1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0077.00007_ThanhVan (type done) + Lười Đọc Sách (soát xong)

May 13, 2016
0077.00007_ThanhVan (type done) + Lười Đọc Sách (soát xong)
  • thuật mới. Kẻ khác lại cho rằng sự xuất hiện của bài thơ Tình già là một cơn sốt văn-học, là cái quái thai của một thời đại thi-ca. Cả hai luồng dư luận khắp ba miền Nam, Trung, Bắc đều bàn tán dữ dội. Một số người đả kích nghiệt ngã, quả quyết nền thơ mới không thể tồn tại được và nếu nó sống còn thì đó là một điều sỉ nhục cho học thuật nước nhà, bởi thế họ chủ trương cần phải tiêu trừ nó ngay với bất cứ phương pháp nào. Ngược lại số người trẻ cho rằng bài thơ Tình già của Phan Khôi chào đời trong lúc này (1932) là một sự cần thiết, vì chính nó sẽ thay thế nền thi ca cổ xưa mà hiện tại không còn giá trị thực tiễn nữa. Cuối cùng giới này kết luận là ủng hộ lập trường thơ mới và nên vun quén cho nền thi ca mới được sống mạnh.

    Lúc đầu công cuộc chống đối giữa hai phái cũ và mới còn ít, sau gây thành những vụ tranh luận sôi nổi. Lực lượng chống đối và ủng hộ của hai phái đều mạnh. Sau đó ít lâu, phái cũ tỏ vẻ yếu dần và bắt đầu nhường bước cho phái trẻ, tức phái ủng hộ thơ mới. Hoà nhịp phong trào này, từ Lưu trọng Lư, Thế Lữ đến Xuân-Diệu, Huy-Cận, Huy-Thông, Vũ hoàng Chương, Chế Lan-Viên, Thái-Can, Đông-Hồ, Nguyễn Vỹ, Tế-Hanh, Thanh-Tịnh, v.v… đã lần lượt góp tiếng lòng của mình bằng những sáng tác vững chắc, và cũng từ đó thi ca Việt-nam chính thức khai sinh thêm một môn phái mới, và tìm được đất sống mạnh trong nền văn học nước nhà.

    Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu người tiên phong của nền thơ mới và những nét độc đáo của bài thơ đầu tiên, một bài thơ đã đảo lộn một thế hệ thi ca đất nước, một bài thơ đã thay đổi cuộc diện hiện hữu trên thi đàn Việt-nam.

    Phan Khôi, người cha đẻ bài thơ mới đầu tiên Tình già là một nhà văn kiêm nhà báo được kể là lão luyện và xuất sắc trong phái nho học.

    Trên phương diện thi ca, Phan Khôi không làm thơ nhiều, chỉ thỉnh thoảng người yêu thơ mới bắt gặp một vài bài thơ của ông, còn lại hầu hết là những chuyện ngắn và ký sự. Đã thế, trong phần thi phẩm của Phan Khôi, thơ dịch lại chiếm phần lớn. Ông thường dịch thơ Tàu ra thơ Việt nhiều hơn là loại thơ trước tác. Tiếng thơ Phan Khôi vì thế không được nhiều người biết đến.

    Vũ ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, khi phê bình về Phan Khôi cũng phải nhận:

    “ Phan Khôi là một trong những nhà văn xuất sắc nhất trong phái nho học. Ở một nhà cựu học như ông, người ta đã thấy nhiều cái rất mới, nhiều cái mà nhiều nhà tân học cũng cho là “ mới quá ”. Đó thật là một bất ngờ.

    “ Văn phẩm của ông phần nhiều là những bài luận-thuyết hoặc phê bình, hoặc khảo cứu đăng trong các tạp chí, các báo như Lục tỉnh tân văn, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phụ nữ tân văn, Trung lập (xuất bản tại Sài - gòn), Thực nghiệp dân báo, Nam phong, Phụ nữ thời đàm (xuất bản ở Hà-nội), Tràng an, Sông Hương (xuất bản ở Huế).

    “ Quyển bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào đầu tiên của ông là quyển Chương dân thi thoại (xuất bản năm 1936 và in tại nhà Đắc Lập, Huế) quyển này thuộc loại biên khảo có xen phần phê bình.

    “ Tôi đã nghiệm những khi nói chuyện về thơ trong các báo, cái lối văn của Phan Khôi có một sức cám dỗ lạ thường. Ông không cần nói nhiều. Trích một bài thơ, ông chỉ dùng vài ba câu phê bình là người đọc thấy hết những chỗ hay của nó. Nói kiểu một hoạ sĩ, cái lối ấy có thể là lối “ chấm phá ”.

    “ Trong khi phê bình thơ, Phan Khôi thường hay nói bạo, nhưng chính cái chỗ thường hay nói bạo lại là những chỗ có duyên nhất. Thường thường ngoài những cái hay mà ta đã thấy trong một bài thơ, nhờ một tia sáng của ông, người ta lại thấy mấy cái hay khác nữa.

    “ Hãy xem cái lối phê bình ích lợi của Phan Khôi về bài Tống biệt của một thi sĩ ở Bình-thuận :

    Trái mù u trên núi

    Chảy xuống cửa Phan-rang.

    Ông đi về ngoài nớ

    Trong lòng tôi chẳng an

    Bao giờ ông trở vô,

    Gặp tôi ở giữa đàng,

    Nắm tay nói chuyện chơi,

    Uống rượu cười nghênh ngang !

    “ Ông phê bình như sau này: “ Hai câu đầu là thể hứng mà cái ý hứng rất kỳ, câu thứ sáu trông lại gặp nhau mà ba chữ “ ở giữ đàng ” thì lại có cái “ biệt thú ”. Toàn bài nhất khí quán hạ, thật cũng cái cảnh tượng “ trái mù u trên núi chảy xuống cửa Phan-rang ! ”

    ” Về hai câu vịnh Hòn Vay Hòn Trả :

    Hẹn hò ngày tháng chim năn nỉ,

    Tờ khế năm mùa lá đổi thay.

    “ Ông phê bình : “ Hai câu thơ đó đáng gọi là “ công thiếp ” nghĩa là dùng lời khéo léo mà ý sát với đề, nhưng dù vậy cũng không thoát khuôn sáo cử tử. “

    “ Về phép làm thơ Phan Khôi nói rất phân minh, nào từ pháp, nào cú pháp, nào chương pháp, nào thiên pháp. Sau khi đã nói vắn tắt mà rõ ràng về tự pháp, cú pháp và chương pháp, ông viết về thiên pháp như sau nầy :

    “ Nói về thiên pháp, tôi không có sẵn ở đây để đem ra làm ví dụ. Song tôi còn nhớ đại lược mười bài liên hoàn của bà phi vợ đức Thành-Thái, mẹ đức Duy Tân, mười bài ấy kể cú pháp và chương pháp đều được cả nhưng thiên pháp thì chưa được vì còn hơi lộn xộn và trùng điệp, trùng điệp cả chữ lẫn ý. Như một bài trước đã có câu :

    Mộng điệp khéo vì ai lẽo đẽo ?

    “ Trong khi một bài sau có câu :

    Chiêm bao lẽo đẽo theo hồn bướm.

    thì thật là khó nghe!

    “ Thật quả như thế, mười bài thơ ấy hay thì hay thực, nhưng ý và chữ trùng điệp quá. Cách đây mười năm tôi đã có lần định dịch ra tiếng Pháp và đăng trong Revue Franco-Annamite xuất bản ở Hà-nội nhưng chỉ dịch dùng được ba bài đầu theo từng chữ, từng câu, còn bảy bài sau đành phải tóm tắt lại, loại bớt những ý điệp đi vì tiếng Pháp là một thứ tiếng rất sáng suốt không bao giờ chịu dùng được những ý điệp như thế. ”

    “ Rồi Phan Khôi kết luận theo lối Tản-Đà :

    “ Thì cũng như đồ nhắm rượu, người ta quý cái ngon không ai quý cái nhiều. Gặp một đầu đề nào mà mình có ý dồi dào lắm mới nên làm hai bài trở lên còn không thì thôi, không nên rán sức làm cho nhiều mà chi. ”

    Và cuối cùng Vũ ngọc Phan kết luận về Phan Khôi như sau :

    “ Phan Khôi không phải là tay thợ thơ, chỉ có lúc hứng ông mới làm, nên thơ ông không nhiều, nhưng làm bài nào tư tưởng đều thành thật, ý tứ dồi dào, dễ cảm người ta. Về thơ cũ, mấy bài chứng tỏ cho ông là một thi sĩ có tài năng vững chãi, ngày nay đã tỏ ra rất hiếm trong làng ngâm vịnh. Còn về thơ mới lại chính ông là người khởi xướng trước nhất. ”

    Đọc lại những lời phê bình trên, chúng ta thấy Vũ ngọc Phan đã nói đúng phần nào về Phan Khôi : Phan Khôi không phải là một thi sĩ chuyên làm thơ, mà chỉ làm thơ khi hứng mà thôi.

    Trong thơ của Phan Khôi, ông thường dùng lời nói bạo để diễn tả những cái cần nói, mà không cần gìn giữ, e ngại, hay nói một cách vu vơ nửa đùa nửa thực. Phan Khôi muốn nói toạc lên tất cả sự thật dù cho sự thật đó có thể quá phũ phàng cũng vậy. Đó là khía cạnh độc đáo của nhà thơ làng Bảo-an.

    Bài Tình già là một bằng chứng cụ thể, nó đã nói lên được phần nào tính khí con người họ Phan. Đọc hết bài thơ người ta thấy Phan Khôi không dùng sáo ngữ, cũng không dùng những danh từ huê mỹ, xa vời mà ông chỉ nói thẳng.

    Nội dung bài Tình già là câu chuyện tình của đôi trai gái đã trót yêu nhau nhưng tình không trọn vẹn vì tôn giáo và khuôn phép gia đình. Cuộc đời tưởng đâu dừng lại ở đó. Thời gian qua nhanh, thấm thoát cả hai đều già. Tình cờ gặp nhau, mối tình xa xưa ấy bỗng sống trở lại trong tiềm thức. (xin xem phần thi văn tuyển, bài của VT-TK).

    Bài thơ chỉ có thế, nhưng đã gây xôn xao dư luận chỉ vì Phan Khôi làm thơ theo một lối mới, không cần giới hạn số câu, số chữ và ý tứ quá lãng mạn.

    Đây, ta hãy nghe Phan Khôi kể :

    Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa

    mưa.

    Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái

    đầu xanh kề nhau than thở :

    - Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà

    lấy nhau hẳn là không đặng ;

    Để đến nỗi, tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm

    liệu mà buông nhau.

    Một mối tình của hai kẻ yêu nhau “ thì vẫn nặng ” nhưng “ lấy nhau hẳn là không đặng ”, và như thế, theo chàng thì chẳng có cách nào hay hơn là “ chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau ”.

    Nhưng nàng lại đưa ra ý kiến :

    Buông nhau làm sao nỡ ?

    Thương được chừng nào hay chừng nấy.

    bởi vì :

    Đôi ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng.

    Thế thì cần gì :

    Mà tính việc thuỷ chung ?

    Chỉ mới có mấy câu mà chúng ta thấy Phan Khôi đã dám nói tất cả nỗi lòng thầm kín uẩn khúc của đôi tình nhân; cả hai không ai còn sợ tai tiếng gì nữa cả, bởi vì “ ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng mà tính việc thuỷ chung ”. Tư tưởng đó thật bất kể dư luận, chỉ có Phan Khôi mới dám ni trắng trợn như thế. Thời gian qua, hai mươi bốn năm sau, họ gặp lại nhau, cả hai thay đổi khá nhiều, nhưng :

    Nếu chẳng quen lung đố có nhìn ra được.

    Rồi tình cũ nghĩa xưa bỗng sống lại trong tim của hai người :

    Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi, con

    mắt còn có đuôi.

    Thật là lãng mạn và tình tứ vô cùng, so với thời Phan Khôi đang sống (1932), những tư tưởng như thế thật là mới và táo bạo. Chính vì vậy, Phan Khôi bị đả kích nặng nề ; có người cho đó là điều ô nhục của thời đại văn học đất nước.

    Đó là ở lãnh vực thi ca, về văn phẩm, Phan Khôi có cái tính khí mà ít người có, điển hình sau này là truyện Ông Năm Chuột, Ông Bình Vôi, đã đưa Phan Khôi tới chỗ “ chống chế độ ”.

    *

    Để kết luận, có thể nói rằng chúng ta lấy làm hãnh diện có một Phan Khôi, một con người chứa đựng nhiều tư tưởng mới lạ và táo bạo. Chính ông là người đầu tiên đã dám làm cuộc cách mạng lớn lao trong thi ca để khai sinh một môn phái mới, mở đường cho nền thi ca huy hoàng của dân tộc.

    (Ấn bản kỳ nhì, 3-1968)




    Thi, văn tuyển

    LNS: Luận về câu chuyện tình trong bài Tình già của Phan Khôi, hai tác giả VT-TK viết trong Hà-nội báo số 14 ngày 8-4-1936 như sau :

    Trên dòng sông Nhuệ
    Tình già

    Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,
    Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh kề nhau than thở ;
    *
    - " Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng :
    Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau ! "
    *
    - " Hay nói mới bạc làm sao chớ ! Buông nhau làm sao cho nỡ ?
    Thương được chừng nào hay chừng ấy, chẳng qua Ông Trời bắt đôi ta phải vậy !
    Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng mà tính việc thủy chung ! "
    ...............
    Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau :
    Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được ?
    Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi, con mắt còn có đuôi.

    Phan Khôi

    Hai mươi bốn năm xưa ! ... Trên dòng sông Nhuệ, một con thuyền lơ lửng trôi đi, làn gió thổi đám mây bay, chị Hằng khi mờ khi tỏ, lẳng lơ soi mình xuống mặt nước trong ! Chừ xa xa vài tiếng chó sủa trăng, và mấy hồi chuông chùa vẳng lên khoảng không vô hạn, bốn bề đều im lặng như tờ ...
    Trên dòng sông Nhuệ, con thuyền vẫn lơ lửng trôi đi ! Bên mạn thuyền, một đôi trai gái tựa mình, ngồi ngắm dòng nước bạc. Thiếu nữ ngồi nhìn bóng mà ngẩn ngơ, tiếc cho tấm thân liễu yếu đào tơ, mắc vào vòng tình lụy, biết bao giờ gỡ thoát được ra ? Đời là đời, mà tình là tình, cái sự thật nó vẫn khác xa, nó vẫn đau đớn hơn vòng mộng ảo !
    Thiếu niên nhìn bóng mình rồi lại nhìn bóng bạn, chốc chốc lại thở dài, giơ tay lên vuốt ngực như trong lòng có uất ức điều gì ! Thiếu nữ cau mày, hai hàng lụy ứa ; giọt lệ từ từ chảy qua gò má phấn rồi rơi xuống nước, hợp với bóng giọt lệ dưới sông làm một.
    Thiếu niên, bỗng ngẩng lên, vỗ vào vai thiếu nữ :
    - Thôi, khóc làm gì em ? Vô ích ! khi chúng ta mới yêu nhau, cũng đã biết ngay rằng sẽ khổ ! Nhưng anh cũng như em ; chúng ta nào có chủ được quả tim, nên biết mà vẫn đem lòng dan díu... Có người bảo : " hãy làm việc đi để giúp ích cho người ; giúp ích cho người để người yêu mến, được người yêu mến, thế là hưởng hạnh phúc ở đời " (1). Chúng ta yêu nhau, thế mà sao phải khổ, hạnh phúc ở đời này thực chẳng có sao ? Thôi, chúng mình đã phải thế thì thôi đành chịu thế !
    - Nói thì dễ lắm anh ạ ! Anh làm sao không biết, chớ em thì khó biết được chữ " quên ". Ai cũng nói : Muốn khỏi khổ hãy cứ quên đi ", nhưng muốn quên đi, phải làm thế nào, em không thấy ai dạy đến ! Có nhẽ em là đàn bà, ý chí yếu ớt nên thế, còn Anh...

    (1) Travaillez vous pour rendre utile,
    Rendez vous utile pour être aimé.
    Soyez aimé pour être heureux.
    Charles NODIER

    - Còn anh, anh cũng vậy thôi, em ạ ! Đứng trước thần tình, hỏi ai dám nói rằng còn có sức mạnh ? Nhưng mà vì tôn giáo, vì khuôn phép gia đình, chúng ta không thể lấy được nhau, thì việc gì mà cứ ôm lấy khổ ? “ Hãy chịu và nhịn ”, chúng ta chỉ có thể thế được thôi ! Vả lại, em dù bây giờ lấy người khác…

    - Lạy anh, anh đừng nói đến việc ấy nữa. Em đã khổ lắm rồi !

    - Dù không nói, cũng đã khổ rồi, chi bằng ta quay lại đối đầu ngay với sự khổ, mà suy tính việc sau… Anh nói nốt, dù em bây giờ lấy người khác, người ấy vẫn không có thể cấm lòng em vẫn yêu anh ! Mà có nhẽ như thế lại hơn. Nghĩ cho kỹ, ở đời này, chúng mình có mong cái gì hơn là “ vẫn cứ yêu nhau ” đâu ? Cuộc hôn nhân ép uổng kia không có thể đánh đổ được cái ái tình cao thượng của chúng mình nào ! Rồi đây đôi ta xa nhau, dù ở đâu nữa, cái lời thề trên giải Nhuệ giang này bao giờ trước cũng như sau !

    - Thế anh rồi cũng lấy vợ chứ ?

    - Cố nhiên ! anh đã nói rằng dù không ở liền bên nhau, ta cũng vẫn có thể yêu nhau mà ! Nếu cứ phải trông thấy nhau, nói với nhau luôn luôn mới yêu nhau được, thì cái tình chúng mình nó nhạt nhẽo đến thế ư ? Vậy cho nên, anh khuyên em cứ nghe lời thầy mẹ, yên việc hôn nhân, rồi chúng ta quên nhau được thì quên, không thì cứ mặc cho thời gian xóa dần việc trước, mà trong khi ấy ta tránh nhau mà vẫn cứ yêu nhau.


    *

    Hai mươi bốn năm sau


    Hai mươi bốn năm sau ! Cũng trên dòng sông Nhuệ, bóng ả Hằng vẫn lẳng lơ trôi !... Tiếng ai đương hát ở đằng xa đưa lại, trước nhỏ sau to dần :

    “ Đêm thu trăng gió một trời,

    Một mình ngồi tưởng sự đời nghĩ quanh

    Nghĩ cho muôn vật hoá sinh,

    Ở trong vũ trụ cái hình ra chi !

    Trăng kia tròn được mấy khi,

    Hoa kia nở được mấy thì hỡi hoa !

    Gái tơ quá lứa đã già.

    Con tầm rút ruột lại là rộng non !

    Khúc sông bồi lấp nên cồn,

    Dâu xanh, bãi bể, đá mòn nước khe

    Đồng không con đóm lập loè,

    Khách trần lối ấy đi về những ai ?

    Hình kia đúc tự thợ trời,

    Tình kia hoạ mới ra ngoài khuôn xanh,

    Vương chi một mối tơ mành,

    Tình chung khối ấy dễ đành đã tan,

    Cho hay những khách trần hoàn,

    Nghìn thu ở lại thế gian mấy mà !

    Tưởng người lại ngẫm đến ta,

    Trăm năm rồi nữa biết là làm sao !

    Bây giờ hoa nở trăng cao,

    Trăng tàn hoa tạ, lúc nào biết đâu

    Một mình tính trước lo sau !...”

    Một con thuyền con ở đằng xa trôi lại, đứng trên, một người vào trạc trung niên đương cất tiếng hát vang…

    Bỗng hắn kìm thuyền, lắng tai nghe như có ai đương gọi đò ở bên bờ sông nọ. Áp thuyền vào bờ, một người sư nữ trạc độ tứ tuần bước xuống ! Ả Hằng vừa chui khỏi đám mây đen, chiếu ra muôn ánh hào quang, sáng mát ! Bà sư nữ và lão lái đò tỏ mặt nhau, bỗng cùng chung kêu lên một tiếng:

    - Kìa anh !

    - Kìa em !

    Rồi cả đôi ôm nhau mà nức nở !

    - Sao ? Sao em lại gửi mình vào chốn am mây ? Việc hôn nhân ngày trước rồi ra sao ?

    - Thôi, chuyện ấy kể chi anh ! Nhưng, còn anh thì sao ? Chị ấy đâu ? Được mấy cháu rồi ?

    - Khốn nạn, anh đã lấy ai đâu !

    - Anh, anh cũng “ ở vậy ” ư ? Thế mà…

    *

    …Thế mà, hai mươi bốn năm xưa ! Trên dòng sông Nhuệ, một con thuyền lơ lửng trôi đi. Làn gió thổi, đám mây bay, chị Hằng khi mờ khi tỏ, lẳng lơ soi mình xuống mặt nước trong ! Chừ xa xa vài tiếng chó sủa trăng, và mấy hồi chuông chùa vẳng lên khoảng không vô hạn, bốn bề im lặng như tờ !...

    Trên dòng sông Nhuệ, con thuyền vẫn lơ lửng trôi đi ! Bên mạn thuyền, một đôi trai gái tựa mình, ngồi ngắm dòng nước bạc. Thiếu nữ ngồi nhìn bóng mà ngẩn ngơ, tiếc cho tấm thân liễu yếu đào tơ mắc vào vòng tình luỵ biết bao giờ gỡ thoát được ra ?

    Đời là đời, mà tình là tình, cái sự thật nó vẫn khác xa, nó vẫn tục tằn đau đớn, hơn vòng mộng ảo !

    VT-TK


    *

    Chơi thuyền sông Tân-bình (1)

    Eo đất vắt rừng già ra nước

    Thành con sông xanh biếc dài ghê !

    Khỉ ho cò gáy tư bề

    Ta đem thân đến chốn này làm chi !

    Nhớ từ trẻ gian nguy từng trải

    Bước giang hồ bước mãi chưa thôi



    (1) Bài này sáng tác vào năm 1930, nhân buồn bực, Phan Khôi cùng người bạn bơi xuồng chơi trên sông Tân-bình thuộc vùng Cà-mau.


    Mảnh thân còn chọi với đời

    Hiểm nghèo là bạn, chơi vơi là nhà

    Cảnh hiu quạnh, có ta có chủ

    Bằng không ta chẳng phụ Hoá-công

    Vẻ ra cái cảnh lạ lùng,

    Làm cho cọp biển, cá đồng hay sao ?

    Xuồng ba lá đâu nào chàng Thổ

    Rượu đế mang theo mỗ lưng bầu.

    Mũi chàng trước, lái ta sau

    Mái chèo khoan nhặt con trào ngược xuôi

    Bóng chiều nhuộm lau mùi vàng úa,

    Khói, nước, trăng, mây bủa lưng chừng.

    Vạch lau rẽ khói tung tăng,

    Trên trời, dưới nước bên rừng giữa ta.

    Lô túp lá xà xà trong ngút,

    Chợt thuyền con vùn vụt ngang dòng

    Nguồn đào có phải đây không ?

    Vũng Lương-sơn phảng phất cùng là đây.

    Vừng ác lặn chòm cây đen sậm

    Vào càng sâu càng lắm vẻ u

    Rặng dừa lướt gió vi vu

    Chim về ổ thốt, vượn ru con chuyền

    Bỗng cái sạt, mái truyền hùm vọt

    Sáng lập loè ngọn đuốc ma trơi

    Ó vùng dậy, khỉ reo cười

    Trăm yêu ngàn quái nhè người mà trêu.

    Sạt đằng mũi, mái chèo toan đánh

    Lái phất ngang, đường tránh cơn nàn

    Uỷ kìa, rắn hổ phùng mang

    Vượt sông, rẽ sóng băng ngàn như tên

    Vụt đáy nước trồng lên cây trụ

    Hẵng đây rồi cá sấu quých đuôi

    Trăm cái sợ, cướp cái vui

    Tới đành chẳng tiện muốn lùi chỉn khôn

    Sởn tóc gáy, bồn chồn tấc dạ,

    Vững tay chèo nấn ná hồi lâu

    Vừng trăng như hẹn hò nhau

    Trồi lên mặt biển dọi vào gầm hang

    Gợn mát bóng cá vàng giỡn nước

    Lá lật sương chim bạc đeo cành

    Xa trông rừng thắt khung xanh

    Sông phơi giải lụa trắng tinh một màu

    Rỡ muôn tượng như chào lạy khách

    Lặng một chiều dường trách lấy nhau

    Cảnh sao biến đổi quá mau

    Rõ hai thế giới trước sau nửa giờ

    Cảnh đối cảnh những ngờ mộng mị

    Hoặc là do tâm lý mà ra

    Tầm u bước đã quá xa

    Canh khuya trăng lặn liệu mà về đi

    Xoàng hơi cúc khì khì cười mãi

    ……………………………………………………………

    ……………………………………………………………

    Người như rõ biết ý ta.

    Thì nâng chén rượu mà ca khúc này.


    *


    Cảm đề khi đọc bản dịch Thuỷ-hử

    Của Á-Nam Trần tuấn Khải


    Đời loạn vua hèn quan giết dân,

    Ông thần pháp luật đứng bằng chân.

    Trời sinh thẻo sắt tuôn ra máu,

    Đổ lại trên đầu lũ bất nhân.


    Trăm tám người linh, một vẻ hào.

    Nằm trên rượu thịt gối thương đao.

    Xưa nay nổi việc phường nầy cả,

    Tú-Sĩ Vương-Luân có kẻ nào?


    Khăn áo hương hoa lạy Võ-Tòng

    Giết người như bác mới anh hùng :

    Một đêm đi đứt mười lăm mạng,

    Hàng máu trên tường nhỏ giọt hồng !


    Võ nghệ tuy thường, lượng khác thường,

    Gần xa suy phục Hắc-Tam-Lang.

    Cho hay trong cuộc phong vân đó,

    Ai lượng hơn người, ấy chủ trương.


    Nầy vũng Lương-sơn nay ở đâu ?

    Xa trông che khuất mấy ngàn lau !

    Hát anh bài hát sau bìa bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào,

    Cảm khái riêng ta với Á-đầu…

    (Trích tập thơ Bút quan hoài của Á-Nam)


    *

    Thơ Phan Khôi

    (Trong những ngày tàn ở Bắc Việt)


    Ngừng tim bặt óc lặng dòng tình

    Tai mắt như không phải của mình

    Thấy dưới ánh trăng muôn khúc nhạc

    Nghe trong tiếng ếch một màu xanh

    Suối tiên mát mẻ bao cho chán

    Giấc mộng vờn mơn vẫn chẳng thành

    Cái thú vui xưa nào thấy nữa

    Ngủ say thức tỉnh dậy buồn tênh.


    *


    Hớt tóc (1)


    Tuổi già thêm bệnh hoạn

    Kháng chiến thấy thừa ta

    Mối sầu như tóc bạc

    Cứ cắt lại dài ra.

    (1952)


    *

    Hồng gai (2)


    Hồng nào hồng chẳng có gai

    Miễn đừng là thứ hồng rày không hoa

    Là hồng thì phải có hoa

    Không hoa chỉ có gai mà ai chơi ?

    Ta yêu hồng lắm hồng ơi !

    Có gai mà cũng có mùi hương thơm.

    (1951)


    *

    Nắng chiều (3)


    Nắng chiều đẹp có đẹp

    Tiếc tài gần chạng vạng

    Mặc dù gần chạng vạng

    Nắng được thì cứ nắng.

    (1956)


    *

    Các ác ý bởi nghề nghiệp


    Nói “ ác ” với nói “ ác ý " khác nhau. Người ta làm ra một điều ác có thể bởi vô ý. Nhưng đến nói “ác ý” thì cái

    (1,2,3) Ba bài thơ ngắn trích trong Giai phẩm mùa Thu tập III của Phan Khôi.

    ấy rõ ràng bởi người ta hữu ý mà làm hay thậm chí cố ý mà làm.

    Trong các nghề nghiệp, nhất là nghề buôn, thường hay có sự ác ý.

    Có câu chuyện một hiệu thuốc lá toan chuyện cạnh tranh với một bạn đồng nghiệp mình mà giở đến cái thủ đoạn tàn khốc, thật không ai nghĩ đến.

    Số là hiệu X, thuốc lá ngon có tiếng, vẫn bán chạy lâu nay. Ra để tranh với hiệu X, hiệu Y bèn dùng một kế rất hiểm độc.

    Hiệu y bỏ vốn ra hàng vạn mua lấy thật nhiều thuốc lá của hiệu X rồi dìm lại một vài năm mới bí mật đem ra bán. Trong lúc ấy, hiệu Y cố làm cho thuốc lá của mình ngon lên và quảng cáo thật riết. Tự nhiên công chúng thấy thuốc X quá dở - thuốc để đến hàng năm tài gì chả dở ? – rồi đổ xô nhau mua thuốc lá Y mà hút nên nó bán rất chạy. Hiệu X sau cũng biết mình bị thiệt hại vì hiệu Y, nhưng không kiện được, bởi không đủ tang chứng.

    Lại chuyện hai hãng tàu thuỷ tranh nhau nữa. Hãng Giáp cố cướp quyền lợi của hãng Ất, bèn quyết kế đụng cho chìm tàu hãng Ất trong khi hai chiếc gặp nhau. Vả tàu này đụng chìm tàu kia là một sự có tội trước pháp luật. Nhưng hãng Giáp không kể điều ấy, tính rằng dù có kiện nhau cho ra lẽ cũng phải mất một vài năm mới xong, bây giờ cứ hẵng triệt nó đi để chuyển cái lợi chạy tàu con đường ấy về mình.

    Quả nhiên sau đó vụ kiện cứ dây dưa hoài cho đến ba bốn năm mới xong. Hãng Giáp có bị bồi thường cho hãng Ất ít nhiều, nhưng nhờ sự độc quyền trong bấy nhiêu năm, nó vẫn còn lời chán.

    Ấy là tôi cử ra một vài thí dụ để chỉ rõ cái ác ý bởi nghề nghiệp.

    Đối với những cái ác ý ấy, pháp luật vẫn không bao giờ dung thứ. Nhưng tại lòng dạ con người quỉ quái đến điều thành thử pháp luật cũng phải có chỗ cùng.

    Làm báo cũng là một nghề nghiệp. Một nửa nghề làm báo hàm có những cái tính chất văn học, xã hội, v.v… nhưng một nửa là buôn bán.

    Có người lại nói rằng làm báo chỉ độc có một tính chất buôn bán cũng như các nghề nghiệp buôn bán khác. Bởi vì theo thương luật, hễ việc gì đem tiền ra kinh doanh tức là việc buôn bán. Thế thì làm báo cũng kinh doanh bằng tiền nên nó cũng là việc buôn bán.

    Người ta đã coi nghề làm báo là việc buôn bán thì tất nhiên người ta cũng dùng ác ý để đối phó với nhau, và cái ý ấy người ta cũng cho là cái ác ý bởi nghề nghiệp.

    Ngày nay, sự giành nhau mà sống phải coi là sự nghiêm trọng giữa loài người. Đã thế thì những cái thuyết đạo đức vu vơ không còn là thế lực để địch với những cái quan niệm về quyền lợi hiện tại. Biết vậy nên tôi cũng phải nhận cho làm báo là một nghề nghiệp buôn bán và trong đó ai không giữ sự thật thà mà dùng đến ác ý thì dùng.

    Tuy vậy, theo lẽ thường việc gì cũng có giới hạn mới được.

    Giữa làng báo Sài-gòn, có lần tôi đã thấy báo này dùng chước quyến rủ cướp chủ báo của báo kia. Lại có lần, hai báo cùng ra số Tết, mà báo này lập thế làm cho báo kia trục trặc để mình ra trước.

    Những việc như thế kể cũng đều là ác ý cả. Nhưng lạ sao, khi nghe những câu chuyện ấy, ai nấy chẳng lấy làm đáng phi nghị cho lắm ; mà có kẻ lại cho là ngộ nghĩnh, buồn cười ?

    Thì ra, nghề làm báo có cho đứt đi việc buôn bán nữa, cũng chỉ một phần về ty quản lý mà thôi. Những việc trên đó là việc thuộc về ty quản lý, nên dù nó đeo cái tính chất lém lỉnh xỏ xiên của nghề buôn bán, chúng ta cũng còn bỏ qua được. Trong tiếng Việt-nam chưa ai xoá bỏ được bốn chữ “ thương nhân đa trá ” thì con nhà buôn cứ trổ ra các thứ mánh khoé sau lưng pháp luật.

    Tôi chỉ muốn nhắc người ta nhớ rằng trong nghề làm báo còn một phần nữa về toà soạn, phần này thì quả không dính dấp gì với việc buôn bán, cho nên nó chẳng dung cái ác ý nào cả.

    Ai có ác ý trong việc biên tập như đặt điều nói xấu cho kẻ khác, thì có thể bị toà án truy tố mà mắc vào tội phỉ báng. Còn ai không làm hại đến kẻ khác, chỉ lấy phải làm trái, lấy đen làm trắng, dù pháp luật không có quyền hỏi đến chớ cũng bị dư luận khinh rẻ hay là hình phạt bởi lương tâm.

    Như thế thì về việc biên tập, chúng ta nên không hề có ác ý mới phải. Cớ sao trên báo lại thấy có sự hoài nghi ?

    Việc rất nhỏ nhặt “ hột đậu nhọn ” hay “ chữa văn ”, cũng thường hay làm cho kẻ khác thấy cái ác ý của mình, là làm chi vậy ?

    Đại khái như một bài ở tờ báo này trước đây có câu “ Bà ấy quên hết ít nhiều tiếng ta ”, vốn là câu chúng ta có thể nói được “ hết ít hay hết nhiều ” sao lại chẳng được ? Thế mà cũng có người cãi, bảo rằng đã “ hết ” sao còn “ ít nhiều ” gì ? Rõ thật cãi bướng chỉ có cái ác ý muốn dìm ếm nhau thì mới cãi như thế mà thôi.

    Nay đến cuộc chữa văn cũng chỉ thấy cái ác ý người này muốn mạt sát người kia mà bày ra, chứ không có chút thực tình nào về văn cả.

    Thế chẳng biết tại người ta tin sự dìm ếm mạt sát ấy là có lợi cho mình nên mới làm như thế, hay là không tin, nhưng cứ nghĩ cho cái ác ý ấy bởi nghề nghiệp, làm như thế không hại chi nên cứ làm.

    Nếu nghĩ cho đó là cái ác ý bởi nghề nghiệp thì lầm lắm, vì trong việc đó không còn phải là nghề nghiệp nữa.

    Ít nào người ta cũng phải có một chút lòng tôn trọng chân lý thì mới đứng ra làm một cái nghề như nghề báo.

    PHAN KHÔI

    (Hà-nội báo, số 23, 10-6-1936)


    *

    “ Văn học tiểu thuyết ”

    Là cái quái gì


    Trong một số báo Khuyến học gần đây có bắt đầu đăng một cái tiểu thuyết mà nêu lên là “ văn học tiểu thuyết ”.

    Tôi thấy mà lấy làm lạ, không biết sao người ta lại cả gan mà dám đặt ra cái danh từ bất thông như thế.

    Hẳn người đặt ra cái danh từ ấy đã thấy có những cái danh từ “ triết học tiểu thuyết ” và “ khoa học tiểu thuyết ” nên yên trí mà cho rằng “ văn học tiểu thuyết ” cũng có thể nói được đó chi. Nhưng khốn nỗi “ triết học tiểu thuyết ” nói được, “ khoa học tiểu thuyết ” nói được mà “ văn học tiểu thuyết ” lại không nói được, cái chỗ bí hiểm ấy người kia không nghĩ đến.

    Muốn rõ được sự phân biệt ấy trước hết phải hiểu thấu cái quan niệm về tiểu thuyết của học giới phương Tây.

    Phương Đông ta từ xưa, người Tàu cũng vậy mà người Nam ta cũng vậy, coi tiểu thuyết là thứ chuyện đầu đường xó chợ, không được sắp hàng vào văn học. Nhưng trái lại, người phương Tây lại không thế; trong văn học, chẳng những họ không khinh rẻ tiểu thuyết mà họ còn coi tiểu thuyết làm đầu.

    Bởi cái quan niệm ấy, tiểu thuyết đối với văn học thành ra có quan hệ rất mật thiết, hầu như người ta thường nói, một mà hai, hai mà một. Nói thế, nghĩa là nói tiểu thuyết đối với người phương Tây có thể đại biểu cho văn học tuy chưa nói hẳn được rằng tiểu thuyết tức là văn học.

    Bởi đó, tiểu thuyết nào cũng hầu hết hàm có cái tính chất văn học rồi sau mới tuỳ cái cốt chuyện của nó mà chia ra từng thứ.

    Cái cốt chuyện thần bí thì gọi là thần bí tiểu thuyết, cái cốt chuyện ái tình thì gọi là ái tình tiểu thuyết, cái cốt chuyện xã hội thì gọi là xã hội tiểu thuyết, v.v… Có những tên khác nhau ấy là tuỳ theo cốt chuyện.

    Cốt chuyện dù khác nhau mặc lòng, tiểu thuyết nào cũng hàm có tính chất văn học, cũng đại biểu cho văn học.

    Như thế đã hơi thấy đã không thể nào nói “ văn học tiểu thuyết ” được rồi, vì một bản tiểu thuyết, có cái tính chất đã là văn học rồi thì không có lẽ còn có cái cốt chuyện gì là văn học nữa.

    Không phân bì với “ triết học tiểu thuyết ” và “ khoa học tiểu thuyết ” được. Hai thứ tiểu thuyết này, cái cốt chuyện của nó đã là triết học và khoa học thì cố nhiên là nó không chồng lặp với văn học là cái tính chất của tiểu thuyết.

    Gần nay tiểu thuyết đã thịnh hành giữa văn học giới của Tàu và của ta. Thế là cái quan niệm về văn học của người phương Đông chúng ta cũng đã thay đổi mà theo phương Tây rồi. Đã theo họ mà trong đó còn bày ra một điều gì ngang ngạnh, trái với họ, thế là tự ta làm điều vô nghĩa.

    Trong văn học Pháp có triết học tiểu thuyết, có khoa học tiểu thuyết mà không hề có “ văn học tiểu thuyết ”. Không có, không phải là thiếu, không phải là người Pháp không đủ trí khôn mà đặt ra; nhưng là tại cái lẽ rất rõ ràng trên đó không cho đặt ra.

    Ông định đặt ra cái danh từ mới là “ văn học tiểu thuyết ” như thế để tỏ rằng ta đây cũng có trí phát minh, có quyền sáng tạo hay sao ? Không được ! Cái việc ông làm đó là cái việc lố lăng, vô nghĩa ! “ văn học tiểu thuyết ” là cái quái gì ? Xin báo Khuyến học xoá bỏ bốn chữ tiêu đề ấy đi. Đừng tưởng rằng sự lầm lỗi của một mình mà nó không lây đến kẻ khác.

    Nói “ văn học tiểu thuyết ” thì cũng gần như nói “ văn học văn học ” chẳng có nghĩa gì hết. Tôi sợ người ta không tin tôi, nên tôi phải nói lên thêm câu ấy.

    PHAN KHÔI

    (Hà-nội báo, số 21, ngày 27-5-1936)
    :rose:
  • Loading...