1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0071.00013 [Hán Nôm_Ngọc Sơn_done_GD]

26/1/16
0071.00013 [Hán Nôm_Ngọc Sơn_done_GD]
  • PDF
    GoogleDocs



    trời. Khi sắp bị hành hình, ông đọc một câu rằng :

    [] [] []

    Phiên âm

    Tri gia bất trí giả, ngưu mã nhậm kỳ hô.

    Dịch nghĩa

    Biết chăng hay không biết chăng !, ...

    Trâu ngựa mặc dầu kêu gọi.

    Lúc đó có một vị coi án cũng (chân Tiến-Sĩ) đứng đó đối ngay rằng :

    [] [] []

    Phiên âm

    Kỳ nhiên khởi kỳ nhiên, long xà an sở ngộ.

    Dịch nghĩa

    Phải thế há rằng phải thế, rắn rồng yên phân nương thân.

    Sau con trai ông là Đông-Thời-Tấu, tài cao học rộng, thiên kinh vạn điển, nhơ thuộc làu làu, tính người cương trực, không kiêng nể thế lực. Khi sắp đi thi lên trình diện quan huyện, quan huyện biết là con ông liền ra bài thơ đầu đề “Thái thông vi tử thi, ...” viết bằng quốc âm, Đông-Thời-Tấu liền cầm bút viết ngay rằng :

    Phiên-âm

    Ông Uyên bà Đậu phiết tỳ tỳ

    Đẻ được thằng Dân tốt hữu vi

    Rộng rãi lòng nhân loài Bắc-Hán,

    Lăm le chí cả có Cô-Tùy.

    Trong nhà con đỏ lon ton chạy,

    Ngoài cửa thằng Man khép nép quỳ.

    Nỡ để cha ngồi nơi nắng cực,

    Đạo con nào có thảo ngay gì ?

    Quan huyện giận lắm, liền từ chối không nhận, vì thế ông không được đi thi. Ông nghe tin Hoàng-Trừ nhà Lê bị họ Trịnh hiếp chế, phải vào ở Thanh-Hóa, lập riêng một Triều-Đình để chống nhau với họ Trịnh. Ông đến yết-kiến, Hoàng-Trừ mừng lắm, nhân ra bài phú “Ngộ hội chân quân thần”, đánh vừa dứt một hồi trống, ông liền đọc cả toàn đề và viết thành quyển. Hoàng-Trừ hết sức khen thưởng, từ đó duyên may gặp gỡ cá nước rồng mây. Hoàng-Trừ mở khoa thi, ông đậu Thám Hoa, sau ông thảo tờ hịch đánh họ Trịnh, cử binh đại chiến, bị thua và bị tử trận.

    Than ôi, ông là người tiếng văn học, cao hơn mọi người mà đến bất đắc kỳ tử, biết đâu lại không có số đó ư ? Vậy làm người học trò cần lấy đức hạnh làm căn bản mới được.

    Sau triều nhà Nguyễn, có viên Tri-huyện Cao-Bá-Đạt (em Cao-Bá-Quát) khi bị hành hình cũng đọc câu rằng :

    [] [] []

    Phiên âm

    Ngưu mã nhậm kỳ hô, tri ngã giả bất tri ngã giả ;

    Long xà an sở ngộ, hữu thiên hồ ức vô thiên hồ !


    Dịch-nghĩa

    Trâu ngựa mặc dầu kêu ; biết ta chăng ? hay không biết ta nữa ?

    Rắn rồng yên phận gặp ; có trời ư ? hay không có trời ư ?

    Phiên âm

    CHÂN QUÂN THẦN PHÚ

    Minh lương thắng hội, hỉ khởi kỳ phùng. Mỹ hĩ nhất thời chi quân tề, tín tai thiên cổ chi anh hùng ! quân thần hài tương ngộ chi duyên, dục thành quyết chí ; cơ đồ tái hưng chi vận, lập định quyết công. Thời kỳ vận Chính suy Chu, vật tương thất Hạ ; Thiên ưng đế trụ chi chân nhân, hạ hữu ngọa long chi hiền tá ; Tế tư dân nhi phụ tư thế, tin bất vĩ tai ; dĩ thị quân nhi ngộ thị thần, phi ngẫu nhiên giả ! Quan kỳ phong vân hội đính, ngư hủy tinh kiên. Nhất thời khế minh lương chi hội, lưỡng ý hài giao tất chi duyên. Phóng cầu đa tuấn kiệt chi lưu, quân dĩ tri nhân tri thinh ; khi sử tận hiền năng chi sĩ thân dĩ nhậm chức vi hiền. Thị nghi bắc cự cường Tào, tây phù nhược Hán ; Thân đại nghĩa nhi kế tuyệt hưng suy ; kiến vĩ tích nhi phù suy định nạn. Tự Sơn-dương chi chính Thống, trùng khư hỏa đức ư tương hội ; khai tây thục chi hòng đồ, tái tục kim đao ư dĩ đoạn. Toán lai công hiệu như tư, đương tựu quân thần thượng khán; Tuy dĩ quan nhân hữu muội, hạch thực đa vi. Khuất bách lý ư Sĩ-nguyên, ký túc mạt thân ư tận dụng ; Nhậm tiên phong ư Mã-Tắc. Nhai-đình thủ bại ư toàn sư. Tựu kỳ gian nhi trách bị ; khả ư thử nhi cầu tỳ ! Nhiên nhi tự Hán dĩ lai, vô nhân dữ tịnh. Công cái tam phân quốc. Ngụy, Ngô, Thục dữ kháng hànhl; Danh cao bát trận đồ, Y, Lữ võ gia kỳ thịnh. Khởi khả dĩ cổ-giả Nghiêu Thuấn vi Tiên-chủ, Khổng-Minh chi đồng bệnh. Sở khả tích giả Hán cương vi ngụy. Thiên bất giả nhân, nghiệp cận thành ư thiên bá, thế nan hỗn ư tam phân. Bạch-đế hôi hưng phục chi tâm, sáng nghiệp cho công vi bán ; Ngũ-trượng sải anh hùng chi lệ, phục thù chi chí nan thân. Vô nại thiên chi hưng vận hề cữu Hán chi quân thần. Dĩ hĩ tai! Xà vận tinh di ; tàm tùng vậy cổ, đắc thất chi trần tiến dĩ nhiên, thị phi khảo di biên chi do tại. Chí kim luận Thục-Hán chi quân thần, vị thường bất vị chi cảm khái.

    Dịch nghĩa

    Minh lương hội tốt ;

    Hoan hỉ tương phùng.

    Đẹp thay một thời tôi chúa ;

    Xứng thay muôn thuở anh hùng,

    Vua tôi tương ngộ duyên may, muốn thành đại chí ;

    Cơ đồ tái hưng vận hội, gây dựng huân công.

    Thời bấy giờ

    Đương vận suy chu,

    Gặp thời thất Hạ.

    Trên phù đế trụ chân nhân ;

    Dưới có Ngọa-Long hiền tá.

    Giúp dân ấy mà phù đời ấy, thực hay lắm thay ;

    Có vua này lại gặp tôi này, há ngẫu nhiên cả.

    Nay xem :

    Gió mây gặp gỡ ;

    Cá nước lâu bền.

    Vua giỏi tôi hiền, một thời họp mặt ;

    Keo bền sơn chặt, muôn thuở đẹp duyên !

    Tin dùng nhiều tuấn kiệt những ai, vua biết chọn người là thánh.

    Cân nhắc hết hiền năng bao kẻ, tôi mà đáng chức là hiền.

    Thế nên :

    Bắc chống giặc Tào ;

    Tây phù nhà Hán !

    Tỏ nghĩa lớn, nối nghiệp dấy suy.

    Dụng công to, phù nguy cứu nạn,

    Ngôi chính thống Sơn-Dương tiếp nối, thổi bùng lửa đức đã hầu tàn ;

    Chí hồng-đồ Tây-Thục mở mang, gắn lại dao vàng vừa đứt đoạn.

    Kể ra công hiệu nhường kia ;

    Để trước vua tôi xét đoán.

    Tuy vậy :

    Dùng người còn kém;

    Lỡ việc có lần;

    Ép huyện lệnh cho Sĩ Nguyên tài ký-túc dùng chưa sứng chức

    Đem tiên phong giao Mã-Tắc, trận Nhai-Đình hại cả toàn quân.

    Cứ theo đó mà trách cứ ;

    Nên coi đấy mà sửa dần.

    Nhưng mà : Từ-Hán đến nay,

    Ai mà đáng sánh.

    Công vượt tam phân quốc, Ngụy, Ngô ai dám tranh hùng;

    Danh cao bát trận đồ Y, Lã không khen là thịnh;

    Há lẽ lấy việc xưa :

    Nghiêu, Thuấn làm Tiên-chủ;

    Khổng-Minh là đồng-bệnh.

    Điều đáng tiếc là :

    Hán sắp là Ngụy.

    Trời chẳng giúp phần;

    Nghiệp sắp quay về thiên-bá.

    Thế khó tránh được tam phân.

    Thành Bạch-đế, hưng thịnh nguội lòng, sáng nghiệp

    Công kia chưa được nửa.

    Gò Ngũ-Trượng, anh hùng rớt lệ, phục thù chi đó, vẫn chưa thân,

    Khốn nỗi bởi trời hưng vận,

    Đâu lỗi tại Hán quân thần ;

    Thế là thôi ;

    Vận rẫn sao dời

    Tơ tằm còn mãi

    Được thua dấu cũ qua rồi ;

    Dở hay bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào xưa còn lại

    Tới nay đem chuyện vua tôi triều Hán lạm bàn, ai không ngậm-ngùi cảm khái.




    []

    PHẠM - TIẾN

    Người làng Kim-Đôi, huyện Võ-Giàng, có chí học hành. Khi du học ở Kinh-Sư, mỗi năm về đầu xuân, các học trò, đều kéo nhau về Kinh tòng học. Ông tập văn ở các trường lớn, họp cùng anh em học trò xa gần, ông đã đọc hơn anh em hàng mấy chục quyển. Sau ông đỗ hội nguyên (Tiến-Sĩ khoa Tân-Mùi)

    []

    NGÔ TRẦN – THỰC

    Người làng Bách-Tính, huyện Nam-Châu. Ngôi mộ tổ nhà ông là do một thầy địa-lý Trung-Hoa táng cho. Các gò chung quanh đều nhỏ cả, duy có cái gò để ngôi mộ này lớn hơn gọi là cách “Quần nhạn tân bồng” kiểu đất đó có câu : “tuổi Thìn đổ khoa Thìn” (sau ông sinh năm Thìn, mà đỗ Hoàng-Giáp Đình-Nguyên khoa Canh-Thìn. Trước đây nhạc phụ ông là Phật-Tích, Tiến-Sĩ, đẻ được hai người con gái, trước gả một người cho ông, có ra cho ông một câu đối rằng : “Hữu nhị khổng tước” để xem khẩu khí ra sao. Ông ứng khẩu đối rằng : “Thành ngũ Thái long” Nhạc-phụ rất quý trọng liền gả con gái cho ông, và dạy ông học, Sau quả nhiên thành đạt, là phát phúc ở ngôi mộ này. Cái khẩu khí của nhà đại-khoa, đã biểu lộ rõ trong câu đối trên.

    []

    NGUYỄN HUY – CẬN

    Người làng Phú Thị, huyện Gia-Lâm, là con ông Nguyễn-Huy Dần (Ông Dần đậu Tiến-Sĩ khoa Mậu-Thìn, năm Cảnh-Hưng thứ chín) và là cháu ông Nguyễn-Huy-Nhuận, ông bẩm thụ tính chất thông minh, quyết chí học hành. Nhạc phụ ông cũng đỗ Tiến-Sĩ, Vợ ông luôn mấy năm không sinh đẻ, nhạc phụ vì thế mới hỏi vợ ông thưa, nhà con chỉ cố chí học hành, không nhập phòng bao giờ. Nhạc phụ sai con đến học cùng ông, giả làm bạn học, ý định muốn đêm hôm giục ông nhập phòng. Ông thưa lại với nhạc phụ rằng : cậu lại với tôi, không học hành gì chỉ giục tôi ngủ sớm. Nhạc phụ biết tính ông không thể cưỡng, liền thôi. Sau ông đỗ Tiến-Sĩ (Hội-nguyên). Vì có Đình đối, không đỗ được khôi giáp nên cáo từ về không làm quan. Khi trở về, lại càng chăm học ; ăn uống nằm ngồi không phút nào ngơi. Ông thường nói : “Kiếp này tôi cố học để kiếp sau khỏi phải học”. Người ta đồn rằng : Có tiên đem xe ngựa lại đón ông, rồi ông mất. Ông suốt đời không ham muốn gì cả, chỉ thích học kể cũng là lạ.

    []

    ÔNG NGÔ-THỜI-SĨ

    Ông tên tự là Thế Lộc hiệu là Ngọ-Phong, cư-sĩ người làng Tả-Thanh-Oai, huyện Thanh-Oai. Ông vốn quê ở Thanh-Hóa. Tục truyền mộ ông Lỗ-đổ, bà Xã chùa, đều là một tổ Thiên táng của nhà ông.Từ trước tơi nay nổi danh khoa bảng. Họ hàng tản mát, thiên cư các nơi, đều được hiển đạt khoa giáp. Một chi ở Thanh-Oai, cũng được hai ba ngôi đất to, phát đạt luôn luôn. Trong làng có một ngôi bệ thờ ở dưới gốc cây, có ngựa đá, sư-tử đá bày ở Tả-hữu, giữa sân có một cái bia, gọi là “Truy viễn đàn” nghĩa là “nơi thời cúng tổ-tiên của ông”; ở trong bia ghi chép đời đời trâm anh, văn võ kiêm toàn, có câu rằng : “ [] [] [] Thanh-Oan, Tả-Thanh-Oai, tam Ngô thời vi đại” “làng Tả-Thanh-Oai, huyện Thanh-Oai, có ba họ Ngô-Thời là lớn”. Đó là tỏ ý nói : nước biến mà nhà không biến.

    Ông nổi tiếng ở kinh-quốc chịu ơn tri-ngộ rất sớm. Khi ông chưa đỗ Tiến-Sĩ cung đã được tiến-triều. Ông đõ Hoàng-Giáp Đình-nguyên khoa Bính-Tuất, niên-hiệu Cảnh-Hưng thứ 27, được

    -----------

    Triều Lê ông nào chưa đỗ Tiến-Sĩ mà làm quan xuất sắc thì các Triều Thần tiến cử mới được thăng quan Tiến-Sĩ gọi là tiến triều, nếu không chỉ làm đến chức Đốc-đồng là cùng.

Chia sẻ trang này