0071.00007 [Hán Nôm - @keodau - done - GD]

Jan 26, 2016
0071.00007 [Hán Nôm - @keodau - done - GD]
  • PDF
    GoogleDocs



    #0071.00007

    Đánh máy: mopie




    truyền; Ông Tổ nhà ông nhà nghèo, biết chữ, sống về nghề dậy trẻ học. Gặp năm mất mùa, dân xóm không ai nuôi ông. Ông cùng 2, 3 người làng cũng làm nghề dạy học, đi xa lên mãi Thượng-Đạo, Hưng-Hóa dạy trẻ học. Nơi đây ít người biết chữ, nên rất được trọng đãi. Cứ từ đầu đến cuối năm về nhà một lần, mỗi người đều có một vài hốt bạc tiền công, đem về chi dụng, vợ con ở nhà chỉ trông vào món tiền đó để trang trải công nợ, năm nào cũng thường như thế. Có một năm, gần Tết, ông cùng hai, ba anh em bạn từ Thượng-Đạo trở về, trong túi ông chỉ có một hốt bạc, các anh em ai cũng có nhiều hơn. Trong khi đi đường anh em còn ngồi xuống hàng uống nước. Duy mình ông cứ đi trước, đến quán ở bên đường ngồi nghỉ, để đợi anh em. Nhác thấy trong quán có một người ăn uống, thô-tục, vẻ mặt uất-giận, vừa ăn vừa dức lác rằng:

    “Ta ăn uống xong, ta sẽ đến nhà mày tự tử, để gieo vạ cho mày!” Ông hỏi người ấy sao lại nói gở như vậy? Người ấy vừa khóc vừa nói:

    “Tôi có vay nợ nhà giàu kia đã trả tiền lời rồi, còn tiền gốc không trả được, chủ nợ giam giữ mẹ tôi. Nay hết năm rồi, ai cũng vui mừng năm mới, mà tình-cảnh tôi như thế, tôi còn sống làm gì nữa.

    Tôi định ăn uống no say, rồi đến nhà nó tự-tử gieo án-mạng cho nó.”

    Ông liền lấy tình, lý mà khuyên giải rằng:

    “Nếu chưa trả được nợ, thì nên van khất, có lý nào lại gieo

    án-mạng cho người ta, là trái đạo trời đất không nên! Vả anh có mẹ già mà anh liều chết, thì mẹ anh trông cậy vào ai?” Người ấy nghe ông nói có lý, liền tỉnh ngộ, khóc và nói rằng: “Ông nói rất phải, nhưng chủ nợ quá nghiệt, tôi đã nhiều lần van xin, mà họ không thương. Ngày nay, nhà nghèo không vay được tiền lấy gì trả nợ, mà mang mẹ về được. Như thế thà chết đi cho xong!” Nói xong, lại khóc òa lên. Ông thương tình mà hỏi rằng: “Anh nợ bao nhiêu?” Người ấy trả lời: “30 Quan tiền.” Ông nói: “Nay thế đã cùng rồi, biết làm sao được. Tôi có hốt bạc đây, tôi cho anh để trả nợ, mà chuộc mẹ về, đừng liều mạng nữa.” . Rồi ông móc túi lấy tiền trao cho người ấy. Người ấy nhận bạc lậy rập xuống đất cám ơn, rồi mang bạc đi. Trong khi ấy vì lòng quá thương người, nên cho tiền. Nhưng khi người ấy đi rồi, lại nghĩ: năm cùng, tiền thiếu, vợ con ở nhà ngóng mình về, nay về tay không, lấy gì mà sống, bất giác ngồi ngây người ra đến nửa giờ.

    Khi các anh em đi đến, thấy ông ngồi ngây ra không nói, lấy làm lạ, hỏi cớ sao? Ông liền kể chuyện cho bạc. Anh em đều trách rằng: “Đó là nó thấy mình có bạc, nó bày mưu bịp mình. Nhà nghèo đi dạy học công được mấy tý mà không cẩn-thận.” Ông liền giải thích không phải thế đâu... Chủ quán cũng nói: “Người ấy không phải người lừa gạt đâu, chính ông này thương người mà cho đấy.” Anh em không tin, đều ái ngại cho ông. Ông cũng không biện-bạch nữa, chỉ dặn anh em rằng: “Chuyện đã trót rồi, anh em giữ kín về nhà đừng nói cho vợ con tôi biết, nó dầy vò tôi” Anh em đồng ý cùng về, đến nhà là ngày gần tết, bà vợ hỏi năm nào về cũng có tiền để trả nợ, năm nay làm sao về tay không như thế? lấy gì trang trải công nợ. Ông nói dối rằng: “Năm nay ốm đau luôn, có đồng nào uống thuốc hết cả” nên bà vợ không kêu ca nữa. Ông hỏi có cơm không? bà vợ nói: “Trước mấy

    ngày, tôi có đi làm mướn, được công một đấu gạo, sáng ngày thổi ăn rồi, còn ít cơm nguội thôi”. Ông hỏi có thức ăn không, bà vợ bảo chỉ có rau luộc sáng ngày ăn còn lại. Ông lấy ra ăn, vợ chồng vui vẻ, không ân hận gì. Đêm ấy vợ ông nằm mộng thấy một vị Thần cầm một vòng tròn như cái đai đưa cho vợ ông, và bảo là đai ngọc để cho con cháu dùng. Tỉnh dậy nói với ông. Ông biết là điềm tốt, nhưng chưa biết giải ra sao? Tết ấy, những bạn ông đều có tiền cho vợ con chi tiêu vui vẻ, duy ông ngồi xuông ngày Tết. Các chủ nợ thương tình cũng không đòi. Trong ba ngày Tết ăn nhờ hàng xóm. Tết rồi, vợ ông lại đi làm mướn, còn ông dáng điều học trò yếu ớt, không đi làm được. Ở nhà bữa ăn không có. Đầu giêng năm mới, chưa đi dạy học, nghĩ thầm ta ngồi nhà cũng buồn, và nghĩ chỗ nhà anh nhận bạc của ta không xa, mà anh cũng nghèo như mình. âu là đến đấy chuyện gẫu cho vui. Đi đường gặp một ông thầy phong thủy, (thầy địa lí) bảo ông rằng: “Tôi coi ông hiền lành nho nhã, ở đằng kia có một ngôi đất phát Tiến-Sĩ (ông Nghè) nếu ông xin được, tôi táng giùm cho.” Ông vui lòng theo thầy dẫn đến nơi ấy, may lại chính là làng người mà ông cho bạc trước. Thày phong thủy điểm huyệt, hình đất chỗ ấy như cái đai áo. Ông mừng thầm đúng như vợ ông nằm mộng, liền hỏi thăm người trong làng, xem chỗ đất ấy của ai, được trả lời rằng: “Đất này là của người nghèo làng tôi, ý ông muốn làm ngôi đất này hử: Đất này các Thày phong-thủy đều gọi là kiểu ngọc đới (đai áo). Ai táng được phát phúc to lắm, chính người có thửa đất này có đem mộ tổ về táng. Thần nhân báo mộng không cho. Không dùng được, hắn phải rời mộ đi. Nhưng hắn biết là đất quý, nhiều người đến xin mua, hắn không bán. Năm ngoái ông

    nhà giàu làng tôi cho hắn vay tiền, bắt hắn bán thửa đất này, hắn nhất định không nghe. Ông nhà giàu lập mẹo giữ mẹ hắn, để bắt buộc hắn bán, may hắn gặp được người cho bạc, hắn trả xong nợ rồi, bây giờ có ông trời cũng không mua được, nữa là ông?” Ông hỏi thăm người làng ấy cho biết chỗ nhà ở của người có đất ấy rồi bảo ông Thầy phong-thủy ở ngoài đợi. Ông đến nhà, cả hai mẹ con nhà ấy đều lạy mừng nói: “Ơn ông to quá, không biết lấy gì báo đáp” Ông bảo là không đáng bao, xin đừng phải nghĩ. Truyện trò hồi lâu, rồi ngỏ lời rằng: “Năm mới tôi đi chơi xem phong cảnh, gặp ông Thày phong-thủy cho ngôi đất, hỏi thăm mới biết là chỗ đất ấy là đất của ông anh đây, nhân tiện tôi lại đây thăm gia đình, và xin ông anh ngôi đất ấy có được không?” Người ấy nói: “Đất này nhiều Thày nói là đất quý, mà nhiều người đến xin, tôi không cho.Năm ngoái người nhà giàu giữ mẹ tôi, cũng vì thèm ngôi đất này, nó giàu nhưng nó bất nhân, nên mấy tôi cũng không cho. Nhờ ông, mà tôi trả xong nợ đem mẹ tôi về, và chưa kịp đền ơn. Nay ông hỏi đến ngôi đất, có lẽ lòng trời đưa lại, chứ người khác mấy tôi cũng không cho. Vậy trong thửa đất này ông muốn táng chỗ nào cũng được, tôi đâu dám tiếc.” Ông mừng lắm, cám ơn... Rồi mời thày về nhà, chọn ngày lành đem táng mộ tổ, sau sinh ra ông Nguyễn-Thực, năm 41 tuổi đậu Hoàng-Giáp khoa Kỳ-vị (niên-Hiệu Quang-Hưng đời vua Lê-thế-Tôn) làm quan đến Lại bộ Thượng-Thư, Quốc-Lão Thái-Phó Tước Hàn-Quận-Công. Khi về hưu trí, được tặng là Thái-Tể, hưởng thọ 83 tuổi, con là Nguyễn-Nghi năm 32 tuổi đỗ Tiến-Sĩ khoa Kỳ-vị (niên-hiệu Hoàng-Định đời vua Lê Kính Tôn) làm quan đến Lại Bộ-Thượng-Thư, Thiếu Phó Tước Dương-Quận-Công. Khi về hưu trí, được tăng chức Thái-Phó.

    Cha con Thái-Phó cùng triều, cháu 4 đời ông Nguyễn-Thực là ông Nguyễn-Khuê, em ông Khuê là Nguyễn-Sỹ, hai anh em đỗ Tiến-Sĩ, cùng khoa Canh-Tuất, (niên-Hiệu Cảnh-Trị đời vua Lê-Huyền-Tôn). Năm ấy anh 33 tuổi, em 26 tuổi. Ông Khuê làm quan đến Hình-Bộ-thị-Lang. Ông Sỹ làm quan đến Phó-Đô-Ngự-Sử. Người cháu là ông Nguyễn-Thưởng đỗ Tiến-Sĩ khoa giáp-Tuất (niên hiệu Cảnh-Hưng đời vua Lê-Hiến-Tôn) làm quan đến Trấn-Thủ một trấn.

    Nay họ ấy một ngành ở làng Vân-Điềm, một ngành ở làng Du-Lâm. Đời đời khoa giáp trâm anh. Xem thế đủ biết âm đức, để dành cho con cháu là hơn cả. Một hốt bạc không đáng bao nhiêu, mà trời đất báo đền cho như vậy, là vì rằng: nghèo đến thế mà cứu giúp người ta khi cấp bách, tấm lòng ấy mới quí. Khi ông giúp kẻ nghèo ấy là do lương tâm trắc ẩn sẵn có mà làm chứ không phải cốt để cầu trời đất báo đền cho. Nếu mà chỉ chăm chăm cầu lấy báo đền, thì là giả dối. Dối người chứ sao dối được trời. Những kẻ giả danh làm thiện, chỉ cốt để hưởng phúc trời cho, xem việc này thì nên vuốt bụng mà tránh đi.


    ...

    ÔNG NGUYỄN DUY THỜI


    Người làng An-Lãng, huyện An-Lãng, tỉnh Sơn-Tây. Khi còn nhỏ, nằm mộng thấy Thần-nhân bảo rằng: “An-Lãng nhân, An-Lãng nhân, An nguy hệ nhất thân.”

    (Tạm dịch: người An-Lãng, người An-Lãng, An nguy hệ một thân). Sau ông đỗ Hoàng-Giáp, khoa Mậu-Tuất đời vua Lê-Thái-Tôn (niên hiệu Quang-Hưng) làm quan đến Tả-Lý Công-Thần, tham Tụng lại Bộ-Thượng-Thơ, coi cả việc sáu bộ, Thái-Phó, Tuyền-

    Quận-Công, được mở ra Phủ-Bình-Quân, tặng là Thái-Tể. Quả thật là người hệ-trọng của thiên hạ.

    Con ông là Duy-Hiểu, năm 27 tuổi, đỗ Hoàng-Giáp, Khoa Mậu-Thìn, Đời Vua Lê-Thần-Tôn. (Sự tích ghi trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào: CÔNG DƯ TIỆP-KÝ)


    ...

    ÔNG NGUYỄN ĐĂNG


    Người làng Đại-Toán, huyện Quế-Dương, tỉnh Bắc-Ninh, đỗ Hoàng-Giáp khoa Nhâm Dần, đời vua Lê-Kính-Tôn. (Niên-Hiệu Hoàng-Định) 4 kỳ đều ưu-hạng (Hạng nhất), thi Hương, thi Hội, thi Đình, đều đỗ đầu cả, tức là Tam Nguyên, đi sứ sang Trung Hoa, làm quan đến Hộ-Bộ Tả Thị-Lang, tức Phúc-Nham-Hậu. Khi mất được phong Phúc-Thần. Về văn chương, ông giỏi về lối phú, đã thành câu tục ngữ thời bấy giờ “Phú ông Tổi, giỏi làm chi” (trích trong Công Dư Tiệp ký)


    ...

    ÔNG NGUYỄN TRẬT


    Người làng Nguyệt-Viên, huyện Hoằng-Hóa, tỉnh Thanh-Hóa. Đời truyền lại rằng, ông đỗ thi Hương rồi, vì nhà nghèo, bỏ học đã lâu, không có chí tiến thủ nữa. Đời vua Lê-Nhân-Tôn (niên-hiệu Vĩnh-Tộ) khoa Quý-Hợi, trước mấy ngày, các bạn ông đến rủ ông đi thi, ông từ chối rằng “thi đại-khoa khó lắm có thể cầu may được đâu. Tôi bỏ học đã lâu, vả lại nhà nghèo không có tiền đi ăn đường, nên không dám đi.” Các bạn cố ép, nên ông phải gượng đi với bạn. Tiền đi đường đều nhờ ở bạn. Và tự nghĩ tài mình kém người, nên khi đi, khi ngồi đều nhường các bạn trước. Đến nhà trọ, các ông bạn

    nằm giường cao chiếu sạch, Ông tự biết phận mình không dám ngang với bạn, cuộn chiếu ngủ riêng dưới thấp ở gian nhà khác.

    Các bạn đều bậc học giỏi, cùng nhau bình-luận văn-chương, ông nào cũng chắc là mình đỗ, không ai để ý đến ông Trật. Khi ngủ yên cả, đến canh tư, hốt nhiên người chủ trọ đốt đèn gọi các ông dậy còn ông Trật, chủ trọ tưởng là đầy tớ, nên không gọi, chủ trọ bảo rằng: “Tôi thấy thần-nhân bảo tôi, nhà này có Tiến-Sĩ đến trọ, và dẫn cho tôi xem mặt kỹ-lưỡng. Các ông cho tôi nhận mặt để xem đúng ông nào” Ông nào cũng chắc là mình đều ngồi dậy cả, nhưng chủ trọ đều bảo không phải; giấc mộng rõ ràng, chả nhẽ thần dối mình. Các ông cho là hoảng-hốt, nói liều không tin bảo chủ trọ rằng: “còn một ông nằm ở gian kia, thử gọi dậy xem sao?” rồi chỉ bảo chủ trọ gọi, chứ không thèm gọi, lại tỏ ý khinh bỉ mà cười. Lúc trước ông nghe lời chủ trọ, song nghĩ bụng Đại-Khoa đâu đến phần mình, nên cứ cuộn chiếu ngủ yên. Chủ trọ phải dựng đầu ông xem mặt, nhác trông bảo đúng là ông này rồi, ông thẹn đỏ mặt, bảo chủ trọ rằng: “Các ông kia mới đáng tài Tiến-Sĩ, còn tôi đâu dám mong, bất quá trong lúc nằm mộng lơ mơ đó thôi, xin đừng nói, sợ các bạn chê cười”.

    Chủ trọ bảo: “tài học của ông thì tôi không biết, nhưng trong mộng Thần chỉ đích là tướng mạo ông.” Các bạn cười ầm, ông thẹn quá cuốn chiếu ngủ, không tin lời chủ trọ.

    Sáng ngày dậy, các ông đều đều gọi ông là Tiến-Sĩ. Đến ngày thì ông cũng gượng vào thi, bụng nghi đỗ đạt gì đến mình. Từ kỳ nhất đến kỳ ba đều bạn giúp, đỗ luôn ba kỳ, bảng ra kỳ thứ ba

    rồi chỉ mình ông có tên vào kỳ thứ 4 còn các bạn cùng trọ đều rớt cả. Ngày thi thứ 4 văn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào thời mẹo dài và khó hơn ba kỳ trước, ông liệu không đủ tài làm nổi toan làm ố nhọ quyển đề ra. Các ông bị rớt ở ngoài bảo nhỏ nhau rằng: “xem kỳ này nó hỏi ai được, mà đậu Tiến-Sĩ cho đúng mộng chủ trọ”

    Ông ở trong trường chỉ viết đề thi xong rồi gấp quyển lại, giả ngủ đợi hết giờ là đi ra. Không ngờ vào khoảng giữa trưa, có một trận gió to, bài vở bay lung tung, lều chõng đổ ngả nghiêng, phút chốc gió yên, thấy trước mặt có một bản thảo sẵn đủ cả. Nghĩ bụng biết là trời cho, bèn chép vào quyển mình đem nộp. Khi truyền lô, ông đỗ Tiến-Sĩ, mới tin lời mộng của chủ trọ. Kế đến hôm thi Đình, ông lại gấp quyển giả cách ngủ, có người Võ-Sĩ coi thi, lấy đốc-dáo đập vào chân ông, bảo sao không dậy mà làm văn, ông vin cớ kều rầm lên là bị đánh đau quá, không nghĩ được văn nữa. Triều đình xét không lý gì bắt lỗi được ông, nên phải cho đậu. Từ đấy thi Đình không ai bị đánh hỏng là từ ông Trật trước.

    Xem thế thì biết: Bảng Tiến-Sĩ là bảng trời, phần nhiều bằng cứ theo phận mệnh, không thể chỉ cậy văn-chương giỏi mà được đâu. Vì ông đỗ như thế nên làm quan chỉ đến cấp sự thôi, đời bấy giờ cũng không trọng lắm.

    Sử nhà Lê chép rằng, Mùa hạ tháng Tư, Thi-Đình, cống Sĩ Nguyễn-Trật, người làng Nguyệt-Viên, huyện Hoằng-Hoa mượn người làm gà văn, việc phát giác, chúa không bằng lòng, nên khoa ấy không cho bảng vàng.


    ...

    ÔNG NGUYỄN-MINH-TRIẾT

    Người làng Nhạc-Sơn, huyện Chí-Linh, Tỉnh Hải-Dương, lúc

    còn nhỏ tuổi, ông nằm mộng thấy người bảo rằng:

    “Độc thư đáo lão vị thành nhân” nghĩa là “Đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào đến già chưa nên người” Tỉnh dậy ông đem lòng chán nản vì câu đó.

    Sau được làm Tri-huyện An-Lão. Năm Tân-Vị, đời vua Lê-Thần-Tôn (niên hiệu Đức-Long). Ông đã 54 tuổi, thi Hội, thi Đình đều đỗ đầu, rồi đỗ Thám-hoa, (Chiết tán ra mới rõ mộng là đúng Nghĩa là đến huyện An-lão, cứ đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, rồi năm Vị mới thành danh Lão là huyện An-Lão. Vị tức là năm Vị (năm Mùi) chứ không phải như nghĩa đã đoán trên.) Làm quan đến Thượng Thơ, hàm Thiếu-Bảo, Tước Cẩm-Quận-Công, hưu trí, hưởng thọ 95 tuổi. Ông tuy đỗ muộn, nhưng hưởng lộc đến 41 năm. Sự-nghiệp hiển hách. Thế mới biết đạo trời đất thừa trừ đều có định phận, bớt đằng nọ, thêm đằng kia. Về công danh có kẻ sớm người muộn. Người thành đạt sớm vị tất được toàn vẹn khi tuổi già, mà người thành đạt muộn thì lại được phú quý vinh hoa. Người ta cốt phải sửa mình không nên thấy người ta thành đạt mà vội kêu la ta không kịp người, cũng không nên vì thành đạt muộn, mà biếng nhác công phu tu-tỉnh.

    Cổ nhân nói rằng: “Bao giờ đậy nắp quan tài mới là hết việc” Xem cuốn Đăng-Khoa-Lục ghi chép sự-nghiệp của các bậc tiền bối thường đều thế cả. Người có chí lập công danh nên lấy đó làm gương (Trích trong Công-du Tiệp-Ký).


    ...

    ÔNG HỒ-SỸ-DƯƠNG


    Người làng Hoàn-Hậu, huyện Quỳnh-Lưu, tỉnh Nghệ-An, đỗ giải Nguyên (Thủ khoa) khoa Ất-Dậu. Khoa Mậu-Tý đi thi thay

    cho người khác, bị tội xung làm lính, đến năm 31 tuổi ông đỗ Tiến-Sĩ khoa Nhâm-Thìn; (niên hiệu Khánh-Đức) đi sứ nước Trung-Hoa, làm quan đến Tước Duệ-Quận-Công, ông là dòng dõi xa ông Hồ-Sỹ-Thốc và là ông Tổ Sỹ-Tân, Sỹ-Đông, Con cháu đều dự khoa giáp đến nay vẫn còn. Làng này có một trái núi vuông như trái bảng, lại một trái núi nhọn như cái bút nên trong làng ấy, không riêng gì họ Hồ Các họ khác, họ nào cũng có khoa giáp quí-hiển không những là đức-Trạch đời trước để lại còn có lẽ là phong thổ xui nên đó chăng? Nhưng mà phong-thổ cũng phải là nhà có đức mới được. Lẽ ấy không sai.

    Xem khoa thứ của họ Hồ: Hồ Sỹ-Dương, đỗ Tiến-Sĩ, cháu là ông Sỹ-Tân,31 tuổi, đỗ Tiến-Sĩ, khoa Tân-Sửu, đời vua Lê-Dụ-Tôn (niên hiệu Bảo-Thái) Sỹ-Đống 34 tuổi đỗ Hoàng-Giáp chế khoa đời Vua Lê-Cảnh-Hưng, sang đến Triều-Nguyễn, Sỹ-Tuần 32 tuổi, đỗ Tiến-Sĩ khoa Giáp-Thìn, đời vua Thiệu-Trị, Hồ-Sỹ-Thốc đỗ sớm, đến đời Trần-Phế-Đế làm quan đến Học-Sĩ Phụng-Chỉ.


    ...

    ÔNG NGUYỄN-CÔNG-BẬT


    Người làng Khang-Cù, huyện Nam-Trân, tỉnh Nam-Định, 34 tuổi, đỗ Tiến-Sĩ khoa Nhâm-Thìn đời vua Lê-Thần-Tôn (niên hiệu Khánh-Đức). Cụ Tổ nhà ông nghèo lắm. Khi chết, hàng xóm khiêng đi chôn, đến cánh đồng bỗng gặp mưa to gió lớn. Nhân tiện có chỗ trâu dẫm, vội để xuống đấy, lấy cỏ và bùn lấp qua loa rồi mải miết chạy về. Sáng hôm sau, đã thấy mỗi đùn đất lấp đầy rồi ông đỗ được là phát phúc ở ngôi đất này. Hình đất chỗ ấy là hình con cá chép, huyệt kết ở đuôi cá.
  • Share This Page