hạn địa vị của những thứ vĩnh hằng mà nhấn mạnh ý nghĩa của những cái tạm thời trong trần thế làm cho chủ nghĩa nhân vị thích hợp hơn với nhu cầu luận chứng về thế giới quan cá nhân chủ nghĩa ở Mỹ.

    Ông đề xướng chủ nghĩa nhân vị đa nguyên. Nhiều lãnh tụ phái cơ đốc tự do cũng tán thành quan điểm của ông.

    Các tác phẩm của Brightman gồm: Giá trị của tôn giáo, Vấn đề Thượng đế, Thượng đế nhân vị chăng, Nhân vị tôn giáo, Đời sống tinh thần nhân vị thực tế viết chung với nhóm Bertocci xuất bản sau khi ông mất.

    Flewelling nhiều năm dạy học ở trường Đại học California. Năm 1920, ông thành lập tạp chí Những người theo chủ nghĩa nhân vị, ra sức tuyên truyền cho chủ nghĩa đa nguyên.

    Những tác phẩm chính của ông: Chủ nghĩa nhân vị vấn đề triết học, tính trong tín ngưỡng, Nhân vị sáng tạo, Chủ nghĩa nhân vị trong thần học, Sự xung đột hòa giải của các loại văn hóa.

    Brightman ý thức đầy đủ về chủ nghĩa duy tâm của mình, từ đấy, ông phản đối chủ nghĩa cơ giới của chủ nghĩa duy vật kể cả chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - xít. Ông công kích chủ nghĩa tiến hóa của Spencer vì cho rằng đó là cơ sở khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng.

    Brightman, Flewelling tuy là những nhà duy tâm công khai nhưng họ muốn khắc phục tính phiến diện có thể xảy ra làm cho triết học của mình phù hợp với kinh nghiệm đời sống hàng ngày, vì vậy điều đó làm cho triết học của họ mang sắc thái của chủ nghĩa hiện thực. Họ cũng thừa nhận có tồn tại của thế giới vật chất mà ta cảm thấy được trong kinh nghiệm hàng ngày. Nhưng đồng thời họ lại khẳng định tinh thần, tư tưởng của con người không thể giải thích từ vật chất mà phải từ một căn nguyên khác: ấy là nhân vị.

    Brightman không nhấn mạnh tính đồng nhất tự thân như Bowne mà chú ý nhiều hơn tới tính hoạt động của nhân vị. Ở đây ông chịu ảnh hưởng của triết học của Bergson: nhân vị là một loại quá trình biến đổi không ngừng. Sự đồng nhất tự thân của nhân vị không phải là cố định, bất biến mà có tính thời gian, chủ nghĩa nhân vị của ông do đó được gọi là “chủ nghĩa nhân vị thời gian".

    Brightman và các môn đệ của ông cho rằng thừa nhận nhân vị là sự tồn tại trong sự biến động đã cho người ta một chiếc chìa khóa để giải thích tính thống nhất và tính liên tục phức tạp của vũ trụ.

    Chủ nghĩa nhân vị của Brightman và Flewelling cùng ra sức thực hiện nguyên lý thâm nhập vào xã hội, vào thế giới của chủ nghĩa nhân vị. Brightman cho rằng “Bức tường ngăn giữ ego được gỡ bỏ thì mỗi cái ego là bộ phận của chính thể lớn thậm chí có lúc là bộ phận của Thượng đế". Như vậy, thông qua ý thức của bản thân ego, sử dụng phương pháp suy diễn giữa cá nhân và cá nhân sẽ có thể tương thông với nhau. Mỗi người xuất phát từ bản thân mình sẽ có thể tương thông với sự xuất phát của bản thân người khác.

    Theo Brightman, mỗi nhân vị tự bản thân có sức mạnh liên hệ với tha nhân và thế giới, nhưng ông không cho rằng nhân vị hữu hạn hoàn toàn thuộc về nhân vị vô hạn. Ông đòi hỏi một chủ nghĩa đa nguyên về nhân vị thay thế chủ nghĩa nhất nguyên về nhân vị. Như vậy thế giới tồn tại nhiều nhân vị, nhiều ego, chúng hoàn toàn là cá biệt tự tại tự do không phụ thuộc vào bất cứ nhân vị tuyệt đối nào. Chủ nghĩa nhân vị này xét về lượng là chủ nghĩa đơn nguyên, chỉ thừa nhận một cái “tâm” phổ biến nhiều nhân vị nhìn bề ngoài đều là một số trạng thái hoặc phương diện của cái “tâm” phổ biến. Đối với những người theo chủ nghĩa nhất nguyên về nhân vị thì đó là một sai lầm thậm chí là tàn bạo.

    Loại chủ nghĩa nhân vị đa nguyên của Brightman phải chăng đã đi ra ngoài quan điểm của Bowne về nhân vị vô hạn, là chúa tể của nhân vị hữu hạn? Cũng như nhiều nhà triết học nhân vị khác, Brightman đều thừa nhận “tha nhân”, “thế giới” bên ngoài cá nhân là tồn tại khách quan. Họ đều dựa vào cái gọi là “tâm” của vũ trụ. Brightman nói: “Cái tâm của vũ trụ làm cho trật tự của thế giới có ngôi vị không lộn xộn. Quy luật của giới tự nhiên chính là phương pháp duy trì trật tự đó. Ý chí của nhân vị hữu hạn là tự do nhưng không thể tùy ý thay đổi kết cấu của trật tự đã được cái tâm của vũ trụ duy trì, mong muốn”. Cái tâm của vũ trụ mà Brightman nói chính là Thượng đế. Tính năng động, tính độc lập của nhân vị của cá nhân là không thể vượt ra khỏi phạm vi mà Thượng đế đã quy định. Như vậy xét cho cùng, chủ nghĩa nhân vị đa nguyên chỉ nhấn mạnh vào trật tự đã được nhân vị vô hạn quy định.

    Về nhận thức học, Brightman và Flewelling nhấn mạnh hơn Bowne về tác dụng kinh nghiệm của nhân vị với tư cách là cá thể. Brightman còn gọi nhân vị đơn lẻ là “ego của tài liệu”, tất cả từ ego này mà ra. Trên thực tế ego của tư liệu là kinh nghiệm trực tiếp mà ông nhấn mạnh.

    Mặt khác, khuynh hướng phi lý tính của Brightman và Flewelling có lúc còn đậm nét hơn Bowne. Ví dụ Bowne tiếp cận tương đối với chủ nghĩa hiện tượng của Kant. Nhưng Brightman lại tỏ ra phản đối chủ nghĩa hiện tượng đó vì học thuyết này qui thực tại thành cảm giác. Ông cho rằng thực tại còn rộng rãi hơn nhiều so với cảm giác đối với tự nhiên. Thực tại còn bao gồm cả những thứ phi cảm giác như ký ức, lý tưởng, giá trị... Ông viết: “Thế giới thực tại phải bao gồm cả giới tự nhiên nhưng nhiều hơn giới tự nhiên vì nó còn bao gồm cả thế giới nhân vị và tất cả cái gì cần thiết để giải thích và lý giải nhân vị. Đương nhiên ở đây cũng vậy Brightman và Fewelling cùng đối lập quan điểm về nhận thức học của chủ nghĩa nhân vị với nhận thức học của chủ nghĩa duy vật biện chứng.

    Chủ nghĩa nhân vị thực sự đi vào đời sống, khi các nhà triết học của nó đề xướng lý luận về giá trị đạo đức.

    Tiếp theo Bowne, Brightman, Fewelling còn coi giá trị đạo đức của con người là nhân tố có ý nghĩa quyết định: “Giá trị đạo đức là giá trị xác định nhất, thực tế nhất trong tất cả giá trị mà con người phải phát sinh quan hệ với nó". Họ thừa nhận trong xã hội hiện tại trước hết xã hội phương Tây chứa những mâu thuẫn thậm chí là nghiêm trọng. Họ nhìn ra rằng nếu thế kỷ XVIII là thế kỷ của toán học, của tiến bộ, thế kỷ XIX, của tiến hóa thì thế kỷ XX là thế kỷ xung đột về giá trị tối cao của con người: tự do, lý tính, nhân quyền, sự kính yêu, ngưỡng mộ đối với Thượng đế, lòng yêu mến đối với chân, thiện, mỹ... đều nằm trong sự đe dọa của “chiến tranh không thể tránh khỏi nhà nước cực quyền, lý luận và thực tế của chủ nghĩa duy vật và sự cạnh tranh xảy ra không thương tiếc”.

    Nguyên nhân của những xung đột đó ở đâu? Fewelling cho rằng sự xung đột nội bộ của tinh thần con người là nguồn gốc sâu xa hơn mọi nguồn gốc khác. Sự hỗn loạn ở bên trong chúng ta chỉ là sự sao chép trạng thái hỗn loạn về tinh thần của con người.

    Giải quyết những mâu thuẫn đó như thế nào? Phải thúc giục mọi người cố gắng dồn sức vào “tự mình tu dưỡng về tinh thần”, đó là sự “tái sinh của đạo đức” bằng cách phát huy phẩm chất đạo đức chân, thiện, mỹ, để loại trừ đạo đức giả, ác, xấu vốn có trong nội tâm mỗi con người. Làm cho phẩm cách đạo đức của cá nhân đạt tới cõi hoàn thiện nhất, trọn vẹn nhất đó chính là sự hòa hợp với Thượng đế.

    William Ernest Hocking (1873 -1966)

    William Ernest Hocking giáo sư trường đại học Harvard đại diện cho một khuynh hướng nữa của chủ nghĩa nhân vị.

    Khi Hocking vào trường đại học Harvard ông đã được Royce và James hướng dẫn. Năm 1904, ông đạt được học vị tiến sĩ ở Harvard. Ông còn là giáo sư nhiều trường Đại học khác.

    Những tác phẩm chính của Hocking: Ý nghĩa của Thượng đế trong kinh nghiệm của loài người, Con người nhà nước, Ego thân thể tự do, Nhân tố vĩnh hằng chủ nghĩa nhân. Tôn giáo sống tín ngưỡng của thế giới, Quan niệm khoa học Thượng đế.

    Hocking không phải là đệ tử trực tiếp của Bowne. Chủ nghĩa nhân vị của ông bắt nguồn từ chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối. Ông ít dùng khái niệm nhân vị mà hay dùng khái niệm ego (tôi) của Royce, người thầy của ông và theo chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối.

    Hocking trình bày ba loại khái niệm ego tuy khác nhau nhưng liên quan với nhau. Theo ông ego là “lĩnh vực của những lĩnh vực”. Đó là cái ego có quan hệ với các loại đối tượng tồn tại trong không gian.

    Ông không phản đối cách nhìn không gian đa nguyên của một số nhà triết học nào đó. Nhưng ông cho rằng không gian khác nhau chẳng qua chỉ biểu thị một bộ phận khác nhau của không gian tự nhiên đồng nhất. Không gian không phải là một thực tại sẵn có hoặc là hình thức kinh nghiệm sẵn có mà là sự di chuyển theo sự kiện trong không gian, là sự phát sinh từ các sự kiện. Tách khỏi sự kiện này, không gian sẽ không phải là thực tại nữa. Do các sự kiện độc lập với nhau, nên không gian cũng độc lập với nhau. Những không gian độc lập với nhau này thông qua ego mà phát sinh quan hệ và thống nhất lại. Khác với sự kiện với tư cách là đối tượng của ego, bản thân ego không nằm trong không gian. Bởi vì khi ego đưa hàng loạt sự kiện làm đối tượng của mình đã làm cho chính mình tách rời khỏi hàng loạt sự kiện ấy, không nằm vào không gian của những sự kiện ấy. Ngược lại, những sự kiện này lại bị ego đưa vào bản thân nó. Ego đưa những sự kiện và không gian độc lập này hợp thành một khối. Ego không thể chỉ có thể suy nghĩ về không gian của một sự kiện mà khá nhiều sự kiện. Tóm lại, Hocking muốn lấy không gian làm đối tượng của ego và ego là cái thống nhất của không gian đa nguyên.