0071.00014 [Hán Nôm_Ngọc Sơn_done_GD]

26/1/16
0071.00014 [Hán Nôm_Ngọc Sơn_done_GD]
  • PDF
    GoogleDocs



    Cử ra trấn thủ Lạng-Sơn, rồi mất. Sau làm thần động, Nhị-Thanh khói hương phụng tự, lâu dài bất tuyệt.

    Xem bài ký Nhị-Thanh động của con ông là Ngô-Thời-Nhiệm thì ý giả khí linh núi này thác sinh đó chăng. Văn chương của ông lừng lẫy khắp thiên hạ, không cần tán dương nhiều, một câu văn một lời nói, đều được người quý mến.

    Sau con ông là Thời Nhiệm cũng đỗ Tiến-Sĩ, con thứ là Ngô-Thời-Vị, cháu là Ngô-Thời-Phẩm tuy không đỗ khoa giáp, nhưng cũng làm tới chức Hiệp-Trần Tham-Tri.

    Gia-thế ông vào hàng đầu, trong văn học sử nước nhà. Trải qua các triều-đại, nhà ông ngựa xe tấp nập, kế tiếp hết thế hệ này qua thế hệ khác, đó chả phải là địa-khí chung tú đó chăng mà sở dĩ được đất, đâu phải là việc ngẫu nhiên?

    Sau ông kiêm chưc Quốc-sử Hiệu-Chính , làm bộ Việt-Sử tiêu-án?

    Xét trong Lê-Sử, đời vua Hiền-Tông, Trịnh-Sâm toan bỏ Thế-Tử là Trịnh-Khải, Khải ngầm gởi thơ cho viên Tham-Trấn Sơn-Tây, là Nguyễn-Khản và viện Tham-Trấn Kinh-Bắc là Nguyễn-Khắc-Tuân, ước hẹn đem binh vào giúp. Lúc đó tên Sơn làm chức điền-thư cho Trịnh-Khải, trước có học Ngô-Thời-Nhiệm, (bấy giờ ông Nhiệm đương làm chức Đốc-Đồng ở Kinh-Bắc) tiết lọ mưu ấy, Ngô-Thời-Nhiệm toan phát giác, cha là Ngô-Thời-Sĩ can ngăn, Nhiệm nói: Trung hiếu khó lòng toàn cả hai được, liền đi tố cáo, ông Sĩ uất hận quá, uống thuốc độc chết.


    [ ] [ ] [ ]

    LÝ – TRẦN – QUÁN

    Hiệu là Nùng-Thạch, người làng Vân-Canh, huyện Từ-Liêm

    --------------------------

    Chú thích: Động-Nhị-Thanh thuộc Châu Thoát-Lãng, phủ Trường Khánh, tỉnh Lạng-Sơn. Ngô-Công xây dựng động Nhị-Thanh, ở phía bên phải động Tam-Thanh, xây cất đền miếu và đền thờ Tam-Giáo, ở chỗ hang cao có tạc truyền-phần của ông ở đó.


    Đỗ Tiến-Sĩ khoa Bính-Tuất, niên hiệu Cảnh-Hưng thứ 27. Khi Đoan-Vương (Trịnh Khải) bị quân Tây-Sơn đuổi, ông đem ẩn một nơi, có người học trò ồn, người làng Vân-Điềm, tên là Ba-Đạm, cũng là dòng dõi nhà khoa bảng. Ông nghĩ là ông cha hắn hưởng thụ quốc ân, tất nhiên là hắn phải có lòng trung nghĩa vả lại còn có tình thầy trò, ông không nghi ngờ, bảo hắn để nhà cho Đoan-Vương ở, rồi sẽ giấu chỗ khác. Không ngờ hắn mặt người dạ thú, lập mưu bắt Đoan-Vương để nộp lấy công. Ông không biết làm thế nào, hãy đem cái nghĩa tôi con, và tình thầy trò, bảo cho hắn biết. Hắn nói: “yêu nước không bằng yêu nhà, nghĩ đến thầy không bằng nghĩ đến thân. (An-Nam nhất-thống-chí nói: Sợ thầy chưa bằng sợ giặc, yêu vua chưa bằng yêu mình) Nếu thấy chúa mà không bắt, sợ tội với Tây-Sơn,” Ông biết là không thể bảo được, lại sợ lòng ngay không được tỏ rõ, liền quỳ xuống trước mặt chúa nói rằng: Thần xin chết trước để tỏ lòng ngay, bèn lấy thuốc độc uống, nhưng không chết ông liền sai đem quan tài không chôn xuống đất, ông mặc áo mũ chỉnh tề, thung-dung vào nằm trong quan tài sai người nhà đậy nắp quan. Đã đậy rồi lại sai mở ra, đọc một câu rằng: “Chữ hiếu ba năm đã xong, chữ Trung 10 phần chưa hết” và dặn rằng: bao giờ cúng thì viết câu này. Nói rồi sai đậy nắp quan tài và lấp đất đi.

    Ba-Đạm bắt Đoan-Vương đem nộp, dọc đường vào nhà trọ, Đoan-Vương giật lấy con dao của người trong quân tự vẫn chết, liền đưa xác về Kinh. Tây sơn dùng Vương lễ mai táng Đoan-Vương. Còn Ba-Đạm tự cho mình là có công to, không ngờ lại bị Tây-Sơn khép vào tội bất Trung đem giết luôn.

    Sau này cải táng, sắc mặt ông như còn sống, áo xống ngay ngắn, không nát gì cả. Nếu không phải chính-khi mà được thế ư?

    Sau Chiêu-Thống Hoàng-Đế trung-hưng, liền phong những người tử tiết. Lúc ấy có Tướng-Thần là Thac-Quận-Công, vì kháng cự với Tây-Sơn, đánh nhau ở Thúy-ái, cha con đều chết đến 6, 7 người (Trận này Thạc-Quận-Công có 8 người con thì 6 người chết, ông cùng với hai người con cướp đường chạy thoát). Triều-Đình đề-nghị bao phong, chưa định xong ai là đâu. Chiêu-Thống Hoàng-Đế liền phê rằng:

    “Khẳng khái tùng tử dị, thong dong tựu nghĩa nan” nghĩa là: hăng hái xông vào chỗ chết thì dễ, thong thả theo tiết nghĩa mà liều mình mới là khó. Liền bao phong ông lên hàng đầu, vinh tặng Đại-Vương.

    Lúc Ông còn sống có làm ba gian từ đường, trên tường có đề rằng [ ] Nhất toàn đài; mọi người không hiểu ý ra sao! Đến lúc được phong Đại-Vương thì mới biết: Nhất toàn [ ] là chữ Đại-Vương.

    Hai chữ Trung, hiếu, là gốc lập thân, thiên-kinh vạn quyền không bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào nào là không lấy điều đó dạy người, nhiều người đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào cũng biết, nhưng thực hành được có mấy ai; như Lý-Trần-Quán mới thật đáng là bất phụ sở học. Ở đời ai mà không chết, có cái chết nặng như núi Thái-Sơn, có cái chết nhẹ như lông hồng, nhưng chết “Đắc kỳ sở” mới đáng quý hơn. Tiết-Nghĩa của ông cố nhiên là hơn người, mà chết như thế, thực là cúi không hổ với đất, ngẩng không thẹn với trời, trung gian không hổ thẹn với người, chết như thế há chẳng phải là đắc kỳ sở ru? Tuy chết đắc kỳ sở, nhưng mà thảng thốt mà chết thì còn dễ chứ như ông chết một cách thung dung như vậy, há chẳng càng khó lắm ư? Hiếu-Nghĩa của ông thì tôi không được rõ, nhưng lòng trung của ông với vua như thế, thì cái hiếu của ông cũng đủ biết rồi. Hoạn nghiệp của ông thì tôi không rõ, nhứng tiết-nghĩa như vậy, thì lúc ông làm quan như thế nào cũng đủ hiểu, đó chẳng phải là quý báu nhất của Quốc-Gia hay sao?

    Non cao núi thẳm, sùng kính muôn đời, người ta khen ông chẳng kém gì Văn Thừa-Tướng thủa xưa. Còn sự-tích của ông đã chép trong cuốn An-Nam nhất thống-chí đây xin chỉ thuật qua loa thôi.

    Xét trong An-Nam Nhất Thống-Chí nói: có người thủ hạ của ông, ở xã Hạ-Lôi tên là Trang làm chức Tuần-huyện, bắt Trịnh-Vương hiến cho Tây-Sơn, Tây-Sơn phong Trang làm Tráng-nghĩa-hầu, và trấn thủ Sơn-Tây, vào ngày 27 tháng 6 năm Bính-Ngọ, so với đây thì khác nhau.

    An-Nam-nhất thống-chí nói: Ông là người chí hiếu, cư tang cha mẹ ba năm, làm nhà ở mộ, kiêng mặc đẹp ăn ngon, thương xót đến gầy người.

    (Văn thừa-tướng tức Văn Thiên-Tường đời nhà Tống bên Tàu)


    [ ] [ ] [ ]

    NGUYỄN – DUY – NGHI

    Người làng La-Khê, huyện Từ-Liêm, đỗ Tiến-Sĩ khoa Bính-Tuất, niên hiệu Cảnh-Hưng. Sau làm chủ khảo thi hội, lấy đỗ Tiến-Sĩ hai người họ khác ở cùng làng ông. Họ này họ kia, thịnh suy hơn, kém đó là lý thường. Nếu sợ người ta hơn mình, mang lòng đố kỵ, chỉ muốn con cháu họ mình được phát-đạt còn họ khác thì tìm cách đè nén ghen ghét những tài năng ngăn trở sự tiến triển, chỉ sợ người ta hơn mình, hơn mình hơn con cháu của mình làm hại con cháu mình thì có ích gì? Người ta khi thịnh hay suy, đã có thiên định, chứ không phải tự ta đề xướng, hay nâng lên được. Ta phải vâng theo lẽ trời mà cư xử, thì tâm trí không bại hoại. Nếu ta theo nhân dục mà lấy ép người ta thì nên tự hỏi người ta xử với mình như thế thì mình có chịu được không? Rút cục không hại gì cho người, chỉ tổ làm tổn phúc đức của mình thôi.

    Việc làm của ông Nguyễn-Duy-Nghi, theo sự nhận xét của người quân tử, thì không có gì lạ lùng đặc biệt cả, nhưng đối với hạng người hay đố kỵ, thì có khác hơn nhiều. dến nay nhà ông trâm anh nối tiếp, khoa mục đời đời, ngàn xưa ít thấy, đó cũng là do một điểm lương tâm đã gây nên vậy.


    [ ] [ ] [ ]

    NGUYỄN – BÁ – DƯƠNG

    Người làng Nguyễn-Xá, huyện Thần-Khê. Ông nổi tiếng về văn chương, nhà nghèo quần áo không đủ dùng, cắp bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào theo thầy du học Trường-An ăn nhờ vào thầy, thổi cơm nấu nước, nhưng tính rất hảo mại. Ông thường ra hàng ăn chả chó, không có tiền trả nên nợ chồng chất, nhà hàng thấy thế, sinh lòng chán ghét.

    Kho thi Bính-Tuất niên hiệu Cảnh-Hưng 27, ông đi thi, khi vào tứ trường, kim văn không đủ, mà cổ văn rất đắc lực, ai cũng cho là khó lòng đỗ được, riêng ông cho là thế nào cũng đỗ. Rồi ông ra nhà hàng ăn chả chó, nhà hàng hỏi đến nợ cũ. Ông nói: để hôm treo bảng rồi trả cũng vừa, nhà hàng thấy ông quần áo rách rưới, không ngờ là Giám-Sinh ứng thí, cho là nói khoác, nhân tiện giận sẵn, liền mắng rằng: treo bảng thì mặc treo bảng, ta chỉ dời tiền thịt chó thôi, liền lột áo ông, ông chỉ có một cái áo đã rách, bị lột mất thành ra phải đứng trần, không biết làm thế nào. Những khách ăn hàng đều xin cho ông, nhưng nhà hàng không nghe. Lúc đó có người con gái bán rượu, cũng ở đó, trông thương hại, hỏi ông rằng: nợ nhà hàng bao nhiêu? Ông nói: 6 tiền quý. Người con gái nói: Tôi thấy ông hình dáng học trò, mà trần truồng như thế không tiện, để tôi trả cho, mà chuộc lấy áo. Bao giờ có tiền thì trả tôi; nếu không thì thôi. Cô liền lấy hết số tiền ở dưới gánh, trả người nhà hàng, chuộc áo cho ông. Ông hỏi người con gái quê quán ở đâu? Người ta nói rằng: Cô ấy nhà ở trạm Hoàng-Mai (kẻ Mơ) cha tên là thế, ông nhớ lấy, rồi tỏ lời cảm ơn mà đi. Bấy giờ có người cười, có người khen, nhưng cô không để ý, quảy gánh đi luôn.

    Hôm sau treo bảng tên ông đỗ thứ 6, đồn khắp kinh thành rằng ông nghè đỗ thứ 6 là anh chàng bị lột áo hôm qua, ai cũng mừng thay cho ông. Ông đỗ cờ biển võng lọng về bái môn thầy, lại đến trạm Hoàng-Mai hỏi thăm nhà cô gái ấy, cưới luôn về. Vinh quy cùng với vu quy một ngày.

    Cha mẹ cô ta lúc ấy mới biết truyện. Bấy giờ người ta có câu: “thiếu kim-văn đỗ Tiến-Sĩ, mất 6 tiền được bà Nghè” tức là việc đó.

    Lúc thiếu thời, ông nằm chiêm bao thấy Thần bảo rằng: “ [ ] chung thân tiểu thập bát” ông cho là không đỗ. Nhưng khoa ấy ông thi đỗ luôn Tiến-Sĩ, đầu bài có câu: “[ ] tiểu thập bát thiên hạ vinh chi” nghĩa là: nhỏ mười tám, thiên hạ cho là vinh quý. Lại có tin rằng: thầy học của ông là người đồng hương với Ngô-Thời-Sĩ, coq quen biết nhau trước. Vẫn biết ông Sĩ thi mãi không đỗ sinh nản lòng. Hôm vào tứ trường, ông Sĩ viết câu: “[ ] Hoàng-Đế, Vương-Bá” nghĩ thầm cho là dắc ý vẫn sợ không đỗ, gọi ông bảo rằng: tôi chưa chắc đỗ được, văn viết có câu này rất đắc lực tôi cho ông, ông xem xong bảo Thời-Sĩ rằng: Bác sẽ đỗ khoa này, cố lên, tôi có câu này cũng hay, tôi không thể làm hại cái khoa danh của bác. Thời-Sĩ nghe lời, khoa ấy quả nhiên đỗ Tiến-Sĩ, bởi đắc lực về câu văn trên mà ông đậu cao, cũng do câu văn đắc lực của ông, xem thế thì học lực và độ lượng của bậc đại-khoa thật phi thường. Lại thấy nói: ông Thời-Sĩ văn chương lỗi lạc, nhưng hay khoe khoang, khinh người, các quan triều đều ghét, đi thi nhiều khoa, các quan triều nhớ giọng văn, cố ý đánh hỏng. Lời văn của ông cũng giống lời văn của Ngô-Thời-Sĩ, khoa ấy Thời-Sĩ làm văn, cán viết chót trơn hoạt, văn ông rất rộng rãi nhưng kim văn không được dầy đủ, quan trường cho là Thời-Sĩ già rồi nên không đắc lực lắm, hãy lấy cho đỗ chắc cũng không dám tự phụ, khi hợp phách thời Sĩ đỗ hội nguyên, ông đỗ thứ 6. Thế mới biết trời đã cân nhắc phúc đức, mà bằng ở thiên đinh thật đã định sẵn nhơn lực không thể trái được.


    [ ] [ ] [ ]

    BÙI HUY BÍCH

    Người làng Định-Công, huyện thanh-Trì, dòng dõi ông Bùi-Xương-Trạch (ông đỗ Tiến-Sĩ đời Lê-Thánh-Tôn, làm quan tới chức thượng-thư, dựng nhà ở xã Thịnh-Liệt), ông giữ hạnh nghĩa rất cẩn thận, văn chương bình thản thuận hậu trang nhã, thừa thượng tiếp hạ, giọng văn chín nục. Buổi thiếu thời theo cha đi chơi, nghỉ ở cái quan bên về đường. Một hôm thân phụ ông, có gặp một người bạn quen ở nhà trọ, nhân hỏi về ông học hành ra sao? Thân phụ ông trả lời: nó thiên tư tầm thường, học hành tạm được, chưa tấn tới mấy. Lúc bấy giờ trên vách nhà trọ có để chữ thiên vị thiên lộc. Ông bạn quen nhân tiện ra câu đối rằng:

    [ ] [ ] [ ]

    Phiên – âm

    Vị thiên vị, lộc thiên lộc, vị lộc đô kiêm.

    Nghĩa là

    Ở ngôi trời, ăn lộc trời, lọc vị đều kiêm

    Ông ứng khẩu đối rằng:

    [ ] [ ] [ ]

    Phiên – âm

    Quân ngô quân, dân ngô dân, quân dân trí trạch.

    Nghĩa là

    Thờ vua ta, trị dân ta, vua dân đều tốt.


    Xem thế thì khí phách đại khoa đã lộ ở đấy, ông bạn khen rằng: Hậu sinh đáng sợ thật? Không ngờ còn ít tuổi mà đã như thế, thực là phúc của nhà ông. Ngày sau mình phải lạy thằng bé này đây?

    Khi ông lớn lên, ra chơi Tràng-An, chợt có một người đàn bà, mình mặc áo tang, đầu đội mũ vàng. Quan học chính bảo các học trò vịnh chơi một bài. Ông vịnh rằng:

    Bên cổ hãy còn mang áo xám.

    Trên đầu trót đã đội hoa vàng.

    Quan học-chính khen là khí phách lớn.

    Lúc bấy giờ học trò các nơi kéo đến kinh đô rất đông, nhân tài đầy dẫy, văn chương lỗi lạc, ông tự thấy mình kém. Vì văn chương ông chỉ đều đều bằng phẳng, không ví với những ông kia được.

    Sau đó ông đỗ Hoàng-Giáp đinh-nguyên khoa Kỳ-Sửu, niên hiệu Cảnh-Hưng thứ 30. Ông bình văn tiếng nghe choang choang. Người ta suy tôn ông là bậc nhất, phong thái uy-nghi, ung dung nhàn nhã, thiên hạ không hai. Hàng năm nhà Tôn-miếu và Quốc-Tử-Giám có tế lễ lớn, ông được sung vào việc tế. Thấy ông oai nghi chững chạc mọi người tranh nhau đến coi. Bấy giờ có vị Tiến-Sĩ hâm mộ cái dung nghi của ông, đem lòng kính rượu, một hôm đội mũ mặc áo nghiêm-trang, đi đứng ấp tốn, không sai gang tấc, rồi bảo người nhà rằng: Các ngươi coi ta với ông Bùi-Huy-Bích thế nào? Người nhà thưa rằng: ông Huy-Bích như quả trên cây, còn ông thì như trái quả vẽ ra. Mọi người hâm mộ đến như thế.

    Bấy giờ chính sự triều đình hỗn loạn, những kẻ tiểu-nhân đắc chí cầm quyền lộng hành bừa bãi, cầu cạnh, hối lộ công khai, riêng ông vẫn giữ một mực ngay thẳng, lời nói việc làm, có thể đem làm gương mẫu. Các quan đời bấy giờ bàn riêng với nhau rằng: đời này đáng gọi là quân tử, chỉ có mội ông Tả Nghệ mà thôi, (vì lúc bấy giờ ông được làm chủ tỉnh Nghệ-An) khi ông đến nhiệm chức tại tỉnh đó, có đề ở chùa một câu rằng:


    [ ] [ ] [ ]

    Phiên âm

    Sơ chung ngộ trúc khinh thời đã

    Tạm dịch

    Chuông xa trúc gõ nhẹ nhàng kêu

    Các quan đồng liêu đều khen hay, và nói: ông sắp thăng quan. Chưa đầy tháng, có chỉ triệu vào kinh làm tướng. Sau gặp cuốc biến, suốt thời Tây-Sơn, ông đi ẩn cư không thấy đâu nữa. Khi triều Nguyễn khai sáng, phần nhiều các di thần lại ra làm quan. Ông cũng phải triệu vào Kinh khi bệ kiến, ông từ chối mắt lòa, xin hưu dưỡng ở nhà, không chịu ra làm quan. Khi ông làm quan; tơ hào không lấy của dân, lương bổng chỉ đủ ăn đến khi tản cư thường bị thiếu thốn, nhưng ông vẫn coi như không. Ngày ông sắp mất, dặn đừng có phát tang, vì nghĩ đến vua xa nước biến, tiện tự xử như vậy.

    Ông hiêu là Âm-Âm, lại hiệu là Tòa-Trai, chỗ ở của ông đề là Oa-Lư, có câu đối rằng:

    [ ]

    [ ]

    Phiên âm

    Bách niên văn hiển truyền gia khoán,

    Nhất điềm trung cơ huux thái hòa.

    Dịch nghĩa

    Văn hiến trăm năm truyền nếp cũ;

    Trung cơ một điểm được hòa vui.

    Có thi phổ phát hành ở đời, và lại soạn cuốn Hoàng-Việt-thi tuyên. Lý dịch và tiết-tháo của ông thực không thẹn với khoa danh vậy.

    Ông đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, nhìn một lượt được mấy dòng. Khi làm chức tham-tụng, ông đã dọn xếp các bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào ngũ kinh tứ thư và sử. Đời gọi ông là Bản Sách Quan Hành Tham.


    [ ] [ ] [ ]

    NGUYỄN – ĐÌNH – GIẢN

    (Hiệu Chuyết-Trai)

    Người làng Vĩnh-Trị, huyện Hoằng-Hóa, đỗ Tiến-Sĩ khoa Kỷ-Sửu, niên hiệu Cảnh-Hưng thứ 30, làm quan đến chức Thượng-Thư, được tặng Bút-phong-hầu. Gặp lúc quốc biến, ông vẫn một lòng trung quân báo quốc mà bỗng nhiên bị hại. Cái tiết nghĩa lúc làm quan của ông như thế, thì cái hiếu để của ông lúc ở nhà, cũng đủ rõ vậy. Sự tích của ông tuy chưa được tường, nhưng cái khoa danh hoạn nghiệp của ông, thì muôn đời cũng không phai mờ.

    Ông ngầm mưu kết giao với các hào kiệt, đánh giặc không xong, bị giặc giết chết, ông có thơ rằng:

    [ ]

    [ ]

    [ ]

    [ ]

    [ ]

    [ ]

    [ ]

    [ ]
  • Chia sẻ trang này