0071.00022

26/1/16
0071.00022
  • PDF
    GoogleDocs



    Phong lưu thẳng tự nhàn thân.

    - Mạc bất:

    Ngoạn yết quang âm.

    Bồi hồi trầm tịch.

    Hạc minh sơ nhi liệu quang hàn.

    Qui dâm sinh nhi vu mộng trích.

    Tự thích khả nam, khả bắc, yến nhàn tư vô hạn chi xuân.

    Ninh tri thùy trúc, thùy diêm; môi dẫn phó hữu tình chi khách.

    Phu bát hữu tự phụng chi phồn hoa,

    Khoáng thiên cổ vô truyền chi cấm dịch,

    - Tằng bất tư:

    Nữ nhung bại quốc;

    Sắc trận thương sinh,

    Lục bé chi vi trâm độc;

    Tam phi khước trọng kê minh!

    Dữ kì hàm Hán phi tần, hồ bôn tác hắc xà chi quý.

    Thục nhược quyên Tần cung nữ, miêu truyền diên sích đề chi tinh.

    Quan thành bại di chiêu ư tiền triệt.

    Tức yến du nghi tiết ư hậu đình

    - Độc nại hà;

    Hoan nật yến đường

    Phương trần cưu dũ.

    Phong nghê chi thịnh liệt cận thành.

    Phàn trĩ chi sơ tâm dĩ cô.

    Hậu nghị thiên giao bác sùng, khai tam dương dụng sự chi môn.

    Tôn mưu mạc thấm yến di, ngoạn thất mã quá giang chi số.

    Đãn tham vưu vật dĩ vi ngu.

    Tuy đạo phúc xa nhi bất cố.

    - Tọa kiến:

    Sắc giai tửu phạt,

    Chi dĩ tình hoang.

    Kỵ long tử thất niên mạc quán.

    Vần mô nhi vạn thặng hà đang.

    Cửu tộc huých tường, lệ ngạc cơ điều ư ngư nhục.

    Ngũ Hồ phạm khuyết, cung xa tần chiết ư khuyển dương.

    Tri ngưu dậng tiềm di ư tấn tộ.

    Tưởng dương xa kham tiếu ư Võ-Hoàng.

    - Y!

    Tiều khi dị doanh.

    Thành công nan xử.

    Huống trung tài bản phạp ư hữu vi.

    Tức dật chi dị sinh ư vô sự.

    Vãng giả kiều tình ngưu dẫn, cận nhân thừa Ngụy dĩ cô danh.

    Kim yên hoang sắc dương xa, chính thị bình Ngô nhi trí lự.

    Phất thu tự kỷ chi phóng tâm.

    Vô nại cập thân chi tư ngữ.

    Thuyết đáo:

    Đồng đà kinh cức.

    Y lạc chiên cừu.

    Vị thường bất truy tiếu Võ-Hoàng chi thất ngự.


    Dịch nghĩa

    Bài phú vua cưởi xe dê ra ngự Dịch-đình

    Do ông Tiến-Sĩ Nguyễn-Bá-Lân doạn.

    (Sang qua đò làm xong bài phú này).


    Ngụy hồ lần dấu.

    Tần mã đềm trưng.

    Dậy đất hô-văn thêm chói lọi.

    Thay trời long vị thật tưng bừng.

    Cung-cấm xe dê, hưởng thú nhân-gian khoái lạc.

    Thái-Khang lịch phượng, mong ơn thiên-bảo thăng hằng.

    Lúc đó:

    Kình lặng Ngô-Giang;

    Trâu về Chu-dã.

    Ngo loài quét sạch bụi săn hiêu.

    Trong được đắm say duyên lặn cá.

    Phấn son cung ngọc, kén hầu non vừa đủ năm ngàn.

    Kiều diễm nhà vàng, chứa chất sẵn tình yêu muôn ả.

    Thế rồi nhà vua


    Chung tình một món,

    Thích chi bội phần

    Êm thắm phú phì nhiêu thỏa thích.

    Đón đưa vui xa giá ân cần.

    Vách tiêu vây dát, khép mở phòng loan, bóng song the thấp thoáng;

    Bầy nhạn thành hàng, dọc ngang liễn giá, vết xe cộ rối lần.

    Giải cấu là nơi nghỉ mệt;

    Phong lưu hơn cảnh nhàn thân.

    Ai là chẳng:

    Nhơ nhởn quang âm;

    Bồi hồi chăn gối.

    Hạc kêu thưa, lửa sáng lạnh dần;

    Quy vui sướng, hồn mê sôi nổi.

    Tùy ý sang nam, sang bắc, nhàn vui chỉ những mừng xuân;

    Nào hay ai muối, ai tre, dìu dặt tình chung bao mối.

    Riêng một mình hưởng thú phồn hoa;

    Trải muôn thuở không cần thay đổi.

    Từng chẳng nghĩ:

    Gái kia nghiêng nước;

    Sắc nọ hại mình.

    Lục bể là nơi trầm độc;

    Tam phi trọng việc kê-minh.

    Nếu cứ say đắm Hán-phi, quân lính biến hắc-xà quỷ quái;


    Sao băng ngãng quên tần nữ, giống nòi thêm xích-đề tinh anh.

    Coi thành bại rõ ràng trên vết cũ;

    Bớt yến du dịu dặt ở sân đình.

    Vậy cớ sao:

    Vui thú yến đường;

    Phô bày cưu dũ.

    Phong-nghê công lớn vừa xong;

    Phàn-trì lòng kia đã nhú.

    Hậu-Nghị luống thiên bác-sủng, gây tam-dương biển loạn một hồi;

    Tôn-Mưu chẳng xét Yến-Di, cho thất-mã qua sông bao số.

    Chỉ ham của quí làm vui;

    Qua vết xe nghiêng chẳng ngó.

    Ngồi trông: Tửu sắc đều hại; Tâm chí hoang tàn.

    Cưỡi Long-Tử bẩy năm khó tròn;

    Hỏi Hà-mô muôn cỗ sao đang.

    Chín họ tranh dành, thân thích coi hầu ngư-nhục;

    Năm hồ cướp phá xa tần gầy bởi khuyển dương.

    Đề Ngưu-dận ngâm dời ngôi Tấn;

    Tưởng Dương-xa đáng thẹn Võ-Hoàng.

    Than ôi! Tiêu-khi dễ đầy; Thanh công khó xử.

    Huống trung-tài vốn kém ở hưu-vị;

    Nên dật-chí sinh khi vô-sự.

    Trước dã kiều tình Ngưu-dẫn, chỉ vì nối Ngụy để cầu vinh;

    Nay còn ham thú Dương-xa, đó thực bình Ngô thêm để sợ.

    Nếu chẳng thu những nổi phóng tâm;

    Ắt di hại đến điều danh-dự.

    Nói đến:

    Đồng-đà gai góc;

    Y-lạc chiên cừu.

    Thì ai là chẳng ngán cho Võ-Hoàng,

    Đã làm hỏng cả quyền hành thống ngự!

    Đạm-Nguyên phỏng dịch ra Việt-Văn



    Phụ lục


    BÀI HÀNH TRÌNH CA


    Do Quan Tuần-Phủ Nguyễn-Tú, khi đổi đi Tuần-Phủ tỉnh Phan-An soạn. Ông là người làng Phương-Để, huyện Chấn-Ninh, tỉnh Phan-An, nay là đổi là tỉnh Gia-Định.

    Trong tháng một ngày giữa ngày mười chín.

    Vâng chiếu giời ban đến tận nơi.

    Phận hèn mong được xét soi,

    Cung tên đành phỉ chí trai phen này.

    Nặng vi nỗi áng mây đổi chác

    Xót Từ-thân tuổi hạc đã cao,

    Ở đây còn vắng âm hao.

    Laijq uan san ấy, dễ trao tin nhàn.

    Từng nghĩ đến từng cơn dầu dĩ.

    Song hiêu trung ai dễ gồm nên.

    Bấy lâu nhờ đội ơn trên,


    Phải lo trọn vẹn mà đền cao sâu.

    Chữ trung lấy làm đầu chữ hiếu,

    Giục hành trang tỏ ngõ đường mây.

    Cuộc đời tan hợp xinh thay.

    Kể vô, ra, cũng một ngày bước đi.

    Ngẩn ngơ đứng, chừng khi tiễn biệt,

    Liễu một cành nào biết đưa đâu?

    Một chuyến đò, cũng nhớ nhau.

    Tình hai năm ấy chảng đau cũng buồn.

    Trước mặt đã thấy non Thiên-Bút;

    Ngó trông chiêu tươi tốt cỏ cây.

    Bút này biết mấy lâu nay.

    Tú-tài mới tự năm này khai hoa,

    Khỏi Quán đường đó là Nghĩa-mỹ

    Trạm dịch kia sông Vệ một bên

    Qua đò sẽ bước chân lên

    Hết chùng Chương-nghĩa tơi miên Mộ-Hoa.

    Đò Địa-thi nay đà tới đó,

    Rằng trước kia vốn có cầu đi.

    Cột cầu còn đứng trơ trơ,

    Sao không thấy chữ ai đề thuở xưa.


    Nghe rằng đó thần thiêng thú dữ,

    Kẻ hành-nhân giềng giữ dám chơi.

    Ta nay đi có mệnh trời,

    Quỷ thân ắt cũng hộ người trung trinh.

    Nhớ những thuở vô tình Thái cổ.

    Nhân vật cùng một lũ giao-du

    Vi đâu dựng dịch gây thù,

    Càng khôn ngoan lắm, càng lo nghĩ nhiều.

    Hãy giữ được mọi điều ngay thẳng,

    Dầu u vi, đâu chẳng cảm thông.

    Quỷ thần khen cũng dư công,

    Hai tòa đá dựng ở trong đất bằng

    Dưới chân đèo, cây bằng đứng đó.

    Cao chẳng bằng ngọn cỏ đầu non

    Tới nay cỏ đã héo non,

    Mà tòng sáng sửa hãy còn tốt tươi.

    Ấy là cũng một loài cây cỏ

    Con người ta lấy đó mà coi.

    Đỉnh nin mấy quán lôi thôi,

    Quang-Nghĩa, Bình-Định chia đôi chốn này;

    Có linh miếu đường đi nèo trước,


    Kẻ hành nhân xuôi ngược phải coi,

    Gương trung-liệt trơ trơ đá dựng,

    Mạch cương-thường, rằng rặc nước tuôn,

    Khí thiêng mở mặt nước non.

    Tưởng người lúc ấy như còn đâu đây;

    Ây cỏ cứng, chẳng lay trận gió.

    Muôn đời sau tới đó phải khen.

    Trong trấn này, những người quen trước

    Nghĩ vào chơi chén nước tha hương.

    Lòng đâu như mối tơ vương,

    Đã mừng kẻ ở, lại thương người về.

    Câu bảo-hốt còn đau nghe đó:

    Trách hóa-nhi nỡ phụ tài hoa

    Ngậm ngùi khi ấy bước ra

    Người thanh lịch, thú phồn hoa thêm càng

    Từng thấy cảnh, lại càng mến cảnh,

    Bổng đâu đâu gặp khách nguồn đào

    Hoa xuân hớn hở muốn chào,

    Sóng thu lấp lánh ngọt ngào đến ai,

    Tuồng hoa liễu, mặc người biếng hỏi.

    Đường Vân-Sơn, cứ lối thẳng giong

    Hé rèm chợt thấy vầng hồng,
  • Chia sẻ trang này