0071.00016 [Hán Nôm_Ngọc Sơn_done_GD]

Jan 26, 2016
0071.00016 [Hán Nôm_Ngọc Sơn_done_GD]
  • PDF
    GoogleDocs



    sao lại có câu nói này, không phải là lão thủ ( vì ông đã già rồi, văn chương lão luyện khác hẳn với bọn thiếu niên) khoa ấy ông đỗ thứ năm, lúc bấy giờ ông đã 43 tuổi. Được tin ông đỗ các phụ huynh trong họ mừng lắm: <<đất sỏi="" lại="" có="" chạch="" vàng="">> Ông bụng dạ rộng rãi, làm quan hết sức ngay thẳng không sợ kẻ thế lực. Khi ông làm Hiến-sử Kinh-bắc, bấy giờ Đặng-Tuyên-Phi thanh thế hách dịch. Em của bà Phi, tên là Ba-Chè cậy thế hoành hành, lấy gốc sậy làm hành trượng Kẻ hầu người hạ, dữ dội hơn là cọp, sói, trông thấy gái đẹp vừa ý thì chăng màn hãm hiếp ở dọc đường. Có một người con gái không bằng lòng, liền bị cắt ngay hai núm vú. Thế lực vang động trong ngoài. Các trấn-quan không ai dám chạm tới. Sau đó có một người làng ăn trộm rau, bị y đánh chết tươi. Nhà đó đem việc tố cáo lên Hiến-ty, ông sai người đòi. Bị can biết đuối lý, nên nhân khi ông ngồi trên sảnh đường, y đem hơn 30 tên đầy tớ và nghi trượng đột nhập ngồi cao hơn ông muốn lấy thế lực ức hiếp ông bắt bỏ án ấy đi, Ông truyền lịnh cho đường-lại (lính hầu) trói ngay tại chỗ, lôi ra trước sảnh đường, buộc là vô phép đánh 30 búa đồng. Y bực lắm, liền chạy tuốt vào kinh, tố cáo với Tuyên-Phi, Phi liền vào kêu với vua. Vua khen ông là người chính trực, biết giữ pháp luật, thưởng cho 50 quan tiền. Những việc làm công bình chính trực của ồn đại khái là như thế.

    Lúc đó, Hội thi, Kim văn có hỏi đến các quan nội và ngoại triều, ai hơn ai kém, có một ông đối bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào rằng: ngoại quan đương kim chỉ có quan Tham-chính Từ-Ô và quan Hiến Sát Lộng-Điền mà thôi. Ông tuy đương làm quan, nhưng đến nơi nào cũng lấy việc khuyên giảng bọn hậu học làm nghĩa-vụ của mình. Sau làm Hiến-Sát xứ Nghệ An, phụng mệnh khảo sát các học trò trong tỉnh, có người thông nhau, mượn người làm hộ bài, Ông không biết. Sau có người đem việc ấy tố cáo ông, ông bị khiển trách. Người đó chắc là ông giận. Nhưng khi người đó ứng thí, ông lạ lấy đỗ. Đến khi ông này làm Tham-Hiệp bản trấn, có việc đi qua làng ông, vào bái kiến bức tượng truyền thân của ông, rồi kể lại chuyện cũ, khen phục độ lượng của ông.

    Một lần làm Hiến-sứ trấn Bắc, hai lần làm Hiến-sứ trấn Nghệ, một lần làm Tả-thanh, hai lần làm Tả-Bắc, sau làm Tổng trấn Lạng-Sơn 3 năm, ông nhân có tang xin nghỉ, được thăng chức Tả-Thị-Lang. Gặp lúc quốc biến, Chiêu-Thống Hoàng-Đế chạy sang làng Thuận-vi (thuộc huyện Thượng-Nguyên tỉnh Nam Định) triệu ông giám quân. Hoàng-Đế chạy sang Trung Hoa; ông lại về hưu, Tây Sơn đem quân lại bắt ông, đóng gông giải đến cửa Tư-Mã. Ông vốn có mục tật (cận thị) từ chối là có chứng thanh manh, chúng biết không thể cưỡng lại được, liền tha ra.

    Ông ở nhà dạy học trò, xung quanh xóm làng đều hâm mộ là có đức. Khi có tranh tụng đều đến nhờ ông phân giải. Đối với làng xóm, ông hết sức ôn hòa, không lấy oai quyền mà coi mình hơn người. Gặp ngày húy kỵ Tôn-sư (Thầy dạy học) ông cùng với các môn-sinh cũ người làng cùng ngồi ngang hàng. Khi ông đương làm quan, có nhiều người có việc đến thưa kiện, ra về tất gặp trời mưa. Ông nói ý hẳn tôi đây là Thủy-thần chăng? Khi ông làm Hiến-Sứ tại Nghệ-An, có một làng đến xin duệ-hiệu của ông để thờ. Khi ông ở làng bên cạnh, là làng Đông-Linh, có một người sinh được hai con, đứa bé tài học rất giỏi, đứa lớn bị bệnh sắp chết, cha mẹ nó cầu khấn ở đền vị Đại-La-Thần (Thành-hoàng ở xã đó) xin chết thay con. Ông thần báo mộng rằng: <>. Cha mẹ đứa trẻ liền đem việc ấy nói với ông. Lúc đó ông đương cùng mọi người giảng bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, thấy cha mẹ đứa trẻ lại, liền đuổi tả hữu ra, viết mấy chữ son cho và dặn rằng: <>. Cha mẹ đứa trẻ xin được chữ ông về, thì đứa con khỏi bệnh. Sau đứa con thứ đem chuyện tiết lộ ra, nên người con lớn lại mắc bệnh chết, người con thứ cũng tự nhiên đâm đầu xuống sông chết.

    Vị thần ở làng ông cũng báo mộng cho ấp-trưởng hay rằng: <>. Trước sau khi ông gần mất, một con chim to lớn thường bay đến đậu trên bụi cây gần nhà ông. Bắn không sợ, ném không bay, 3 ngày sau, dương cánh phủ kín bụi cây, một lát bay đi, 3 hôm sau, ông không có bệnh gì mà mất. Sau được phong làm Thần ấp đó, có câu đối rằng:

    Chữ Trung Quốc
    Phiên âm

    Tinh thần lầm lẫm tam quan đối;

    Hương hỏa du du vạn cồ trường.

    Dịch nghĩa

    Tinh thần sán lạn ba vầng sáng;

    Hương khói ngào ngạt muông thuở thơm.

    Dân xã thờ ông ở bên tả vị Thần của làng. Sau đó ông Giám-Sinh Chế-khoa ở xã Hoa-Cầu cung tiến bức hoành có hai chữ lớn : << Hoàn nhân >>...

    Bình sinh và lý lịch của ông như thế, thực đáng gọi là hoàn toàn vậy. Trong khi trời đất, chỉ có sự cảm và ứng mà thôi phương-ngôn có câu: <>. Như trường hợp ông cụ tổ ông là người yêu thích văn-tự, muốn con cháu thành đạt, thì sau này quả nhiên nổi tiếng giáp khoa. Kể cũng đáng! Ôi ! yêu đạo, thì đạo sẽ lại, ghét đạo thì đạo sẽ ra. Lý dó không phải là quá đáng. Những người hưng vượng thời xưa, trên thì có người dẫn dắt, dưới thì cón người nối tiếp.... Cụ tổ nhà ông truyền gia trung hậu, trải qua được ba đời, rồi sau mới phát vào ông. Như vậy, sự phát đạt thực cũng là khó. Vì đã được phúc trời cho, tất nhiên trời ho đất. Họ kia mời thầy tìm đất, rút lại không được hưởng, mà họ ông lại được đất, thực là trời định sẵn cho vậy. Nhưng tất nhiên phải người có phúc đức mới được.

    Lại xét đến bản mệnh ông là Canh-tuất, mà có hình cái bút ở phương Tuất, nên mắt ông cận thị là, vì hình cái bút này ở sát gần bên trước huyệt, nên ứng vào như thế. Ông sở trường về phú, người đời gọi ông là thợ phú. Tục ngữ có câu: <> vì lời hay như phú Lộng-Điền, nhiều tiền như nhà giàu làng Đức-Hậu. Lại có câu: <> nghĩa là <>, vì gà làng văn-cú nhiều hơn các nơi khác. Ông học ông Từ-ô, kỳ Hội thí khoa Kỷ-mùi, ông Từ-ô chủ khao, lúc đó ông có việc phải về kinh, đầu bài đệ tam trường là <> ông Từ-ô từ nội trường đi ra, ông cũng đi xem trường thi, ông Từ-ô gọi ông lại bảo rằng: các quyển trong trường cau văn bát tự không được câu nào vừa ý, thơ phú thử làm xem nào, ông liền đọc rằng : (khởi viết bất sĩ, tường ư hữu vi) ông Từ-ô mừng quá nói rằng: <>. Hiện nay người ta còn truyền tụng bài phú của ông.

    Chữ Trung Quốc

    LƯU –TIỆP

    Người làng Nguyệt-Áng, huyện Thanh-Trì, có 3,4 anh em. Mẹ ông ở góa thủ chí, nuôi dạy các con, cho đi các nơi du học. Bấy giờ ở trong làng có một nhà giàu, mời thầy địa lý đến xem đất. Nhà này cũng gần nhà mẹ ông. Thầy địa lý đêm nằm nghe tiếng đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào hỏi nhà chủ. Chủ nhà nói: << đó là nhà một người đàn bà góa, nghèo khó mà nuôi ba bốn người con ăn học, cơm ăn chỉ một chút trứng muối măn, kho đi kho lại, chỉ ăn nước mặn, mà trứng gà hàng tháng hãy còn>>. Ông thầy địa lý nghe nói tấm tắc khen ngợi, đây chắc hẳn một nhà có đứ, nếu không sao 3, 4 người con theo học? Bà mẹ trước cũng muốn xin thầy một ngôi đất, nhưng vì nghèo khó chưa dám nói ra. Ít lâu sau,vì ở liền nhà đi lại, thầy đã nghe chủ nói, nên có lúc hỏi đến. Bà liền thừa dịp ấy xin thầy ngôi đất. Báy giờ nhà của chủ nhà thì chưa tìm được, thầy địa lý liền tìm cho trước bà một ngôi đất. Vừa mới yểm huyệt táng xong, thì ông thầy bị bịnh chết, nên nhà chủ đó chưa tìm được ngôi đất nào.

    Sau ông và các em học hành tấn tới, ông đỗ Hương-Tiến, rồi đỗ luôn Hội-Thí khoa Nhâm-Thìn, (niên hiệu Cảnh-Hưng 33). Năm trước Quan Thượng-Thư Tiên-Điên Nguyễn-Khản vào trấn, đi qua Nghệ-An. Nơi này có một ngôi đền danh tiếng, dân gian bái rất linh ứng. Các quan ở Thành, Quận cùng đến lễ bái, xe ngựa rộn ràng, hành hương tấp nập. Ông Nguyễn-Khản tự cho mình là bậc trọng thần của Quốc-Gia, đi qua cửa đền không chịu xuống kiệu, ông nằm ngủ trong kiệu, mơ thấy người hầu ở trong miếu ra mời ông vào. Khi ông vào, vị thần liền trách rằng: <> ông đương trả lời vị miếu thần, thì chợt có mấy người lại bảo rằng: <> Miếu Thần nghe nói không dám giữ lại, ông cùng mấy người đó đến một nơi thấy cung điện nguy nha, triều bái rất là nghiêm chỉnh. Ngồi triều trên ngự tọa là Thái-Tử của Lê-Thái-Tổ Hoàng-Đế, Ông vào phủ phục dưới sân. Hoàng Đế lớn tiếng mắng rằng : << anh ở địa vị trọng yếu mà sao lại để cho Hoàng-Trừ phải đến như thế? >> (Hoàng-Trừ là con Cảnh-Hưng Hoàng-Đế, bị Trịnh-Vương ghen là anh minh rồi giết đi) Ông bị quở, rất đỗi sợ hãi, chỉ biết lạy tạ mà thôi. Ngay lúc đó có một viên quan từ trong đi ra, xin hộ cho ông rằng: việc này là do Trịnh-Vương, viên này cũng không can dán nôi, xin lượng trên soi xét. Tức thì trên điện có tiếng truyền: <> và cho phép ra ngoài công sảnh bàn việc. Ông lạy tạ bước ra. Mấy người đó lại dẫn ông đến một nơi sảnh đường rất rộng, Các quan ngồi sắp hàng ở hai bên, tả văn, hữu võ, đều có thứ tự. Họ dẫn ông đến ngồi một cái ghế để ở giữa, ngồi yên vị, bảo ông rằng: << Sang năm Hội-thi, đình nghị danh thứ cao thấp, Thánh-ý chưa ưng, vì thế Hoàng-Đế đặc chỉ cho quan lớn định lại. >> liền đưa ra 12 quyển. Mỗi quyển trên một tờ mặt trái đề: tên, tuổi, xã, phủ, huyện nửa tờ trên có đề 3 chữ : << Tổ mẫu, thân >> ; ở dưới 3 chữ đó đều có phê bình cân nhắc bằng dấu đỏ, hoặc khuyên, hoặc điểm, hoặc đề đủ nét. Quyển nào cũng vậy. Ông hỏi: <> Viện quan đó nói: <> Ông cầm một quyển coi, thì thấy : dưới chữ tổ khuyên mà khuyết 3 phân, dưới chữ Thân có một dấu chấm không lớn không nhỏ, một quyển dưới chữ Tổ cũng khuyên mà khuyết 3 phân, dưới chữ mẫu thì chu viên không khuyết; thân thì có một nét gạch lệch chân. Ông hỏi: Đình nghị lấy quyển chu viên ở trên, mà Thánh-ý chưa ưng. Ông nói: << quyển này tuy dưới chữ mẫu thì chu viên, mà dưới chữ thân lại có nét gạch lệch chân, Đó là hoàn toàn nhờ vào tiên-ấm chứ tự mình không có sở đắc gì cả.

    Quyển này tổ ấm tuy khuyên khuyết một phần, nhưng tuân được điểm đó là nhớ vào tiên ấm, mà tự mình cũng có sở đắc, Thần đã có sở đắc, chả hơn người chi nhờ cả tiên ấm hay sao?>> Các quan đều khiếp phục. Công nghi để quyển có điểm thân lên chữ nhất, mà quyển có chữ mẫu chu viên thứ nhì. Khi các quan đệ tấu lên, Hoàng đế bằng lòng, Quyết chữ mẫu khuyên tròn tức là quyển của ông Lưu-Công-Tiệp. Thánh chỉ ban xuống sửa sổ trúng cách. Sổ làm xong tâu lên, không ngờ quyển khuyên tròn lại phải đặt xuống thứ 3, mà quyển khác lên thứ hai, Đình-nghị toan sửa đổi lại. Hoàng-đế phán rằng: <> Đình-nghị mới xong. Sổ trúng chỉ có 13 quyển thôi. Bỗng có bà lão già ngậm cỏ sụp lạy ở sân. Hoàng-Đế truyền hỏi có việc gì? Bà lão già nói : <> Hoàng-Đế hỏi họ tên, quê quán sai quan Hữu-Tư lấy sổ thấy tên này sẽ đỗ Hội-Nguyên khoa sau. Hoàng-Đế liền điện truyền rằng: <>. Bà lão nằn nỉ kêu van rằng: << con tôi đã nghèo, khổ sở muôn phần, nếu đợi khoa sau thì chết mất, cúi xin Thánh-Thượng dủ lòng thương cho. Chúng con được đội ơn vạn bội. >> Hoàng đế lại giáng chỉ dụ rằng: <> Mụ bèn lạy tạ bước ra. Trong khi mơ, ông cũng nhớ được tên vài người, nhưng khi tỉnh dậy, thì chỉ nhớ tên ông Lưu-Tiệp mà thôi.

    Trước kia ông muốn về quê cũ ở làng Tiên-điền, rồi sẽ phó nhiệm. Phu kiệu đến sân, ông hãy còn ngủ chưa dậy, không ai dám gọi, cũng tưởng là ngủ như mọi bận. Nhưng mãi đến canh hai ông mới tỉnh, ai cũng cho là lạ, ông thuật lại việc này và nói: <> chưa ai tin. Đến khi Hội-thi khoa ấy, ông Tử-Ô chủ khảo, hôm thi đệ tứ trường văn ông Lưu-Tiệp rất là đắc lực. Ông Từ-Ô hết sức khen ngợi, và nói : <> Ông chủ khảo muốn xếp thứ nhất, nhưng một lúc lại nghĩ là không được, bèn lấy văn Hồ-Sĩ-Đống làm Hội-Nguyên, Sỹ-Đống tự là Long-Cát, sau đổi tên là Sĩ-Đông, hiệu là Giao Đình, người ở làng Hoàn-Hậu, huyện Quỳnh-Lưu, Nghệ-An, đỗ Tiến-Sĩ Hội-Nguyên khoa Nhâm-Thìn, niên hiệu Cảnh-Hưng thứ 33 rồi đến quyển văn ông, không ngờ đến lúc xếp đặt lại xếp lộn quyển ông Nhữ-Công-Điền lên thứ nhì, mà quyển ông lại xuống thứ 3, cũng như chiêm bao của ông Nguyễn-Khản. Khi tâu lên số đỗ cũng chỉ lấy 12 người. Lúc đó bà Vương-Mẫu đang làm trai đàn, cũng tâu với chúa xin Hoàng-Đế lấy quyển số phúc đức nữa, cộng thành 13 quyển, lại ứng với việc bà lão xin cho con đỗ. Khi ra bảng vàng người ta mới tin rằng mộng của Nguyễn-Khản là đúng. Đời truyền: khi ông Lưu-Tiệp mới đỗ sinh-đồ (tức là tú-tài triều này) sau khi thi hương mãi không đỗ, thường uất-ức không vui. Một hôm dựa ghế xem bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào ngủ gật, chiêm bao thấy thần bảo rằng: <> sau lại mộng thấy thần cho một cành hoa, rồi sau mới đỗ. Ông Lập-Trai thường nhắc đến mộng của Nguyễn-Công và nói: không biết phúc đức của bà mẹ ông thế nào, mà được như thế. Đời truyền bà cụ Tổ-Mẫu của ông lúc sinh thời, đi đường gặp một người ăn mày, rách thì vá cho, coi làm thường, không biết chán. Xem cụ ăn ở nhân đức, có thể biết được các việc khác. Đến khi Hoàng-Triều khai sáng, 5 người con đẻ của ông đều làm quan chức ở triều, quận. Con rể cũng thế, các con ông Lưu-Tiệp cũng do khoa mục ra làm quan, xe ngựa đầy nhà, trâm anh nối tiếp. Cái mộng của Nguyễn-Công đến nay hãy còn truyền tụng. Coi vậy thì sự thiện ác không lớn nhỏ, đều lấy lương tâm làm chủ. Khi mẹ ông vá áo cho người ăn mày, cũng bởi tấm lòng thương người chứ có phải đâu lấy việc làm đó để mong trời báo đáp có tấm lòng ấy mới là khó. Lấy việc này mà suy ra thì phàm việc có kiêng kỵ gì nữa, nên trời mới ban phúc cho. Tục ngữ có câu: <> thực đúng lắm thay.

    Đại để các bậc Thánh-Hiền thì không dám nói. Những người có học thức làm điều thiện, tuy rằng xuất ở lòng thành, nhưng cũng do sự răn sợ, chứ không phải hoàn toàn là tự nhiên. Duy có đàn bà ít trí thức, chỉ có một tấm lòng lành, xuất ư tự nhiên, nên cái thiện của người học thức không bằng cái thiện của người dốt nát, không bằng cái thiện của đàn bà. Vậy nên Thiên-Đình cân nhắc ông cha đứng một hạng, mà mẹ đứng riêng một hạng. Khoa Giáp rất trọng, tất phải người có hạnh nghĩa, xứng đáng với khoa danh đó, rồi sau trời mới cho. Vậy nên chữ Thân đứng riêng một hạng. Các học trò cũng nên lấy đó làm gương. Làm việc giả thiện để cầu thực báo, là một điều thực không nên. Ta nên sửa mình, tự trách ở lòng mình, chứ đừng nên trách trời, mới hy vọng báo đền bằng khoa-mục được.

    Chữ Trung Quốc

    NGÔ-THỜI-NHIỆM

    Người làng Tả-Thanh-Oai, huyện Thanh-Oai, (con ông Ngô-Thời-Sĩ) đỗ Tiến-Sĩ khoa Kỷ-Mùi (Niên hiệu Cảnh-Hưng.) Về tài văn-chương, ông thực không thẹn thân phụ ông. Ông có nghĩ một câu đối treo ở Từ-đường thờ ông Chử-Đồng-Tử Đế-nữ rằng:

    Chữ Trung Quốc

    Phiên âm
    Hiên-hậu đỉnh thành Tử-phủ,

    Nga-Hoàng cầm bảo quả xương Ngô.

    Dịch nghĩa

    Đại ý nói :Vua Hiên-Hậu đúc xong cái đỉnh mà trọn đời một mình trong Tử-Phủ; bà Nga-Hoàng chỉ ôm đàn ở Xương-Ngô không bằng hai vị này phu phụ lưỡng toàn cả.

    Ông làm đôi câu đối để đền vua Lê-Đại-Hành và Hoàng-Hậu rằng:

    Chữ Trung Quốc

    Phiên âm
    Để thiên Nam, tường ứng thánh minh, kích Tống diệt Xiêm,

    Thiết mã dư vai trần Ngụy khuyết;

    Thần tả hữu, tú chung xác thực, khống Tô đời Nhuệ,

    Kim ba biệt phái viễn Hà-Châu.

    Dịch-nghĩa

    Ngất trời Nam, biển ứng linh thiêng, đánh Tống diệt Xiêm, ngựa sắt vang truyền cửa Ngụy.

    Phò tả hữu, khí thiêng chung đúc, dòng Tô sông Nhuệ, sóng vàng vỗ khắp lòng sông.

    Bài biểu thượng thọ của Tây triều Hoàng-Thượng Thái-Hậu rằng:

    Chữ Trung Quốc
  • Share This Page