0071.00017 [Hán Nôm_Ngọc Sơn_done_GD]

26/1/16
0071.00017 [Hán Nôm_Ngọc Sơn_done_GD]
  • PDF
    GoogleDocs



    Phiên âm

    Phát phu xã tắc, gia du tương tây thổ, hữu hưng chi tuấn liệt ;

    Mi tụ thần dân, căng thức mục nam phương thuần bị chi giao thanh.

    Dịch nghĩa

    Hết lòng vì xã tắc, công lớn vạch mưu mô, giúp việc thịnh hưng nơi Tây-Thổ.

    Một dạ với thần dân, lời truyền là mẫu mực, lưu danh thuần hóa chốn nam phương.

    Đại ý cây này là lời chúc tụng.

    Khi ông phụng mệnh đi sứ Trung-Hoa, lên lầu Nhạc-Dương, ngắm hồ Động Đình, có thơ rằng :

    [] [] []

    Phiên âm

    Thiên phong xương thủy ba đào khoảnh.

    Vạn tượng hoàng hôn vị nguyệt tiền,

    Dịch nghĩa

    Núi non chi chít phô làn sóng ;

    Cảnh tượng âm u trước bóng vàng.

    Ông đề miếu Tam-nhân có câu sau :

    [] [] []

    Phiên âm

    Lịch phục dĩ quí văn tử thánh ;

    Giang sơn vị cái võ canh thần.


    Dịch nghĩa

    Khuôn nếp đã theo văn tử thánh ;

    Non sông chưa đổi võ canh thần.

    Khi đi qua Nhất-Châu, ông có thơ đề miếu thờ Khổng-Tử và Quan-Công rằng :

    [] [] []

    Phiên âm

    Lễ nhạc bách niên vương Khổng-Tử,

    Cương thường vạn cổ đế Quan-Công.

    Chu kinh thần loạn phi chân thánh ;

    Hán đỉnh hòa tranh vi biểu trung.

    Nhân Sở hình thư thiên cổ bạch ;

    Tặc Tào tâm chúc ngũ xanh hông.

    Côn hoàng lục tự châu tiên miếu,

    Dao hận đan thanh, họa vị công.

    Dịch nghĩa

    Lễ nhạc trăm năm vương Khổng-Tử,

    Cương thường muôn thuở đế Quan-Công.

    Kinh Chu thần loạn không chân thánh ;

    Vạc Hán hôn tranh chửa rõ trung.
















    Dân Sở hình thư, bao độ trắng ;

    Giặc Tào tâm chúc, suốt đêm hồng.

    Sáng chưng sáu chữ trong đền đó,

    Hận nét đan thanh, vẽ chửa xong.

    Người nhà Thanh khen là ông đã lột rõ được cái nghĩa sâu xa của ngàn xưa, chưa ai nói tới.

    Ông viết bài biểu giúp triều Tây-Sơn, gửi viếng vua Càn-Long, (tức vua Cao-Tôn nhà Thanh) có câu :

    [] [] []

    Phiên âm

    Bắc khu thần chuyền. Nữ tu hàn, trường mộ

    Thiên-gia chi văn vật ;

    Viên Tản Sơn thanh. Lô thùy bích, vọng cùng

    Thân-quốc chi yên lam.

    Dịch nghĩa

    Bóng Đẩu tỉnh quay, sao Nữ lạnh, văn-Vật

    Thiên-triều muôn năm còn ngưỡng mộ ;

    Nước Lô-Giang biếc, núi Tản xanh, khói mây

    Nam-Việt một sớm với trông hoài.

    Người nhà Thanh cho là có tài, tấm tắc khen ngợi. Ông có soạn quyển An-Nam-Nhất-Thống-Chí, Tầy-Triều và Lê-Triều Sử-ký. Ông trước tác nhiều, không kể hết được, nay tạm kể ra một hai tác phẩm, để truyền lại về sau. Khi triều Tây-Sơn sắp mất, ông phụ đồng-tiên, hỏi về sự thế Quốc-Gia. Các vị Tiên-Thánh vẫn thường xướng họa thơ phú với ông.

    Có khi ông ngồi hầu truyện Bảo-Hưng-Hoàng-Đế (tức là Nguyễn-Quang-Toản nhà Tây-Sơn) đại khái nói về các triệu chứng vong Quốc, câu nào cũng ứng nghiệm.

    Lại nghe nói, khi đến lễ cầu-tự ở đền ông Trạng Tống-Trân, ông Trạng bốc đồng lên bảo rằng : “ Ta cũng muốn đến để xem cửa nhà, nhưng không đủ đức, xứng đáng việc đó, nên ta không ở phải trả Duệ-Hiêu của ta, không được thờ ta ở ddaay” Rồi từ đó liền thôi, không dám thờ cúng nữa. Đương khi ông Trạng chưa bốc đồng lên nói, đã có Sắc của Tây-Sơn phong người con chết làm Trạng-Vương, lại phong sắc vương cho Ngô-Thời-Sĩ. Người ta nói như thế, không biết có đúng không ? Nếu quả có việc đó ; thì phúc trạch của nhà họ Ngô rất sâu dầy. Ông Trạng cũng muốn ở, nhưng đức hạnh của ông không xứng đáng. Như ông chỉ khả thủ về văn chương thì được. Xem thế thì, những bậc Hiền nhân, Quân-tử nhờ phúc ấm của gia tiên, sự tu thân tích-đức của cha mẹ và nết hạnh của mình, lại phải còn tiếc giấy có chữ, tôn sùng Thánh đạo, kính thầy, yêu bạn. Còn phải tích ân đức, thương người côi cút, giúp kẻ khốn khó, cứu người hoạn nạn. Cần phải cấm giới tư dục, tửu sắc, nếu được như vậy, thì sẽ được hưởng khoa danh phú-quý muôn đời nối tiếp, vẻ vang biết chừng nào ?

    Kiểu đất của Cao-Biền có câu : Trọng ấp Thanh-Oai, hình thế rất kỳ, thủy bốn phía Vượng, án nổi Tam-Quy, mạch tử hữu-kết , khi tới tả y, thần-đồng đừng trước, quỷ sứ theo đi, khoa danh phát sớm, phúc lộc nhiều khi, nếu phòng mạch hết, không con cái gì.

    Trong Tinh Kinh : Tu-Nữ 4 sao, chủ giữ vải lụa làm bảo-tàng, lại một tên là Vụ-Nữ (chú thích ở dưới chữ tu nữ trên)

    Ông Tống-Tần, người làng An-Cầu, huyện Phù-Cừ, tỉnh Hưng-Yên, đỗ Trạng-Nguyên khoa Giáp Thìn, Triều vua Trần-Anh-Tôn, tám tuổi đỗ Trạng-Nguyên đi sứ 10 năm (Năm Giáp-Thìn thứ 12, triều nhà Trần tức năm Đại-Đức thứ tám triều Vua Nguyên Thành-Tôn).


    (Xét bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào An-Nam-Nhất-Thống-Chí, từ hôi thứ I đến hồi thứ IX chỉ chép riêng việc đời vua Lê-Hiến-Tôn, chư không chép về việc biên chứng sơn xuyên)

    []

    NGUYỄN – THẾ - LỊCH

    Người làng An-Mục, huyện Từ-Liêm, ba đời làm thuốc, cứu sống được nhiều người, trung-hậu, thực thà, cẩn-thận không cạnh tranh với ai, chắc hẳn là phúc-trạch của ông cha để lại cho ông. Ông đỗ Tiến-Sĩ khoa Kỷ-Mùi niên-hiệu Cảnh-Hưng, nổi tiếng trong thiên-hạ, mãi mãi về sau.

    []

    NGUYỄN – VỆ

    (Trong bản mục lục viết là Nguyễn-Nha nhưng xét là Nguyễn-Vệ mới đúng.)

    Người làng Tả-Thanh-Oai, huyện Thanh-Oai, trong xã ông có một người Giám-Sinh, (tên là Đông,) danh-sĩ thời bấy giờ. Thân phụ ông nằm chiêm bao thấy treo bảng Tiến-Sỹ, có người làng là thày Viên-Đông và tên Vệ được trúng. Nhưng trong làng không có ai tên là Đông. Ông cho là ảo mộng không tin. Ông Ngô-Thời-Sĩ do hương tiến và tập ấm được bổ làm chức Hiến-Sứ Hải-Dương, đỗ cùng với ông trong khoa Kỷ-Mùi, niên hiệu Cảnh-Hưng. Mộng ấy đã ứng nghiệm, vì Hải-Dương tức là tỉnh Đông vậy.

    Ông là người có độ lượng rộng rãi bằng phằng, việc gì chỉ xét đại thể, không để ý đến chi tiết nhỏ nhặt. Chăm chỉ dạy người, văn chương sung-thiệm,đẹp đẽ, ông thường nói chuyện với các học giả rằng : “Văn chương tự nhiên có thiên mệnh, ta đi học thì tính thông minh đã được giời phú cho, mà học lực thì bẩm thụ ở đất, không có thể muốn thông mà rối rả đi tìm đất cát, hoặc e có khi đất đã được, rồi mà lại hỏng mất. Một khi sức học đã đầy đủ, đến khoa thi chỉ nên an nhàn, thong thả, để cho tinh thần thư thái, văn tứ tự nhiên rồi rào. Vả lại việc học phần nhiều sở đắc ở lúc người thường, không nên hoạn đắc hoạn thất, người đêm lo sợ, chỉ thêm mệt cho tinh thần, mà văn tứ lại càng thêm cùng quẩn. Coi vậy thì đất bẩm tính cho, thật là do ở trời cho , mà phẩm hạnh do tự mình tu tính, ngày lại tháng qua,học càng nên chăm chỉ, thì mới xứng với phúc đức và khoa danh.

    []

    NGUYỄN – THẾ - BÌNH

    Người làng Cát-Ngạn, huyện Thanh-Đàm. Ông vốn là con nhà hàn vi. Thân phụ ông học nghề Phù-thủy (Pháp-Môn) trông nom ngôi chùa thờ Phật của làng. Sớm chiều niệm Phật, làm các công việc từ thiện, hay cứu giúp mọi người nguy khốn, không hề đòi hỏi tiền bạc của ai, tùy theo hằng tâm của nhà chủ, muốn tiền cúng hương hoa nhiều ít tùy ý. Thân phụ ông, lòng dạ cư xử như thế, thực là con người có một điểm hồn hậu. Ông được nhờ phúc đức của thân phụ nhiều lắm, ông có thiên-tư rất thông minh, lực học hơn người, văn chương mẫu mực, ông đi thi lần đầu đỗ ngay Tiến-Sĩ khoa Kỷ-Mùi. Tính rất giản dị, tiếp đãi mọi người không phân giai cấp. Làm quen đến Phó-Đô-Ngự-Sử. Khi đi xét việc, đêm đi qua đò, ngồi chung cả với mọi người cùng thuyền. Ai mà khiêm tốn, cố từ, thì ông không nghe, người nào miễn cưỡng vâng lời, thì cùng ngồi chung với họ, hỏi chuyện như anh em bạn.

    Ông xuất thân là Đại-Khoa, làm quan đến Ngự-Sử, mà không biết mình phú quý. Người khác mới đỗ nhỏ, vừa được làm chức quan nhỏ, đã vội cho mình là phú quý, kiêu ngạo với người. Nghe thấy phong độ của ông, đều phải cảm phục. Vậy thì đã là người học trò, cũng nên tự xét lại mình, thì học nghiệp, khoa danh mới có thể khích lệ được những kẻ sau này.

    []

    PHẠM – NGUYÊN – DU

    Hiệu là Thạch-Động, người làng Đặng-Điền huyện Chân-Lộc, Xưa tên là Vĩ-Khiêm, gia thế thanh bần nhưng vẫn theo đòi học tập. Song thân ông rất quí văn-học. Bên cạnh nhà ông có một cái động đá, trong động có thần Đồng, đêm nào cũng nghe thấy tiếng đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào. Cha mẹ ông cầu tự ở động này, mới sinh ra ông, từ đấy không nghe tiếng đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào nữa, vì thần-Đồng đã thác sinh vào ông rồi. Ông sinh ra gặp buổi nhiễu-nhương, năm 17, 18 tuổi mới được đi học. Nhưng ông thông minh lạ thường, học hành tấn tới. Khi lớn lên du-học ở Trường-An, văn-chương lỗi lạc nổi tiếng nhất thời bấy giờ. Khi khảo tập ở Giám, lừng tiếng trong nước, vì thế được người trên biết đến. Ông có tư cách anh minh, lanh lẹ, khinh đời không kiêng nể ai, nên quan trường không bằng lòng tìm cách đánh hỏng. Vì thế cao tuổi mà vẫn chưa đỗ. Mãi đến năm Cảnh-Hưng thứ 40 mới đỗ Tiến-Sĩ Hội Nguyên, thi Đình đỗ Hoàng-Giáp, khi vinh quy có câu đối rằng :

    [] [] []

    Phiên âm

    Nhất thân trúng Hoàng-Giáp

    Toàn gia vô bạch đinh

    Dịch – nghĩa

    Một mình đỗ Hoàng-Giáp

    Cả nhà không Bạch-Đinh

    Đại ý kể cái vinh ngộ đấy thôi, nhưng vì câu không bạch đinh ứng vào việc ông không có con, như vậy thực là thiên Mệnh. Ông tính khẳng khái, hào hoa lỗi lạc, nên có thơ rằng :

    [] [] []

    Phiên – âm

    Đại can đại đảm lăng đẳng cốt.

    Song tiến song nguyên lỗi lỗi thân :

    Dịch – nghĩa

    Ông là người gan to, đởm lớn, sừng sững hiên ngang. Hai lần đỗ hương và hội, hai lần đỗ đầu, thực là một người lỗi lạc.

    Lúc đầu, ông đỗ giải nguyên, làm quan không sợ kể quyền thế. Bấy giờ có người em của Tuyên-Phi là Ba-Chè cậy thế hống hách, ai cũng phải sợ. Một hôm y cùng với Hoàng-Tử tranh nhau đường đi, lăng nhục Hoàng-Tử. Hoàng-Tử đem việc ấy tố cáo ở Triều-Đình. Hồi đó, Hoàng-Gia, bị Trịnh-Vương bức bách, triều thần tuy biết phải tôn Hoàng-Gia nhưng lại sợ cái thế của Trịnh không ai dám nói, Hoàng-Thượng cũng muốn triều-nghị xét việc đó để rửa nhục. Vả lại Vương-Gia cũng muốn nhân việc kiện này để thử xem triều-thần hướng về mình hay bội mình thế nào ? Luôn luôn thúc giục đình-nghị phải phân-giải, nhưng kéo dài đến


    hai tháng không ai dám nói ra trước. Có người nói muốn phân-giải việc kiện đó, phải có Đặng – Điền – Công mới làm được thôi. Khi đó ông hãy còn làm chức quan thấp, xong các triều thần đề nghị ủy cho ông quyết-đoán. Ông nói : “Tất phải để cho tôi quyền địa vị Tể-Thần mới có thể quyết-đoán được việc kiện này”. Tể-Thần và các triều-thần đều bằng lòng. Đến ngày đã định, bách quan ngồi xếp hàng ở công-sảnh. Tể-thần ở nhà đem mũ áo triều giao cho ông. Ông vận mũ áo ngồi ghế Tể-Tướng giữa nhà Công. Triệu Hoàng-Tử đến trách rằng : “ông là cành vàng lá ngọc, sao không biết tự trọng, lại đi cãi nhau với một kẻ thất-phu, để bị nó lăng nhục đến Hoàng-Gia, còn gì là thể-diện, tội đáng phạt 30 búa đồng” ông liền thân dẫn Hoàng-Tử đến sân rồng, phụng mệnh Hoàng-Thượng đánh 30 búa đồng. Rồi ông lại về ngồi ở công sảnh, triệu Ba-Chẽ đến trách rằng : “Anh là một tên thất-phu ở thôn quê, cậy thế cung phi, lăng nhục người thường cũng là có tội, phương chi lại dám tranh đường đi với Hoàng-Tử, lăng nhục đến Hoàng-Gia, tội thật đáng chết, nhưng Đình-Nghị vì nể kính chúa nên xử phạt anh 50 búa đồng.” liền đứng dậy tay đánh lấy, Mọi người đều vui sướng. Hoàng-Thượng khen ông là người chính-trực (ông làm quan đến chức Đốc-Đồng Nghệ-An) mà Chúa cũng không trách sao được.

    Ông thông gia với Bằng-Quận-Công. Sau Bằng-Quận-Công can về quốc nạn, ông tuyệt giao, cầm quân kháng cự, sau rút vào rừng núi, không biết sống chết ra sao ! (Sau được một người con hay cháu miễn giao dịch.) Trong tập thơ của ông Lập-Trai có khen văn chương ông đến tuổi già đổi ra thuần cổ. Văn chương của ông đã được nổi tiếng vang lừng thiên hạ, ai cũng biết, không đợi phải nói. Nhưng có văn chương như thế mà biến được ra thuần cổ thì tài bộ hơn người xa quá. Đến lì chính trực, trung nghĩa như thế, thật đáng gọi là lăng lăng, kính kính, (ông lấy danh hiệu là Thạch-động là vì ông là Thần-đồng ở Thạch-động thác sanh ra vậy).

    []

    PHẠM – QUÝ – THÍCH

    Người làng Huê-Đường (nay đổi là Lương-Đường), Huyện Đường-An. Có người nói ông là Sứ-Giả của Đổng-Thiên-Vương không rõ có đúng không ? Ông nổi tiếng thông minh đĩnh ngộ từ thủa nhỏ, văn rất thanh tao. Năm 16 tuổi, đỗ Hương-Tiến, và đỗ Tiến-Sỹ (khoa Kỷ-Hợi niên hiệu Cảnh-Hưng thứ 40). Lúc đó ông mới có 20 tuổi, khi sắp vào thi, ông nói bỡn với mọi người rằng : “Phen này gậy vông phá nhà gạch” các anh em bạn hơn tuổi ông đều nói : “chúng tôi đây còn chưa dám chắc, huống chi anh lại dám chắc ư.” Trước đó ông thường nằm chiêm bao lên ngôi núi cao, gần tới đỉnh bám vào đỉnh núi mà dưới chân núi thì quan quân vây kín bốn mặt. Lúc vào thi, các anh em bạn đều hơn tuổi, quan trường lần lượt điểm duyệt xét đến văn của ông tuy có chỗ chưa được chín luyện, nhưng giọng văn sắc bén đanh thép, khí tượng khác thường, ai cũng phải kinh sợ. Hôm thi đệ-tứ-trường, quan Trường chấm đến văn ông; vì tiếc đại tài muốn đánh hỏng, để đợi khoa sau lấy đỗ Đại-Khôi. Nhưng sau lại xếp xuống thứ nhì; khi đình-thi, quyển văn của ông lại vẫn được xếp thứ nhì, rồi lại bỏ lại. Ông Đặng-Điền gấp đôi tuổi ông, khoa ấy đình thi và hội-thi, đều đỗ thứ nhất trên ông, ông Đặng-Điền nói : tôi không sợ thua kém ai, chỉ sợ cậu bé con cứ theo sau tôi. Ngày vinh quy, ông và phu-nhân ngồi trên lưng voi, ông còn ít tuổi, mà phu-nhân thì tóc mới chấm vai, thiên-hạ lấy làm vinh quí lắm.

    Ông là người hay châm biếm, chỉ chích, có tài. Theo thể lệ của Hoàng-Triều, các ông Hoàng-Giáp thì được giắt đai bằng ngà
  • Chia sẻ trang này