0077.00014_Team8 - Kimduyen (typedone) + Thiên Vũ ( đã soát xong) + retsroi đã soát lần 2

31/5/16
0077.00014_Team8 - Kimduyen (typedone) + Thiên Vũ ( đã soát xong) + retsroi đã soát lần 2
  • Giục hồn thơ

    Nàng thơ ơi ! Nàng thơ ! – Ta buồn lắm !

    Nắng gay gắt trên khóm sen không thắm ;

    Gió thờ ơ không động bóng tàn cây ;

    Dưới trời xanh , mây quá trắng không bay ;

    Hồ không sóng phơi mặt gương quá sáng ;

    Thời gian đứng : sắc hình trơ trẽn dáng ,

    Lòng ta không âu yếm, không vui tươi,


    Không nhớ thương, không sôi nổi. – Than ôi !

    Cũng không cả nỗi đắng cay tê tái :

    Nàng thơ ơi, tâm hồn ta trống trải.

    Ta đứng đây, lơ láo, hững hờ trông

    Cảnh vô duyên không gợn tiếng tơ lòng ;

    Ta đứng đây, thẫn thờ mơ bóng bạn,


    Trông giờ khắc lặng mang niềm ngao ngán,

    Ly-Tao ơi, nương tử của lòng ta !

    Nỡ lòng du, sơ lãng mối tình thơ ?

    Tìm đâu thấy những phút giây êm ái.

    Những phút giây xán lạn ánh thiêng liêng

    Ta cùng ai để tâm hồn mê mải


    Tung ngọc châu gieo những khúc thần tiên ?

    Đâu những buổi non sông cùng lặng lẽ

    Đợi tay ta dìu dắt ngón tay ai.

    Tạo nên bức tranh tuyệt trần hoàn mỹ

    Lên không gian, thâu góp muôn màu tươi ?

    Vì bạn ơi ! những khúc đờn réo ngọc


    Với bức tranh châu chuốt nét thanh cao

    Là những bài thơ, nỗi tình cảm xúc

    Của lòng ta và của bạn Ly-Tao.

    Nàng thơ ơi ! Nàng thơ ! – Ta buồn lắm !

    Đem lại đây ánh hương hoa say đắm,

    Đem lại đây làn sương gió mơ màng,

    Đem lại đây, cùng với điệu du dương,


    Những tiếng khóc than hay lời cảm khái

    Để lòng ta thôi đừng khô héo mãi !

    Để cho ta khi ngắm nắng, trông hoa.

    Khi đứng bên hồ đón gió đưa qua,

    Ta được thấy ánh lòng ta rung động.

    Ta được thấy hồn thơ ta gợn sóng,


    Thấy miệng cười bạn tiên tử yêu kiều

    Và cùng ai chung giấc mộng cao siêu.


    *

    Đêm mưa gió

    Tặng Đỗ đức thu

    Ta vừa đắm trong giấc mơ ghê tởm :

    Vừa buông tay ôm ấp gái giang hồ.

    Đầy xác thịt, đầy tâm hồn còn lợm

    Vị chán chường tràn lấn thú cay chua.


    Mặc tấm thân loã lồ say mệt ngủ,

    Ta ngồi, đăm nghe ngóng tiếng đêm sâu;


    Trên mái ngói cả một trời mưa gió

    Vẫn sụt sùi dai dẳng suốt canh thâu.


    Suốt canh thâu, đồng hồ treo bức vách

    Thong thả đưa, thong thả đếm từng giây,

    Rành rọt điểm trong lòng ta tịch mịch


    - Trong lòng ta u tối gió mưa bay.


    Ta ngồi đó ; mắt van lơn tha thiết

    Thầm kêu xin Buồn Nản tránh xa đi;

    Gọi khiêu khích, chíu vào trong mải miết,

    Để cho lòng tìm lại chút đê mê.



    Nhưng đau đớn ! - Tâm hồn ngao ngá quá

    Thú vui tàn. - Mà giá ngắt như băng,

    Trái tim mỏi, không buồn sôi nổi nữa.

    - Ngoài đêm khuya mưa gió vẫn không ngừng...



    *


    Ma túy

    Khói huyền lên, khói huyền lên...

    Mắt say đậu ở ngọn đèn dần lu.

    Tưởng bầu mây gió hư vô,

    Tưởng vừng trăng lạnh mơ hồ đâu đây.

    Ở đâu ta ở chốn này

    Nằm trong Hờ hững gối tay Vô-tình.


    Nhỏ to bạn hữu quanh mình

    Trông ra vẫn có mà hình như không.

    Ưu tư rời bỏ cõi lòng.

    Hình hài thoát chốc bình bồng phiêu dao

    Dật dờ trí thấp hồn cao

    Thoáng qua ngàn cánh áo đào thiên tiên.


    Khói huyền lên... khói huyền lên...

    Mộng pha hơi tía hơi huyền trong mây

    Bầu trời nồng ngát hương ngây

    Kìa trông trong đắm trong say muôn hình.

    Lung linh vàng dọi cung Quỳnh

    Nhịp nhàng biến hiện những hình Tiên nga

    Chập chờn gần tưởng như xa

    Ngọc reo muôn khúc đàn ca muôn lìm.


    Hàng châu lặng lẽ rơi chìm

    Dưới hồ trong vắt. Bên thềm đăm đăm

    Hai cô lả lướt nghiêng nằm

    Hai cô đứng thắp hương trầm hai bên.


    *

    Khói huyền lên... khói huyền lên

    Thuyền trôi lững thững : Đào-nguyên đâu rồi ?


    *

    Trưa

    Đường nắng. Trong dâu tiếng nói cười

    Bay ra, ròn rã ghẹo bên tai

    Ngừng chân, rẽ lá tìm. Im phắc :

    Vàng rọi lưa thưa, chẳng thấy người.


    Thế - Lữ




    ~~~~~~~~~~~~~~~~~~

    NGUYỄN NHƯỢC PHÁP
    ( 1914 – 1938)

    ~~~~~~~~~~~~~~~~~~

    NGUYỄN NHƯỢC PHÁP sinh ngày 12-12-1914, tại Hà-nội (Bắc-phần). Ông là con trai của học giả tên tuổi : Nguyễn văn Vĩnh, người có công rất nhiều đối với nền văn học đất nước trong giai đoạn chuyển mình giữa cũ và mới, và là người chủ trương nhóm Đông-dương tạp chí.

    Ông đã từng theo học tại trường Trung-học Pháp Albert Sarraut Hà-nội ở Ban Trung học, sau khi đỗ bằng Tú tài pháp, Nguyễn nhược Pháp, Nguyễn nhược Pháp theo ban Luật-khoa tại trường Cao-đẳng Hà-nội.


    Nguyễn nhược Pháp bước vào làng thơ tiền chiến từ năm 1932 với tác phẩm đầu tiên Ngày xưa, xuất bản năm 1935 tại Hà-nội. Ngoài ra ông còn viết truyện ngắn, phóng sự, khảo luận và sáng tác kịch nữa. Năm 1936, Nguyễn nhược Pháp có cho xuất bản vở kịch mang tên Người học vẽ.

    Nhờ ảnh hưởng ở thân phụ, Nguyễn nhược Pháp sớm tham gia làng báo nước nhà từ khoảng năm 1933 ; ông cộng tác với nhiều tờ báo cả Việt lẫn Pháp ngữ , như :


    - Hà-nội báo

    - Đông-dương tạp chí ( bộ mới)

    - Tinh hoa

    - L’Annam nouveau.

    Mặc dù Nguyễn nhược Pháp góp mặt vào làng thơ chỉ vỏn vẹn một tác phẩm duy nhất Ngày xưa, nhưng tác phẩm ấy đã gây được tiếng vang tốt đẹp trong lãnh vực thi ca tiền chiến. Ngày xưa của Nguyễn nhược Pháp đã tự tạo một sắc thái riêng biệt và đánh dấu một đường hướng mới lạ trong thời đại thơ mới, mà tiêu biểu nhất là hai bài được khách yêu thơ mến chuộng : Sơn-tinh Thủy-tinh và Chùa Hương.

    Hai bài thơ này, Nguyễn nhược Pháp đã cho mọi người thấy ở ông có một nét độc đáo, đó là cái nhìn sâu rộng, một sức tưởng tượng phong phú, và tài thi-vị-hóa của ông ; thêm vào đó, đọc thơ Nguyễn nhược Pháp người ta thấy đâu đây có những nụ cười tế nhị, duyên dáng, dí dỏm, những hình dáng ngộ nghĩnh, những màu sắc tươi vui. Có thể nói trong các thi nhân tiền chiến, Nguyễn nhược Pháp là một nhà thơ có cái cười ý nhị và tao nhã nhất.

    Nhờ hấp thụ nhiều ảnh hưởng tốt đẹp từ phụ thân, học giả Nguyễn văn Vĩnh, nên Nguyễn nhược Pháp tỏ ra vô cùng xuất sắc trong lãnh vực văn chương ; từ viết báo, viết truyện ngắn, đến làm thơ, viết kịch, nhưng thơ là bộ môn ông thích nhất và cũng chính ở môn này đã tạo cho Nguyễn nhược Pháp một ngôi vị đáng kể trong lịch sử văn học đất nước.

    Ngày 19 tháng 11 năm 1938, Nguyễn nhược Pháp qua đời sau bao ngày đau yếu tại bệnh viện Lanessan ở Hà-nội. Ông mất, thi đàn Việt-nam đành mất một thi tài đang hồi phát triển, tựa hồ trong đêm tối trời, bỗng lóe lên một mảnh sao băng mang thứ ánh sáng đẹp đẽ, rực rỡ vẽ lên nền trời rồi vụt tắt.

    Người ta tin tưởng nếu Nguyễn nhược Pháp không vắn số, với lứa tuổi trẻ đang lên, tài năng đang hồi nảy nở , chắn thi đàn đất nước còn đón tiếp thêm nhiều tác phẩm trác tuyệt và giá trị khác của ông.



    MÙA xuân năm 1935, làng thơ tiền chiến tiếp nhận một thi phẩm mang tên Ngày xưa. Tác giả là một thi nhân trẻ có cái tên xa lạ : Nguyễn nhược Pháp.

    Nguyễn nhược Pháp đến làng thơ hồi ấy như một làn gió mang hương vị vui tươi, cởi mở ; tạo một đường hướng riêng cho mình. Với những vần thơ nhẹ nhàng, dễ mến, ý vị khiến người đọc cảm thấy thoải mái, vui tươi. Nguyễn nhược Pháp luôn cho ta nụ cười dí dỏm, nhưng sâu sắc và tế nhị.

    Trong Thi nhân Việt-nam, Hoài-Thanh Hoài-Chân , khi nói về Nguyễn nhược Pháp hai nhà phê bình đã viết như sau : “ Đọc thơ Nguyễn nhược Pháp , lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười. Nhưng, cái cười của Nguyễn nhược Pháp khác xa những lối bông lơn khó chịu của các ông Tú, từ Tú-Xuất, Tú-Xương, đến Tú-Mỡ. Nó hiền lành và thanh tao. Nội chừng ấy có lẽ cũng đủ cho nó có một địa vị trên thi đàn. Nhưng còn một điều này nữa mới thật đáng quí : với Nguyễn nhược Pháp nụ cười trên miệng bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng “.

    Trong thi phẩm Ngày xưa Nguyễn nhược Pháp còn cho in mấy bức họa của thi sĩ kiêm họa sĩ Nguyễn Giang – anh ruột của ông – đi đôi với hai bài thơ mà người ta cho là hay nhất, đó là bài : Chùa HươngSơn-Tinh Thủy-Tinh, một làm theo lối ngũ ngôn và một, thất ngôn.

    Khởi đầu bài thơ, Nguyễn nhược Pháp giới thiệu cái không khí ngày xưa của đất nước thanh bình trong thời vua Hùng-Vương :

    Ngày xưa, khi rừng mây u ám,

    Sông núi còn vang um tiếng thần,

    Con vua Hùng-vương thứ mười tám,

    Mỵ-nương xinh như tiên trên trần...


    Chỉ bốn câu đầu , tác giả đã hội tủ đủ yếu tố thời gian, không gian và những nhân vật muốn nói trong thơ. Đó là một điểm rất hay, nó không làm rườm rà câu chuyện. Sau khi giới thiệu bối cảnh, Nguyễn nhược Pháp tả vẻ đẹp cũa Mỵ-nương như sau :

    Tóc xanh viền má hây hây đỏ,

    Miệng nàng bé thắm như san hô,

    Tay ngà trắng nõn, hai chân nhỏ.


    Với vẻ đẹp như thế cho nên nhiều người rắp ranh bắn sẻ, nhà vua cũng vì yêu con quá nên mong sao có được một chàng trai văn võ song toàn để chọn ngôi phò-mã :

    Hùng-vương thường nhìn con yêu quá,

    Chắp tay ngẩng lên trời tạ ân ;

    Rồi cười bảo xứng ngôi phò-mã,

    Trừ có ai ngang vị thần nhân.

    Đó chỉ là điều mơ ước , nhưng :

    Hay đâu thần tiên đi lấy vợ !


    Những thần ấy chính là Sơn-Tinh và Thủy-Tinh. Hai vị thần này chỉ là những nhân vật tưởng tượng theo truyền thuyết có tính cách thần thoại, không ai biết hình dáng như thế nào cả, Nguyễn nhược Pháp cho ta thấy như sau :

    Sơn-Tinh có một mắt ở trán,

    Thủy-Tinh râu ria quăn xanh rì.


    Thật nhà thơ có khác, ông đã mô tả hình dáng người hùng cách độc đáo, một người có một mắt ở trán và một thì râu ria quăn xanh rì, thật uy nghi, đường bệ, không ai kém ai. Nguyễn nhược Pháp đã khéo cấu tạo nhân vật và mô tả sống thực khiến người đọc có cảm giác như chính tác-giả đã thấy được Sơn-Tinh, Thủy-Tinh và tả lại làm cho câu chuyện trở nên có hồn và lý thú.

    Hai thần nhân đã có dị tướng ắt phải có dị tài, nên Hùng-vương phân vân không biết kén chọn ai ở ngôi phò-mã, tác giả có những câu dí-dỏm như :

    Nhưng có một nàng mà hai rể,

    Vua cho rằng thế cũng hơi nhiều !


    Nên khiến :

    Vua nghĩ lâu hơn bàn việc nước.

    Đến phương cách di chuyển của hai vị thần cũng tỏ ra vẻ oai vệ :

    Một thần phi bạch hổ trên cạn,

    Một thần cưỡi lưng rồng uy nghi.


    Đã đến một cách bệ-vệ, oai nghi như thế, thì ít ra các thần cũng phải có một cái gì chớ, thì đây:

    Thủy-Tinh khoe thần có phép lạ,

    Dứt lời, tay hất chòm râu xanh,

    Bắt quyết hò mây to nước cả,

    Dậm chân rung khắp làng gần quanh.

    Ào ào mưa đổ xuống như thác,

    Cây xiêu, cầu gãy, nước hò reo.


    Lăn, cuốn, gầm, lay, tung sóng bạc,

    Bò, lợn, và cột nhà trôi theo.


    Khi thần nhân đã yêu thì cũng biết khoe tài và làm dáng cốt để lấy oai cùng người đẹp, khiến giai nhân phải :

    Mỵ-nuong ôm Hùng-vương kinh hãi.

    Nhưng :

    Sơn-Tinh cười, xin nàng đừng lo.

    Rồi như để trấn an người đẹp cùng đức vua cha, Sơn-Tinh vội :

    Vung tay niệm chú : Núi từng dải,

    Nhà lớn, đồi con lổm ngổm bò.


    Thật là khôi hài, trào phúng không sao nín cười được; nhưng cũng đáng buồn phiền thay, chỉ vì một tí diệu võ dương oai của các thần mà đến nỗi “ bò, lợn, và cột nhà trôi theo “.

    Tuy nhiên bù lại được chứng kiến một đám cưới kỳ lạ chưa từng có trong 17 đời vua trước. Lễ vật quá trọng hậu, mà chàng rể thì...

    Sơn-Tinh ngồi bạch hổ đi đầu,

    Mình phủ áo bào hồng ngọc dát,

    Tay ghì cương hổ, tay cầm lau.

    Theo sau năm chục con voi xám

    Hục hặc, lưng cong phủ gấm điều,

    Tải bạc, kim cương, vàng lấp loáng,

    Sừng tê, ngà voi và sừng hươu.


    Và lại càng không thể không ngợp mắt trước anh chàng rể hụt Thủy-Tinh dẫn cả một đoàn quân đi cưới vợ :

    Thủy-Tinh ngồi trên lưng rồng vàng,

    Yên gấm tung dài bay đỏ chóe.

    Mình khoác bào xanh da trời quang,

    Theo sau cua đỏ và tôm cá,

    Chia đội năm mươi hòm ngọc trai.

    Khập khiễng bò lê trên đất lạ,

    Trước thành tấp tểnh đi hàng hai.


    Hình ảnh một đám cưới kỳ quái, Nguyễn nhược Pháp tạo ra cái cười lý thú.

    Khi tả cuộc tranh hùng của hai đoàn quân, tác giả đã dàn trận phía “ thủy quân” (Thủy-Tinh) :

    Sóng cả gầm reo lăn như chớp,

    Thủy-Tinh cưỡi lưng rồng hung hăng.

    Cá voi quát mồm to muốn đớp,

    Cá mập quẫy đuôi cuồng nhe răng,

    Càng cua lởm chởm giơ như mác;


    Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao.

    Và phía “ lục quân ” ( Sơn-Tinh) cũng vội :

    . . . . . . . . . . . . . . .

    Hoa tay thần vẫy hùm, voi, báo

    Đuôi quắp , nhe nanh, giơ vuốt đồng,

    Đạp long đất núi, gầm xông xáo,

    Máu vọt phì reo muôn ngấn hồng.

    Mây đen hăm hở bay mù mịt,

    Sấm ran, sét động nổ lòe xanh


    Trình bày hai thế trận trên, tác giả cho ta thấy ngay sự kém thế của Thủy-Tinh :

    Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao.

    Chứng tỏ sự dao động tinh thần của binh tôm. Rồi đến khi tướng cá thấy “ mây đen hăm hở bat mù mịt ; sấm ran, sét động nổ lòe xanh “ khiến binh tướng đều kinh hãi :

    Tôm cá xưa nay im thin thít

    Mở quát mồm to kêu thất thanh.


    Tuy nhiên, phải kể đây là một mặt trận khó đánh, vì chiến địa đã tước đoạt hết những gì sở trường của binh tướng. Như ta đã thấy, thủy binh mà lên cạn thì nó vụng về làm sao :

    Theo sau cua đỏ và tôm cá.

    . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

    Khập khiễng bò lê trên đất lạ.

    Trước thành tập tễnh đi hàng hai.


    Rồi chúng ta nghĩ đến cái luộm thuộm của “ bộ binh” hổ, beo v.v... khi phải giáp trận thủy chiến.

    Bởi thế, câu chuyện tình của hai vị thần nhân này cứ dằn co mãi mà không giải quyết được , cho nên :

    Thủy-Tinh năm năm dâng nước bể,

    Đục núi hò reo đòi Mỵ nương,

    Trần gian đâu có người dai thế,

    Cũng bởi thần yêu nên khác thường.


    Ngoài những đoạn thơ mang nụ cười tinh nghịch, hóm hỉnh như vừa nêu, thỉnh thoảng tác giả đệm vào vài câu diễn tả tình cảm lâm ly của một Mỵ-nương còn bịn rịn với cha già trước cảnh chia ly :

    Thương người, thương cảnh, xót lòng đau.

    Nhìn quanh, khói tỏa buồn man mác,

    Nàng kêu : “ Phụ vương ôi ! Phong-châu ! “


    Đúng là ba tuyệt cú, nó như ba viên ngọc tỏa ra một thứ ánh sáng huyền diệu ....... đã khiến chúng tôi nhớ đến Lưu-Trọng-Lư, cũng một người con gái ra đi lấy chồng, xúc động khi nhìn sông bỗng nhớ bến nước xưa :

    Có cô dâu mới nhìn sông nước

    Sực nhớ quê nhà giọt lệ tuôn.


    (Diệu huyền - Thế-Lữ)

    rồi đến cảnh cha thương con khi con đã đi rồi :

    Hùng-vương mờ vịn tay bờ thành

    Trông bụi hồng tuôn xa, xa lắc,

    Mắt nhòa , lệ ngọc ngấn đầm quanh.


    hoặc, như khi Sơn-Tinh đã rước Mỵ-nương, Thủy-Tinh uất hận :

    Chân trời còn phảng bóng người yêu,

    Thủy-Tinh thúc rồng đau kêu rú,

    Vừa uất vì thương, vừa bởi kiêu.

    Co hết gân nghiến răng, thần quát :

    - “ Giết ! Giết Sơn-Tinh hả hờn ta ! “


    Với bài thơ Sơn-Tinh Thủy-Tinh, Nguyễn nhược Pháp đã thành công mỹ mãn trong lãnh vực thi ca thuộc khuynh hướng trào phúng, mà ý vị vô cùng.

    Trong Thi-nhân Việt-nam, Hoài-Thanh đã xếp Nguyễn nhược Pháp vào khuynh hướng trào lộng, đồng thời cũng kể là nhà thơ trào phúng độc nhất trong tác phẩm phê bình văn học này. Điều đó không là và cũng không có gì quá đáng.

    Ngoài nụ cười hóm hỉnh, Nguyển nhược Pháp chứng tỏ là một nhà thơ tình cảm có chân tài, trong các bài như Một buổi chiều xuânChùa Hương.

    Trong loại thơ tả tình, tả cảnh, Nguyễn nhược Pháp dùng chữ thật nhẹ, không rườm rà, tránh sáo ngữ, dễ hiểu nhưng không phải vì đó mà lời văn trở nên nhạt, ngược lại ở các bài thơ tả tình, tả cảnh, ông diễn tả một cách tự nhiên, đượm một tình cảm chân thành.

    Đây, hãy nghe Nguyễn nhược Pháp tả một buổi chiều uân :

    Hôm đó buổi chiều xuân,

    Trông mây hồng bay vân,

    Liền gập pho kinh sử,

    Lững thững khỏi lầu văn.


    Đường leo, nhà lom khom,

    Mái xanh, tường rêu mòn.

    Ta nhìn ngâm nga đọc,

    Câu đối cửa màu son


    . . . . . . . . . . . . . .

    Ô, vườn bao nhiêu hồng !

    Hương nghi ngút đầu bông.

    Lầu xa tô mái đỏ,

    Uốn éo hai con rồng.


    Và đây cảnh con đường mòn lên Chùa Hương :

    Đường mây đá cheo veo,

    Hoa đỏ, tím, vàng leo.


    cảnh một ngày hội Chùa :

    Sau núi Oản, Gà, Xôi,

    Bao nhiêu là khỉ ngồi,

    Tới núi con Voi phục,

    Có đủ cả đầu đuôi.


    Chùa lấp sau rừng cây,

    (Thuyền ta đi một ngày)

    Lên cửa chùa em thấy

    Hơn một trăm ăn mày.


    rồi đến hình dáng một người con gái đang độ trưởng thành :

    Khăn nhỏ đuôi gà cao,

    Em đeo giải yếm đào.

    Quần lĩnh áo the mới ;

    Tay cầm nón quai thao.


    với lứa tuổi đôi mươi, tình xuân phơi phới, người con gái bao giờ cũng nuôi nhiều giấc mơ :

    Mơ xa, lại nghĩ gần,

    Đời mấy kẻ tri âm ?


    và rồi người mà nàng mơ ước đã đến :

    Thuyền nan vừa lẹ bước ,

    Em thấy một văn nhân.



    Người đâu thanh lạ thường !

    Tướng mạo trông phi thường.

    Lưng cao dài, trán rộng.

    Hỏi ai nhìn không thương ?


    Người mộng đã đến đây rồi, lòng người con gái bắt đầu xao xuyến chuyện yêu thương ; rồi nàng cảm thấy thẹn thùng, làm dáng :

    Thuyền đi. bến Đục qua

    Mỗi lúc gặp người ra,

    Thẹn thùng em không nói :

    “ Nam mô A-Di-Đà ! ”


    và khi đã biết thẹn thùng, làm dáng, người con gái đâm ra lo sợ người trai trẻ ấy chê khen, nên mọi cử chỉ đều được kiểm điểm :

    Em đi, chàng theo sau,

    Em không dám đi mau,

    Ngại chàng chê hấp tấp.

    Số gian nan không giàu.


    Nguyễn nhược Pháp tỏ ra rất sành tâm lý nên cấu tạo nhân vật chặt chẽ, từ những hành vi nhỏ nhặt của người con gái cũng như chàng trai, ông đều khai thác đúng mức :

    Từ giấc mơ của người con gái :

    Em mơ, em yêu đời;

    Mơ nhiều... viết thế thôi,

    Kẻo mà ai xem thấy,

    Nhìn em đến nực cười !


    đến nỗi vui mừng của nàng khi gặp người thích hợp :

    Em ư ? em không cầu

    Đường vẫn thấy đi mau,

    Chàng cũng cho như thế.

    (Ra ta hợp tâm đầu).


    rồi nàng lại lo sợ ngày vui sắp tàn :

    Mẹ vui mừng hả hê :

    “ tặc ! con đường mà ghê !

    Thầy kêu : “ Mau lên nhé !

    Chiều hôm nay ta về. “



    Em nghe bỗng rụng rời !

    Nhìn ai luống nghẹn lời.

    Giờ vui, đời có vậy,

    Thoảng ngày vui qua rồi !


    nên vội vã nàng tìm một cái gì để lưu niệm :

    Em tìm hơi chàng thở,

    Chàng ơi ! chàng có hay ?

    và quyết gắn bó :

    Yêu nhau, yêu nhau mãi !

    Đi , ta đi, chàng ôi !


    Ngun ngút khói hương vàng !

    Say trong giấc mơ màng,

    Em cầu xin Trời, Phật

    Sao cho em lấy chàng.


    Để kết luận, chúng tôi có thể nói, bây giờ nếu cho rằng Nguyễn nhược Pháp là một nhà thơ độc đáo nhất hay bất tử thì cũng có thể quá sớm. Nhưng thời gian sẽ chứng minh điều đó, bởi vì ngoài Nguyễn nhược Pháp, có lẽ thi đàn Việt-nam khó tìm gặp nụ cười duyên dáng, hiền lành và ngộ nghĩnh như thế.

    (Ấn bản kỳ nhì 25-4-1968)

    Thi tuyển
    ~~~~~~~

    Sơn-Tinh Thủy-Tinh

    Ngày xưa, khi rừng mây u ám,

    Sông núi còn vang um tiếng thần,

    Con vua Hùng-vương thứ mười tám,

    Mỵ-nương xinh như tiên trên trần....

    Tóc xanh viền má hây hây đỏ,

    Miệng nàng bé thắm như san hô,


    Tay ngà trắng nõn, hai chân nhỏ :

    Mê nàng, bao nhiêu người làm thơ.

    Hùng-vương thường nhìn con yêu quá,

    Chắp tay ngẩng lên trời tạ ân ;

    Rồi cười bảo xứng ngôi phò mã

    Trừ có ai ngang vị thần nhân.


    Hay đâu thần tiên đi lấy vợ !

    Sơn-Tinh Thủy-Tinh lòng tơ vương,

    Không quản rừng cao sông cách trở,

    Cùng đến Phong-châu xin Mỵ-nương.

    Sơn-Tinh có một mắt ở trán,

    Thủy-Tinh râu ria quăn xanh rì.

    Một thần phi bạch hổ trên cạn,

    Một thần cưỡi lưng rồng uy nghi.


    Hai thần bên cửa thành thi lễ,

    Hùng-vương âu yếm nhìn con yêu.

    Nhưng có một nàng mà hai rể,

    Vua cho rằng thế cũng hơi nhiều !

    Thủy-Tinh khoe thần có phép lạ.

    Dứt lời, tay hất chòm râu xanh,


    Bắt quyết hò mây to nước cả,

    Dậm chân rung khắp lầng gần quanh.

    Ào ào mưa đổ xuống như thác,

    Cây xiêu, cầu gãy, nước hò reo,

    Lăn, cuốn, gầm, lay, tung sóng bạc,

    Bò , lợn, và cột nhà trôi theo.

    Mỵ-nương ôm Hùng-vương kinh hãi,

    Sơn-Tinh cười, xin nàng đừng lo !


    Vung tay niệm chú : Núi từng dãi,

    Nhà lớn, đồi con lổm ngổm bò.

    Chạy mưa. Vua tùy con kén chọn.

    Mỵ-nương khép nép như cành hoa :

    “ Con đây phận đào tơ bé mọn,

    Nhân duyên cúi để quyền mẹ cha. ”


    Vua nghĩ lâu hơn bàn việc nước,

    Rồi bảo mai lửa hồng nhuốm sương,

    Lễ vật thần nào mang đến trước,

    Vui lòng vua gả nàng Mỵ-nương.

    *

    Bình minh má ửng đào phơn phớt,

    Ngọc đỏ rung trên đầu lá xanh.


    Ngọn liễu chim vàng ca thánh thót,

    Ngự giá Hùng-vương lên mặt thành.

    Mỵ-nương bên lầu son tựa cửa,

    Rèm ngọc lơ thơ phủ áo hồng.


    Cánh nhạn long lanh vờn ánh lửa,

    Mê nàng, chim ngẩn lưng trời đông,

    Rừng xanh thả mây đào man mác,

    Sơn-Tinh ngồi bạch hổ đi đầu.

    Mình phủ áo bào hồng ngọc dát,

    Tay ghì cương hổ, tay cầm lau.


    Theo sau năm chục con voi xám

    Hục hặc , lưng cong phủ gấm điều,

    Tải bạc, kim cương, vàng lấp loáng,

    Sừng tê, ngà voi và sừng hươu.


    Hùng-vương trên mặt thành liễu rủ,

    Hớn hở thần trông, thoáng nụ cười,

    Thần suốt bao đêm dài không ngủ,

    Mày ngài, mắt phượng vẫn còn tươi.


    Sơn-Tinh đến lạy chào bên cửa,

    Vua thân ngự đón nàng Mỵ-nương.

    Lầu son nàng ngoái trông lần lữa,

    Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương.

    Quỳ lạy cha già lên kiệu bạc,


    Thương người, thương cảnh xót lòng đau.

    Nhìn quanh, khói tỏa buồn man mác,

    Nàng kêu : “ Phụ-vương ôi ! Phong-châu ! ”

    Kiệu nhỏ đưa nàng đi thoan thoắt,

    Hùng-vương mơ vịn tay bờ thành,

    Trông bụi hồng tuôn xa, xa lắc,


    Mắt nhòa lệ ngọc ngấn đầm quanh...


    Thoảng gió vù vù như gió bể,

    Thủy-Tinh ngồi trên lưng rồng vàng,

    Yên gấm tung dài bay đỏ chóe,

    Mình khoác bào xanh da trời quang.

    Theo sau cua đỏ và tôm cá,

    Chia đội năm mươi hòm ngọc trai.


    Khập khiễng bò lê trên đất lạ,

    Trước thành tấp tểnh đi hàng hai.

    Hùng-vương mặt rồng chau ủ rũ,

    Chân trời còn phảng bóng người yêu,

    Thủy-Tinh thúc rồng đau kêu rú,


    Vừa uất vì hương, vừa bởi kiêu.

    Co hết gân nghiến răng, thần quát :

    _ “ Giết ! Giết Sơn-Tinh hả hờn ta ! “

    Tức thời nước sủi reo như thác,

    Tôm cá quăng ngọc trai mà hoa.


    Sơn-Tinh đang kèm theo sau kiệu,


    Áo bào phơ phất nụ cười bay

    (Vui chỉ mê ai xinh mới hiểu)

    Thần trông kiệu nhỏ hồn thêm say.

    Choàng nghe sóng vỗ reo như sấm,

    Bạch hổ dừng chân, lùi, vểnh tai.

    Mỵ-nương tung bức rèm đỏ thắm,


    Sơn-Tinh trông thấy càng dương oai

    Sóng cả gầm reo lăn như chớp,

    Thủy-Tinh cưỡi lưng rồng hung hăng,

    Cá voi quác mồm to muốn đớp,

    Cá mập quẫy đuôi cuồng nhe răng,

    Càng cua lởm chởm giơ như mác,

    Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao.

    Sơn-Tinh hiểu thần ghen, tức khắc


    Niệm chú , đất nẩy vù lên cao.

    Hoa tay thần vẫy hùm, voi, báo.

    Đuôi quắp, nhe nanh, giơ vuốt đồng,

    Đạp long đất núi, gầm xông xáo,

    Máu vọt phì reo muôn ngấn hồng.

    Mây đen hăm hở bay mù mịt,


    Sấm ran, sét động nổ lòe xanh.

    Tôm cá xưa nay im thin thít,

    Mở quác mồm to kêu thất thanh.

    Mỵ-nương kinh hãi ngồi trong kiệu,

    Bỗng chợt nàng kêu, mắt lệ nhòa.
  • Đang tải...