1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0071.00008 [Hán Nôm - @keodau - done - GD]

26/1/16
0071.00008 [Hán Nôm - @keodau - done - GD]
  • PDF
    GoogleDocs



    #0071.00008

    Đánh máy: minhf@yahoo


    []

    NGUYỄN-QUỐC-TRỊNH – NGUYỄN-ĐÌNH-TRỤ​

    Người làng Nguyệt-áng, Huyện Thanh-Trì, Tỉnh Hà-Nội, Cụ Tổ nhà ông vốn là người có âm-Đức. Một hôm, gặp mấy người Tầu đánh rơi một bao tải, trong có vàng bạc, ông nhặt được, đứng chờ ở đó đợi khi người Tầu trở lại, ông trả đủ.

    Người ấy muốn tặng lại ông một nửa vàng bạc, ông không nhận. Người Tầu bảo rằng: “Tôi đi xem phong thủy (xem đất) thấy ở đây có một ngôi đất to, đang chọn ai có đức thì cho. Nay ông là người có đức tôi xin cho. Ông mời người Tầu về nhà, kính trọng khoản đãi thờ như Thày. Khi tìm được đất rồi, chọn được ngày lành đem một Tổ đến táng, và dặn rằng đất phát khoa Giáp, khi vào trường thi phải cẩn thận mới đủ Tam-Khôi, nếu không thì không đủ đâu.

    Ông hỏi họ tên, ông thày Tầu chỉ viết cho bốn chữ Bình-lục-tiên-sinh và nói rằng ngày nào phát phúc, nên nhớ đến tôi, rồi cáo từ đi. Từ đó không thấy tông-tích ông thày đi lại đó nữa. Ông vốn làm nghề Thư-lại, Quốc-Trịnh và Đình-Trụ là cháu ông cụ đó. Hai ông ở với ông cụ, lúc Thày Tầu làm ngôi đất thì hai ông đã hơi lớn. Sau ông cụ mất, nghèo quá không nơi nương nhờ, phải đến ở với chị lấy ông Tiến-Sĩ người làng, vẫn làm nghề Thư-lại. Vì lúc ấy Quốc-Trịnh 17 tuổi, Đình-Trụ cũng đã 12 tuổi. Một hôm ông Tiến-Sĩ mua gỗ về làm Từ-Đường thờ Tổ, bảo hai em vợ rằng: “Nhân tiện, xin làm Từ-Đường cho cha mẹ vợ một thể, chứ hai em làm nghề Thư-Lại có thành lập được cũng chỉ đủ no ấm tấm thân, thời dựng xây sao được Từ-Đường”. Ông Tiến-Sĩ nói thế hai ông thẹn, vì là anh rể nói khích liền đem đồ tịch, ghế

    chiếu và nghề thư-lại vất xuống giếng trong làng và thề rằng từ đây về sau nếu còn làm nghề Thư-Lại, xin nguyện trời đất chu-diệt. Nói rồi, nước giếng tự nhiên xôi lên, lâu độ một trống canh. Từ đấy hai anh em đi tìm thầy để học, nhưng ngặt vì không có lương thực. Người chị có hiếu hạnh, thấy hai em lập chí như thế mừng thầm, liền theo gấp đến chỗ trọ học, vào lạy Thày hết lòng dạy bảo vì hai em đã lớn tuổi, đi học hơi muộn. Lại tìm nhà cho 2 ông trọ và tiếp tục vẫn đủ lương ăn. Ông thày cũng cao kiến, biết lòng hai ông tất thành đạt, Thày bảo bà chị đừng lo, hai em thế nào cũng thành tài, sẽ không phụ lòng mong đợi của chị. Hai ông học tấn tới, nhưng có tính hay chơi. Một hôm chị đem lương đến thấy Quốc-Trịnh đương thả diều giấy liền vào thưa rõ với Thày, xin Thày quở phạt. Thày gọi Quốc-Trịnh bảo: “Tội đáng đánh đòn. Ta hãy ra câu đối, nếu đối được thì ta tha, đối không được sẽ phải đánh đòn. Ra đối rằng: “bất học hiếu du, vi Tỉ-giáo” (nghĩa là không học thích chơi, trái lời chị), ông liền đối: “đăng khoa cập đệ, trọng sư-danh” (đỗ khoa cấp đệ nổi tiếng Thày). Thày khen có khí phách đại khoa mà tha cho. Sau hai ông học tiến tới. Năm Bình-Thân đời vua Lê-Thánh-Tôn, niên hiệu Thịnh-Đức, thi Hội hai ông đỗ liền Tam-Trường, đến kỳ thi thứ tư, ông Quốc-Trịnh quên mất mấy đoạn đề mục, ông Đình-Trụ bảo tôi đã nhớ ra rồi. Ông Quốc-Trịnh nói: Ta thi định lấy khôi nguyên, mà còn có đề không nhớ, thì sao đáng là Khôi Nguyên. Và đã đi thi, tôi lại phải hỏi còn ra gì nữa. Thôi tôi đành đợi khoa sau lấy khôi nguyên cũng vừa, nói rồi cuốn lều ra.

    Khoa ấy ông Đình-Trụ 30 tuổi, đỗ đầu Hội và đầu Đình, nhưng chỉ được đồng Tiến-Sĩ thôi, khoa Kỷ-Hợi sau, niên hiệu Vĩnh-Thọ, cũng đời vua Lê-Nhân-Tôn, ông Quốc-Trịnh 35 tuổi, đậu Trạng-Nguyên (thi Hương bốn kỳ ông đều đỗ đầu) làm quan đến

    Thượng-Thư Tước Quận-Công. Thời ấy quân Tam-Phủ kiêu ngạo lộng hành, ông bàn giảm quân lương chúng biết chuyện đều oán ông, khi ông ở triều ra cửa phủ, chúng vây bắt ông, tay không đánh chết. Triều đình biết rõ bốn tên thủ phạm. Song sợ chúng làm loạn, nên không dám án-luật trị tội, phải nói thác là bốn tên ấy có công sai đi giúp việc các trấn. Bốn tên đi rồi, Triều-Đình mật tư cho bốn vị quan Trấn-thủ chém đầu bốn tên ấy, cùng một ngày, có báo tin về Triều. Vua khiến làm một mâm cỗ sai quan đến quê ông ở làng Nguyệt-áng làm lễ tế ông, phong làm Phúc-Thần và lục dụng các con cháu. Hồi ông chưa đỗ nằm mộng thấy mình ăn đầu người, chưa tán ra sao. Khi đỗ Trạng Nguyên, cho là ứng mộng rồi, nhưng có lẽ mộng ăn đầu người ứng vào việc ông bị giết và bốn tên thủ-phạm bị chém đầu. Về sau con ông Đình-Trụ là Đình-Bạch, năm 25 tuổi đỗ Tiến-Sĩ, khoa Quý-Hợi đời vua Lê-Hy-Tôn (niên hiệu Chính-Hòa) con thứ là Đình-Ý 15 tuổi đỗ cử nhân, 25 tuổi đỗ Bảng-Nhãn, Đình-Nguyên khoa Canh-Thìn (Niên hiệu Chính-Hòa) đến cháu bốn đời là Đình-Quý đỗ Tiến-Sĩ khoa Ất-Vị, đời vua Lê-Dụ-Tôn (niên hiệu Vĩnh-Thịnh) khi 32 tuổi. Đời truyền rằng: ông Đình-Bách thi Đình đáng đỗ Thám-Hoa, vì thất cách nên bị truất xuống đỗ Tiến-Sĩ , đúng lời kiều đất. Ông Đình-Ý khi chưa đỗ có làm bài thơ: “Dĩ-Tề Khẩu-Mã” có hai câu kết là: “Tha nhật Hoa Sơn tuy vị phóng, Thủ dương hồi cố thượng hàn mao” rõ là khí phách người khôi nguyên thổ lộ ra đó.

    Tục truyền rằng: Địa khoán của mộ tổ nhà ấy là: “Đánh khánh muôn người đến, ngược lại muôn người đánh khánh” có ý chỉ việc ông trạng bị giết. Tôi là con cháu xa của ông được biết tưởng nói không có việc ấy, chỉ nói: Lúc thày Tàu chỉ để mộ cho, có vạch xuống đất câu thơ, nửa câu trên không nhớ, chỉ nhớ nửa câu dưới là: “bất nhiên chỉ tác huyệt đề tâm” nghĩa là: “Nếu không

    thế, chỉ làm bằng lòng huyệt” vì nói đất ấy về phương càn có con sơn cao to là phát Trạng-Nguyên. Thầy đất làm phép thế nào không biết, nhưng có bảo vào thi cẩn thận thì làm Tam-Khôi. Nếu bất cẩn thì thiếu, sau ông Đình-Bách vì thất cách nên thi sểnh Thám-Hoa. Thế thì khí mạch ngôi đất cùng công dụng của sự làm phép đều không thể hiểu nổi. Nay từ đường nhà ông đều thờ luôn cả thày Địa-Lý Tàu.

    Ông Đình-Trụ hiệu là Chi-Đường, có hơn 70 người học trò đỗ Giáp-Đệ

    PHONG THỔ LÀNG MỘ-TRẠCH VÀ ĐẤT VŨ-HỒN[1]

    Họ Vũ làng Mộ-Trạch, huyện Đường-An, tỉnh Hải-Dương, khoa giáp rất thịnh thường mỗi khoa hai, ba người đỗ cùng khóa anh em chú cháu làm quan đầy triều. Thời bấy giờ quan Triều nói đùa rằng: các ông họ Vũ bàn việc họ, việc làng, tại Triều-Đình à? Khoa Kỷ-Hợi, đời Lê-Thần-Tôn (niên hiệu Vĩnh-Thọ) quan chủ khảo ngờ trước đây có lẽ vì tư tình nên họ Vũ đỗ nhiều. Khoa ấy bắt đào các hố đất, các ông Cống-sĩ ngồi dưới hố làm văn, lều phủ lên hố, kiểm soát rất nhặt, chấm quyển rồi khớp phách lại, làng Mộ-Trạch lại có bốn người đỗ Tiến-Sĩ, anh em chú cháu họ Vũ đỗ ba người, là Vũ-Cầu-Hối 42 tuổi, Vũ-Bật-Hài 31 tuổi, Vũ-Công-Đạo 32 tuổi, anh em chú cháu đỗ liền ba người, văn thể không giống nhau lại có Lê-Công-Triều 30 tuổi cùng làng Mộ-Trạch đỗ đồng khoa, mới biết trước đây, không phải tư tình, mà liên quan đến phong thổ của làng ấy. Nghe nói làng ấy có một thửa đất gọi là Tổ-Tiến-Sĩ, chỗ ấy long hổ quanh co đến vài mẫu, trong có sơn mạch chi tiết tràn xuống từng chùm nếu táng được một

    ngành thì đời đời phát khoa, mỗi họ được một huyệt. Lại nghe nói họ Vũ táng theo các họ trong làng ấy một huyệt ở gò đất to hình kim-tinh. (Ông Cao-Biền cho là kỳ-hinh quái huyệt) phải đào tung kim tinh ra chôn bốn cột sắt và có xích sắt treo quan tài ở trong đậy ván gỗ, rồi lấp đất lên trên.

    Từ Vũ-Hồn táng huyệt này. Đời truyền rằng đời Đường nước ta nội thuộc nước Tàu, Vũ-Hồn làm quan ở đất này, lấy vợ người nước ta, xem khắp phong thủy nước ta, chỉ có đất làng này là hơn cả nên gọi là Tổ-Tiến-Sĩ. Vì làm quan Đời-Đường nên đặt tên huyện là Đường-An, ý là lâu dài yên ổn, đặt tên làng là Mộ-Trạch ý nói là Đức-Trạch đời trước và người ta rất ưa, táng theo ngôi kim-huyệt, lại táng thêm mấy huyệt ở chỗ Tổ-Tiến-Sĩ nữa. Sinh các con, để một chi lại còn một chi đưa về Tàu. Hai chi ở nước ta và ở nước Tàu đều được khoa giáp hiển đạt.

    Sau nước ta có quan sang nước Tàu, gặp nhiều con cháu họ Vũ làm quan đương triều, có hỏi thăm họ Vũ nước ta phát đạt thế nào. Sứ ta cho biết họ Vũ đương đại phát, và đãi sứ ta rất hậu. Họ gửi các vật châu báu và một phong thư nhờ sứ ta đưa cho họ Vũ làng Mộ-Trạch. Trong thư dặn ngôi đất táng treo ở Kim-Tinh, có giây sắt treo quan tài, một dây sắp đứt, áo quan lệch, phải đánh giây sắt khác, đặt lại áo quan cho bình chỉnh, không nên để sai một ly, và bồi đắp lại như cũ, có họa cả đồ bản gửi theo làm tin. Chắc đời trước có đồ bản và lời dặn để lại như thế đó. Họ Vũ ở nước ta, trước đây cũng biết có ngôi mộ ấy, khi nhận được thư và họa đồ, mở ra quả nhiên đúng trong họa đồ, rồi sửa lại cho hoàn toàn như cũ. Nay nước ta kể đến khoa giáp thịnh nhứt là họ Vũ, làng Mộ-Trạch còn chi ở Tàu chưa biết phát đạt thế nào.

    Xem trong Đăng-Khoa-Lục, thì họ Vũ đã hơn hai mươi ông

    Tiến-Sĩ rồi, sự tích họ Vũ đã chép kỹ ở Công-Du Tiệp-Ký. Nay chỉ ghi các điều nghe được thôi. Từ ông Vũ-Tá-Nghiêu đời Trần-Minh-Tông, đến họ ông Vũ-Huy-Đình đời Lê-Hiến-Tông, tất cả cộng lại được 25 ông đỗ ĐẠI-KHOA.

    []

    ÔNG NINH-ĐẠT​

    Người làng Côi-Trì, Huyện An-mô, tỉnh Ninh-Bình. Đời ông cha nhà ông mời Thày Tầu về làm đất. Chọn được một ngôi đất rồi, Thày nói với người trong họ rằng: “Đất này lợi ngành thứ, ngành trưởng bị sát, các người ở ngành trưởng có bằng lòng táng không?”

    Ngành trưởng nghe theo, khi táng huyệt ở trên núi, Thày dùng cái nồi đất, , chỉ táng một đầu lâu, đặt dựng đầu người trong nồi như người ngồi, đằng trước có hòn núi như cái bảng. Sau ngày ngành trưởng quả nhiên sát. Năm 42 tuổi, ông đỗ Tiến-Sĩ, khoa Kỷ-Hợi đời vua Lê-Thần-Tôn (niên hiệu Vĩnh-Thọ) ông Ninh-Địch 32 tuổi đỗ Hoàng-Giáp khoa Mậu-Tuất (đời vua Lê-Vĩnh-Thịnh) ông Ninh-Tốn 35 tuổi đỗ Tiến-Sĩ khoa Mậu-Thân (đời Vua Lê-Cảnh-Hưng). Các ông đều là ngành thứ cả, đúng nhời ông Thày Địa lý đó nói.

    []

    ÔNG LÊ-HY​

    Người làng Thạch-A huyện Đông-Sơn, tỉnh Thanh-Hóa, 19 tuổi, đỗ Tiến-Sĩ, khoa Giáp-Thìn, đời vua Lê-Huyền-Tôn (niên hiệu Cảnh-Tự) làm quan đến Tham-Tụng. Đời ấy có câu rằng:

    “Tể-Tướng Lê-Hy, thiên hạ sầu bi, Tể-Tướng Vãn-Hà, thiên hạ âu ca” (nghĩa là ông Lê-Hy làm tể tướng thì thiên hạ buồn sầu, ông Văn-Hà làm tể tướng thì thiên hạ thái bình) Hoạn nghiệp của hai ông tuy không có gì được truyền tụng, nhưng lời ca của dân như thế, tất nhiên có chỉ vào điều gì.

    Vậy người Quân-tử, lập nên sự nghiệp phải nghĩ sao cho thiên-hạ được nhờ ơn để phúc về sau, không điều nào lớn hơn điều này. Chúng ta bình nhật học hành những gì? Làm được việc cứu người lợi dân còn lo sợ hổ-thẹn với các bậc Tiền-Triết, huống chi lại lưu độc cho thiên hạ, để bia miệng nghìn năm được chăng? Làm ông Thạch-A, sao bằng làm ông Vãn-Hà.

    Tôi xét Vãn-Hà, là ông Thượng-Thư Nguyễn-Quán-Nho người làng Vãn-Hà, 30 tuổi đỗ Tiến-Sĩ khoa Đinh-Vị (đời vua Lê-Cảnh-Trị năm thứ năm) là người đức hậu có tiếng.


    []

    ĐẶNG ĐÌNH TƯƠNG HIỆU LÀ CHÚC ÔNG​

    Người làng Xương-Xá, huyện Chương-Đức, tỉnh Hà-Nội. Đời truyền rằng: Bà Tổ-Mẫu ông rất nghèo, thường phải xin ăn. Làng ấy có một cánh đầm, nước bốn mùa không cạn, những người cày cấy đi qua phải dùng thuyền. Giữa đầm có một cái gò lớn, những người làm tất phải tụ ở đó nghỉ ngơi ăn uống. Bà cụ theo người ta vào đấy ăn xin. Một hôm trời rét quá bà cụ không chịu được lạnh nằm rạp ở đó, mọi người về quên không gọi. Khi bà cụ thức dậy thì trông bốn mặt không có thuyền nửa, trời lại mưa đầm rét quá, bà cụ chết rét ở đấy. Sánh hôm sau mọi người đi làm chở thuyền đến, chỉ thấy mối đùn một ngôi mộ. Nhân nghĩ

    đến bà cụ hôm qua không về được mà chết ở đây, trời táng cho đất ấy, phát phúc bắt đầu từ ông. Năm 22 tuổi ông đỗ Tiến-Sĩ khoa Canh-Tuất đời vua Lê-Huyền-Tôn, (niên hiệu Cảnh Trị) đi sứ sang Trung-Hoa làm quan đến Tả-Thị-Lang, Lại Bộ cải sang chức Tả-Đô-Đốc, Tả-Lý-Công thần, coi giử quân doanh Tiền-Hòa Thái-Phó, tham dự Triều chính, Quốc Lão, trí-sĩ, Tước Quận-Công.

    Sau lại được khởi phục làm quản Trung-Khuông-Doanh thăng Đại-Tư-Mã chưởng phủ-sự. Lại trí-sĩ lần nữa; gia phong Đại-Tư-Đồ, hưởng thọ hơn 80 tuổi, mất rồi được truy phong làm phúc-thần. Đời truyền: Khi Ông hưu trí về nhà, cứ ngày mùng một và ngày rằm, Ông vào kinh sư chầu Vua, khi ông đi tất mang theo cái giỏ tre bên mình, để nhân dân có ai kêu oan, và ai có sự gì oan uổng chưa được xét phân minh, cứ viết đơn bỏ vào trong giỏ ấy (tức như hộp thư dân ý). Đi từ làng Lương-Xá đến kinh đô, dân đầu đơn đầy giỏ. Ông vào chầu lấy các đơn ra, tâu với Triều-Đình xét xử cho công bình và thân oan cho họ. Con cháu ông hiển đạt mãi mãi, nên có câu ca dao rằng: “đánh giặc họ Hàn, làm quan họ Đặng” (ý nói họ Đặng sau làm quan có rất nhiều khoa giáp vinh hiển) Người Họ tản cư các nơi, đến đâu cũng đỗ đạt vinh hiển, không phải chỉ có ngôi đất này. Tản cư ở đâu được đất ở đó, mà ở đâu cũng được phát đạt là nhờ đất xui nên đó.

    Đời truyền: Tiên-Tổ họ Đặng trước kia có một nhà hơi khá, một thày Phong-Thủy (Thày-địa-lý) người Tàu, đến trọ ở nhà ông, để xem đất. Ông thường hậu đãi cơm nước, ở độ vài tháng, đêm nghe tiếng người học trò mật bảo thày rằng: “Đây có ngôi đất to, nhưng sát Thày làm đất, nên chưa dám làm”. Sáng hôm sau vợ chồng ông nói với Thày xin được làm cho ngôi đất, Thày nói dối là khó, chưa tìm được ngôi nào. Ông đem câu nghe được lúc đêm hỏi lại, Thày Tàu biết không dấu được ông và cảm lòng

    hậu đãi của ông, không chối được, bèn lập mẹo bảo phải lo một trăm quan tiền. Thày chắc nhà ông nghèo không lo nổi phải thôi, nào ngờ đâu, ông quả-quyết nhận lời, lập tức bán vườn ruộng được đủ trăm quan; Thày Tàu không từ chối được, lại lập kế nói “Ngôi đất này táng người chết thì không phát.” Nghĩ rằng đến thế thì ông phải thôi, không ngờ ông nhận lời, rồi bảo vợ. Bà vợ bảo để tôi chết cho, ông ở lại nuôi con. Ông bảo ông không biết làm ăn gì, để ông chết, còn bà vợ thì ở lại làm ăn nuôi con. Hai vợ chồng cứ tranh nhau chết, thày Tầu nghe thế bảo học trò rằng: Người đời ai không muốn sống. Ta tưởng lập mẹo thế, để họ thôi, ai ngờ vợ chồng họ tranh nhau chết, để được táng vào ngôi đất đó, chả phải ý trời cho nó là gì! Trời đã cho thì ta không dám trái, bèn bảo vợ chồng rằng: “Tôi không phải vì tiền mà cũng không phải vì đất táng người sống, nhưng vì đất sát-sư chết ngay vào tôi, nên tôi đặt điều như vậy để ông bà thôi. Nay ông bà đều không sợ chết, đó là trời cho ông, vậy tôi cũng theo ý trời làm cho ông, và cũng là để tạ ơn lòng tốt của ông bà đối với tôi xưa nay. Vậy thì táng sống ông, còn bà ở lại nuôi con. Khi táng tôi cũng tất chết, số tiền trăm quan ấy xin mua cho thày trò tôi mỗi người một con ngựa, táng rồi lên ngựa đi ngay, vì tôi có gia đình ở Phố Khách bến Bồ-Đề, nơi kinh đô buôn bán, để về được chết ở nhà được nơi nương nhờ, còn thừa bao nhiêu tiền xin vì tôi xây cho ngôi Từ-Đường theo hướng tôi định mà lập, không được sai đến ngày táng.” Thày bảo ông xuống huyệt rồi bảo học trò lấp cho mau, rồi ra ngay lên ngựa đi, không ngờ con ngựa chưa quen tập, vừa cầm dây cương đã bị con ngựa đá chân vào âm-nang chết ngay tại chỗ. Khi học trò theo đến, thày đã chết rồi. Họ Đặng theo đúng thày dặn xây Từ-Đường và xây thêm miếu thờ ở chỗ thày chết nữa, đến nay vẫn còn ngôi đất ấy tục gọi là non rầy, hình núi xuôi xuôi xuống chỗ thấp như hình con ngô công xuống uống nước. Tục truyền như thế, không biết có đúng không, nhưng


    [1] Quận Tam-Phủ là những quận quê ở Phủ Hà-Trung Phủ Thiện-Thiên và Phủ Tỉnh-Gia đời vua Lê-Hiển-Tôn.

Chia sẻ trang này