0077.00016_Team8 - Linh_tt (typedone) +thaole92 soát xong

20/5/16
0077.00016_Team8 - Linh_tt (typedone) +thaole92 soát xong
  • Bởi thế cho nên :

    Mắt quầng tóc rối tơ vương,

    Em còn cho chị lược gương làm gì ?

    Thật là trác tuyệt, tác giả đã xử dụng kỹ thuật thơ lục bát đến chỗ tuyệt diệu gây xúc động mạnh khi ta thấy cảnh nức nở, nghẹn ngào. Người đọc đã phải buồn lây cho số phận của người con gái mang nặng chữ hiếu, với hoàn cảnh đau thương như sống lại đậm nét trong thi ca của Nguyễn-Bính.

    Mặt khác, tác giả muốn trình bày tâm sự của bậc cha mẹ thương nhớ con mình sau khi đi làm dâu và càng đau đớn làm sao khi nàng gặp cảnh trái ngang suốt mười năm lận đận.

    Đoạn này Nguyễn-Bính tỏ ra vô cùng xuất sắc khi diễn tả nỗi nhớ thương của cha mẹ, nỗi đau khổ của kẻ làm dâu :

    Lần đầu chị bước sang ngang,

    Tuổi son, sông nước đò giang chưa từng.

    Ở nhà em nhớ, mẹ thương,

    Ba gian nhà trống mảnh vườn xác xơ.

    Mẹ ngồi bên cửi xe tơ,

    Thời thường nhắc : - “ Chị mầy giờ ra sao ? “

    Chị bây giờ.. nói thế nào…?

    Bướm tiên khi đã lạc vào vườn hoang.

    Chị từ lỡ bước sang ngang,

    Trời giông bão, giữa tràng giang lật thuyền.

    Xuôi giòng nước chảy liên miên,

    Đưa thân thế chị tới miền đau thương.

    Mười năm gối hận bên giường,

    Mười năm nước mắt bữa thường thay canh.

    Mười năm đưa đón một mình,

    Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên.

    Mười năm lòng lạnh như tiền,

    Tim đi hết máu ! cái duyên không về…

    Với lối bố cục thật chặt chẽ, trình bày tỉ mỉ và trong sáng, dùng chữ thật nhẹ và nhất là cách gieo vần rất đặc sắc khiến người xem mang chung một tâm sự buồn và cảm thấy xót thương cho số phận hẩm hiu của người con gái trong thơ.

    Thật là buồn làm sao, với những chữ “ mười năm ” được lặp đi lặp lại cho chúng ta thấy thời gian dài đằng đẵng, đầy gian nan cực khổ trong bao dông tố phũ phàng.

    Cuối cùng bao nhiêu cảnh đổi thay, nàng cam chịu lỡ làng và gửi lời dặn dò em hãy thay chị phụng sự mẹ cha và cứ coi như mình đã chết :

    Em về thương lấy mẹ già,

    Đừng trông ngóng chị nữa mà uổng công.

    Chị giờ sống cũng như không,

    Xem như chị đã sang sông đắm đò.

    Đọc hết bài thơ, người xem không tránh khỏi bùi ngùi cảm thương cho kiếp hoa thôn dã chỉ biết cam lòng chịu đựng mà không có một phản ứng nào.

    Không phải chỉ trong Lỡ bước sang ngang Nguyễn-Bính mới có giọng thơ buồn thảm, ngược lại, chúng tôi đã trình bày ở trên, hầu hết thơ của Nguyễn-Bính đều mang nặng sắc thái u buồn khác biệt.

    Đây, các bạn hãy cùng chúng tôi đi tìm những nét buồn khác của tác giả Lỡ bước sang ngang.

    Trong Những bóng người trên sân ga sau đây, những cuộc chia ly đối với Nguyễn-Bính gần như nối tiếp không ngừng ; ngày vui qua mau, chỉ còn một chuỗi ngày thừa thãi và những cuộc từ giã cứ tiếp diễn mãi như một cuộc chia tay giữa hai chị em dưới mắt Nguyễn-Bính :

    Có lần tôi thấy hai cô bé,

    Sát má vào nhau khóc sụt sùi.

    Hai bóng chung lưng thành một bóng,

    Đường về nhà chị chắc xa xôi.

    và đây hình ảnh giã từ của hai người bạn khhi bản đàn tri âm đến hồi chấm dứt :

    Hai chàng tôi thấy tiễn đưa nhau,

    Kẻ ở sân ga, kẻ cuối tàu.

    Họ giục nhau về ba bốn bận,

    Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu.

    đến cuộc giã biệt của hai kẻ yêu nhau đang bịn rịn chia tay :

    Có lần tôi thấy một người yêu,

    Tiễn một người yêu, một buổi chiều.

    Ở một ga nào xa vắng lắm,

    Họ cầm tay họ, bóng liêu xiêu.

    Rồi hình ảnh chia lìa của một đôi vợ chồng càng buồn hơn. Với lòng nghĩ thương chồng ở lại trong cảnh thiếu hụt vì buổi phân ly bất kỳ, người vợ mở khăn trầu lấy một ít tiền dành dụm định gởi lại, nhưng bị chồng cản ngăn và thì thầm đôi câu nói tầm thường nhưng chứa đựng một tình thương chân thật mà ta chỉ bắt gặp ở những tâm hồn mộc mạc ấy. Hãy đọc để nhận thức cái bé mọn của vật chất trước cái giá trị của chân tình :

    Có lần tôi thấy vợ chồng ai,

    Thèn thẹn đưa tay bóng chạy dài.

    Chị mở khăn trầu anh thắt lại,

    Mình về nuôi lấy mẹ mình đi.

    Cảnh người mẹ già đưa con ra sân ga, trước phút tiễn con đi tận chốn xa xôi, có thể nơi một miền quan tái, mẹ ở lại nhà với thân già đơn chiếc, thật thảm não vô cùng :

    Có lần tôi thấy một bà già,

    Đưa tiễn con đi tận chốn xa.

    Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng,

    Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.

    càng buồn hơn là cảnh một người đi không ai đưa đón :

    Có lần tôi thấy một người đi,

    Chẳng biết về đâu, nghĩ ngợi gì,

    Chân bước hững hờ theo bóng lẽ,

    Một mình làm cả cuộc phân ly.

    Thật là thê thảm, đoạn trường với bao nhiêu hình ảnh chia ly dưới ngòi bút của thi sĩ Nguyễn-Bính, chúng ta thấy như hiện ra trước mắt và gợi hồn, gợi cảm làm sao.

    Chẳng những Nguyễn-Bính buồn với bao cuộc chia lìa ngăn cách mà ông còn buồn nhiều khía cạnh nữa, buồn vì cuộc đời dâu bể, buồn cho cảnh vật đổi thay, buồn với tâm sự của chính mình hay đúng ra thi nhân đã buồn, đã khổ đau với tấm tình yêu.

    Nhưng ái tình của Nguyễn-Bính, khác hẳn cái nóng nảy như Hồ-Dzếnh ; lãng mạn, say đắm như Xuân-Diệu ; chứa chan và dễ dãi như Huy-Cận, hay trầm buồn như một Vũ hoàng Chương. Ngược lại, tình yêu trong thơ Nguyễn-Bính, là một thứ tình yêu nhẹ nhàng, câm lặng, những mối tình mộng đẹp ; nó là thứ tình yêu của một Đỗ-Tốn trong Hoa vông vang. Yêu thì tha thiết, chân thành, nhưng tâm ý lại rụt rè, nhút nhát :

    Nàng đến thăm tôi một buổi chiều.

    Những mong chắp nối mộng thương yêu,

    Nhưng tôi không dám, tôi không thể,

    Chắp nối bao nhiêu khổ bấy nhiêu.

    Tuy nói thế nhưng mấy ai quên được kỷ niệm ban đầu, và chàng đau đớn than thở khi chẳng dám cùng ai dệt mộng yêu đương :

    Nàng hỡi ! tôi không thể dối nàng,

    Dối tôi, mà lại nói yêu thương,

    Tôi giờ như một người tang tóc,

    Chẳng dám cùng ai dệt mộng vàng.

    Đau khổ cho hoàn cảnh trái ngang của mình, Nguyễn-Bính tạo nên những dòng thơ đẫm lệ :

    Nàng hãy đi xây lại cuộc đời,

    Rồi đây, ai nhắc đến tên tôi,

    Và ai có hỏi : “ Là ai nhỉ ? ”

    Nàng đáp lạnh lùng : “ Chẳng biết ai ! ”

    Đọc thơ tình Nguyễn-Bính, mỗi bài có một nội dung khác nhau, song buồn khổ, chia ly vẫn là chủ đề chính.

    Thí dụ như bài Người hàng xóm sau đây, tác giả cho ta thấy thi nhân yêu một người con gái cùng xóm, nhưng không bao giờ dám nói tiếng yêu để một ngày kia nàng vĩnh biệt cõi đời, Nguyễn-Bính đau khổ, tương tư :

    Người hàng xóm

    Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,

    Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn

    Hai người sống giữa cô đơn,

    Nàng như cũng có cái buồn giống tôi ;

    Giá đừng có giậu mồng tơi,

    Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng,

    Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng,

    Có con bướm trắng thường sang bên này.

    Bướm ơi ! bưỡm hãy vào đây

    Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi.

    Chẳng bao giờ thấy nàng cười,

    Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên ;

    Mắt nàng say đắm trông lên

    Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi.

    Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi

    Tôi buồn tự hỏi : - Hay tôi yêu nàng ?

    Không, từ ân ái lỡ làng

    Tình tôi than lạnh tro tàn làm sao !

    Tơ hồng nàng chẳng cất vào

    Con bươm bướm trắng đêm nào cũng sang.

    Mấy hôm nay chẳng thấy nàng,

    Giá tôi cũng có tơ vàng mà hong.

    Cái gì như thể nhớ mong ?

    Nhớ nàng ! không ! quyết là không nhớ nàng.

    Vâng, từ ân ái lỡ làng,

    Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng năm xưa

    Tầm tầm trời cứ đổ mưa

    Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm

    Cô đơn buồn lại thấy buồn

    Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi

    Hôm nay mưa đã tạnh rồi.

    Tơ không hong nữa, bướm lười thôi sang !

    Bên hiên vẫn vắng bóng nàng,

    Rưng rưng tôi gục xuống bàn rưng rưng !

    Nhớ con bướm trắng lạ lùng,

    Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng.


    Hỡi ôi ! bướm trắng tơ vàng !

    Mau về mà chịu tang nàng đi thôi,

    Đêm qua nàng đã chết rồi !

    Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng,

    Hồn trinh còn ở trần gian,

    Nhập vào bướm trắng mà sang bên này …

    (Trích tập thơ Tâm hồn tôi)

    Đọc hết bài thơ, mọi người thấy Nguyễn-Bính đem câu chuyện tình của mình đã yêu một người con gái, nhưng chỉ vì nhút nhát không bao giờ dám ngỏ. Ngày, tháng trôi qua, sự yêu thường càng nhen nhúm trong lòng. Lần lữa mãi rồi một ngày nọ, người con gái ấy chết đi, để lại trong lòng người trai đã thầm thương trộm nhớ một nỗi buồn dằng dặc. Tác giả Lỡ bước sang ngang tỏ ra thành thật khi trình bày câu chuyện tình đau thương của mình và đưa ra điểm tâm lý chung của những chàng trai khi tình yêu dậy nở nhưng không bao giờ đủ can đảm nhận rằng mình đã yêu mà cứ chối quanh co mãi. Thật sự thì tình yêu đã chín muồi trong tâm tưởng. Hình ảnh người mình yêu cứ chập chờn mãi mà không bao giờ quên được. Rồi khi đã yêu, sẽ có sự nhớ nhung vu vơ, lo sợ mọi cách ; từ những hình ảnh thông thường đến những hành động dù nhỏ nhặt của người mình yêu đều biến thành quan trọng, và đôi khi còn ghen tức vô lý như ganh ghét với hoa, với bướm, đó là tâm trạng chung của những lòng trai khi mới biết yêu, họ tự thú :

    Mắt nàng say đắm trông lên,

    Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi.

    Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi

    Tôi buồn tự hỏi : - Hay tôi yêu nàng ?

    rồi cảm thấy tôm hồn mình xao xuyến khác thường khi nhận thấy có :

    Cái gì như thể nhớ mong.

    Lòng đã như thế mà mỗi khi có ai hỏi đến chàng lại chối phăng :

    Nhớ nàng ! không ! quyết là không nhớ nàng.

    Chối thì vẫn chối, nhưng lòng nhớ mong thì vẫn nhớ, nhất là khi vắng bóng người yêu :

    Bên hiên vẫn vắng bóng nàng,

    Rưng rưng, tôi gục xuống bàn rưng rưng

    Nhớ con bướm trắng lạ lùng

    …………

    Không riêng gì bài Người hàng xóm, mà còn nhiều bài khác nữa, Nguyễn-Bính đã tỏ ra sành sỏi tâm lý trong quan niệm ái tình.

    Trong tình yêu, thơ của Nguyễn-Bính tỏ ra xuất sắc, cái hay trong thơ tình Nguyễn-Bính là những dòng thơ vừa ngọt ngào vừa êm đềm, nhưng cũng không thiếu đau thương :

    Nắng mưa là bệnh của trời ;

    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

    Một khi đã yêu, nhất định những kẻ yêu nhau thường lo sợ tình yêu tan vỡ, sợ kẻ khác cướp mất người yêu, Nguyễn-Bính cho ta thấy cái sợ, cái lo lắng ấy bằng sự lột trần tâm trạng thầm kín nhất của kẻ đã yêu :


    Ghen

    Cô nhân tình bé của tôi ơi !

    Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười

    Những lúc có tôi và mắt chỉ

    Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi.


    Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai,

    Đừng hôn, dù thấy đóa hoa tươi,

    Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ,

    Đừng tắm chiều nay bể lắm người.


    Tôi muốn mùi thơm của nước hoa,

    Mà cô thường xức chẳng bay xa,

    Chẳng làm ngây ngất người qua lại,

    Dẫu chỉ qua đường khách lại qua.


    Tôi muốn những đêm đông giá lạnh

    Chiêm bao đừng lẩn khuất bên cô.

    Bằng không tôi muốn cô đừng gặp,

    Một trẻ trai nào trong giấc mơ.


    Tôi muốn làn hơi cô thở nhẹ,

    Đừng làm ẩm áo khách chưa quen,

    Chân cô in vết trên đường bụi

    Chẳng bước chân nào được dẫm lên.


    Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi,

    Thế nghĩa là yêu quá mất rồi ;

    Và nghĩa là cô là tất cả,

    Cô là tất cả của riêng tôi.

    (Lỡ bước sang ngang)

    Đấy, ghen là như thế. Có lẽ đây là một bài thơ khéo nhất của Nguyễn-Bính cũng nên. Phân tích toàn diện bài thơ từ cách gieo vần, âm điệu đến quy tắc hành văn, văn phạm, cú pháp ta thấy Nguyễn-Bính có tài trong khi diễn tả tâm trạng con người.

    Có điểm đặc biệt nhất của Nguyễn-Bính mà ít ai nghĩ đến, hoặc có nhưng không chú ý, đó là văn bình dân.

    Thật vậy, thơ Nguyễn-Bính không dùng những chữ cầu kỳ, sáo ngữ người đọc có thể hiểu dễ dàng qua trực cảm, mà không bị ngượng ngập suy tư gì cả, lại còn mang âm hưởng của những câu ca dao, như :

    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

    Một người chín nhớ mười mong một người.

    hay :

    Lòng em như quán bán hàng

    Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi.

    và :

    Lòng em như chiếc lá khoai,

    Đổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu.

    Về điểm này có hai luồng tư tưởng khác nhau, lớp người cũ cho rằng thơ của Nguyễn-Bính không có gì mới lạ ; lớp người trẻ lại bảo thơ Nguyễn-Bính theo xưa không thích hợp tuổi xanh. Trong Thi nhân Việt-nam của Hoài-Thanh, Hoài-Chân viết : “… Giữa những bài giống hệt ca dao người bỗng chen vào một đôi lời quá mới. Ta thấy khó chịu như khi vào một ngôi chùa có những ngọn đèn điện trên bàn thờ Phật ”. Nhưng chính cái “ giống hệt ca-dao ” ấy tựa như làn gió phảng phất trong tiếng thơ của Nguyễn-Bính một chút hồn dân tộc.

    Hầu hết tác-phẩm của ông đều mang những hình ảnh quê hương, giữ được sắc thái luân lý Á-đông từ đời sống vật chất đến tinh thần.

    Để kết thúc, Nguyễn-Bính là một nhà thơ rất tế nhị. Đối với thi-nhân, thơ và cuộc đời chỉ là một. Không ca ngợi những vẻ đẹp xa vời, những bóng dáng mỹ lệ, Nguyễn-Bính đã đi sâu vào thế giới tâm tình của những mảnh đời ngang trái, dở dang, phân cách, bẽ bàng. Có thể nói, với ngòi bút của thi nhân, Nguyễn-Bính đã “ tả chân ” được nỗi u buồn trầm lặng, giải tỏa được tiếng kêu bi thương của những tâm hồn mộc-mạc. Tiếng thơ của Nguyễn-Bính gây được sự rung cảm chân thành ; lời thơ không gò bó, gượng ép hay giả tạo như chính thi nhân đã mang nỗi niềm tâm sự hơn là do tưởng tượng làm ra.

    Ngày nay Nguyễn-Bính đã nằm im trong lòng đất mẹ, nhưng những vần thơ của thi nhân sẽ còn mãi mãi gắn liền vào nền thi ca của dân tộc.

    (Ấn bản kỳ nhì, tháng 4-1967)

    ---

    Trước khi sang phần thi tuyển, để các bạn ý thức được giai đoạn tiếp nối thời tiền chiến, chúng tôi nghĩ không phải là vô bổ khi trình bày đôi nét về con người Nguyễn-Bính trong thời kháng chiến dưới tiêu đề :

    Cuộc đời của Nguyễn-Bính đi trong khói lửa chiến chinh.


    Chúng tôi xin nhường lời nhà văn Sơn-Nam :

    “ Về nếp sống hàng ngày, về sự giao du với bạn bè thì Nguyễn-Bính cũng như trăm ngàn văn nghệ sĩ khác ; anh có vài tật xấu, vài tánh tốt. Sau vài ba ngày tâm sự, đàm đạo về văn chương với bạn, thường thường Nguyễn-Bính nổi cơn giận, tỏ ra chán chê bạn, thế là xa nhau để rồi thỉnh thoảng gặp nhau, quên chuyện cũ, tương thân tương đắc, đậm đà hơn bao giờ hết. Rồi sau vài ngày lại xa nhau.

    Một điều rõ rệt mà ai cũng nhìn nhận : Nguyễn-Bính là nhà thơ yêu nước. Yêu nước là đức tính không thể không có ở mỗi người dân bị ngoại xâm. Thời kháng Pháp, tôi đã gặp Nguyễn-Bính, uống rượu, uống trà, trao đổi tâm sự với nhau nhiều lần.

    Giờ đây anh đã mất. Tôi cố gắng ghi chép lại những điều đáng ghi chép về đời anh, những điều tai nghe mắt thấy, có thể đem đến ích lợi cho bạn đọc.

    Từ chợ Rạch-giá, anh vào chiến khu để tham gia kháng Pháp. Bấy giờ vào khoảng 1946 – 1947. Thời tiền chiến, người miền Hậu-giang hiểu phong trào thi ca qua sự tuyển chọn và giới thiệu của Hoài-Thanh và Hoài-Chân. Nguyễn-Bính là thi nhân duy nhất có tên trong Thi nhân Việt-nam đã tham gia kháng chiến tại miền duyên hải vịnh Xiêm-la.

    Anh khởi xướng việc thành lập Đoàn Văn-hóa Cứu-quốc tỉnh Rạch-giá, cho ra mắt Tập thơ yêu nước sau khi vào chiến khu một đôi tháng. Tập thơ yêu nước gồm chừng mười bài hơi ngắn.

    Bài thơ yêu nước của anh – cũng như những bài trích dẫn ở phần sau – được chép lại theo trí nhớ của tôi. Có thể là tôi chép sai chạy đôi ba chữ :

    Những ai xứng đáng là người

    Hãy hy sinh hết cho nòi giống ta !

    Hãy nên vì nước quên nhà,

    Coi thường thân sống mới là trượng phu.

    Bài chót của tập thơ này là Trận cây bàng. Tôi còn nhớ anh lặp đi lặp lại câu :

    - Đánh ! Đánh ! Đánh ! Chỗ nào cũng đánh.

    để rồi đến phần kết luận :

    Nếu quân thù không đem binh tiếp viện

    Thì quân ta tiêu diệt hết quân thù !

    Nhưng thắng bại là lẽ thường chinh chiến

    “ Trận cây bàng ” ghi tiếng để muôn thu.

    Các bạn yêu văn nghệ đã chê bốn câu trên vì nó quá ngô nghê.

    Lúc bấy giờ, Nguyễn-Bính uống rượu li bì, uống rượu đế, nhâm nhi với ít trái ổi, trái xoài, trái khóm. Anh uống công khai, mặt đỏ gay suốt ngày. Anh đã tỏ lời tâm sự với tôi :

    - Hồi tiền chiến, tôi uống rượu và hút thuốc phiện. Bây giờ tôi bỏ thuốc phiện thì tôi uống rượu gấp đôi. Đó là sự tiến bộ.

    Tôi hỏi :

    - Anh cai từ hồi nào ?

    - Từ hồi tiền chiến. Tôi đã lợi dụng chuyến đi Hà-tiên (thăm thi sĩ Đông-Hồ) để xa lánh nàng tiên nâu. Trước khi đến Hà-tiên, tôi ghé vào tiệm Công-yên ở Rạch-giá hút suốt đêm. Trong thời gian ở Hà-tiên, tôi không hút điếu nào. À ! Tôi viết tập Bài hát tỳ bà phỏng theo cốt truyện của Tỳ bà ký . Nhưng chuyến về xảy ra chuyện này đáng suy nghĩ. Từ Hà-tiên tôi qua chợ Rạch-giá để chờ xe Rạch-giá đi Sài-gòn. Vừa bước xuống xe, tôi bước thật nhanh, tâm hồn thơ thới mà chẳng biết mình bước về đâu. Đột nhiên, tôi dừng bước trên lề phố. Chừng tôi giựt mình, quan sát kỹ thì mới hay rằng cái “ tiềm thức ” đã điều khiển tôi trở lại tiệm Công-yên hôm nọ. Tôi quay mặt, chạy nhanh.

    Vài tháng sau, Nguyễn-Bính lãnh trách nhiệm Phó Chủ-tịch Tỉnh-bộ Việt-minh tỉnh Rạch-giá. Anh ký tên thay mặt ban thường vụ, sao y các công văn. Và kèm theo công văn, đôi khi cấp dưới lại nhận được một đôi bài thơ ký tên Nguyễn-Bính ! Tôi còn nhớ vài câu, trong bài thơ diễn tả nỗi đau buồn của người mẹ chờ con, đứa con ấy đã hy sinh cho tổ quốc :

    - Còn sống ngày nào, còn cứu nước

    Còn đem xương máu để xây thành…

    - Mái tranh từng giọt sương rơi lạnh

    Mẹ nén đau thương mẹ đợi chờ.

    - Đêm đêm mẹ đốt cây hương ngát

    Mẹ khấn đôi lời con có nghe ?

    Vì nước bỏ mình là bất tử

    Xưa nay chinh chiến mấy ai về ?

    Anh từ bỏ chức vụ sau nhiệm kỳ. Anh tỏ ra sung sướng trong lúc chờ đợi chuyến liên lạc về Đồng – tháp – mười. Anh cho biết : vài người bạn ở Ban Văn-nghệ Khu 8 gởi thư mời anh lên trên đó. Họ bảo đảm mọi mặt, nghĩa là mình được rảnh rang để sáng tác. Mỗi ngày, mỗi tuần mình khỏi tham dự những cuộc hội ý, hội báo, hội nghị kiểm thảo. Sống không cần theo thời dụng biểu. Mỗi người một căn chòi riêng, tha hồ uống rượu, uống trà, bất chấp mọi tiếng dị nghị. Ngoài ra, Ban Văn-nghệ Khu 8 có máy in, in rất đẹp để phổ biến tác phẩm.

    Tôi cầu mong anh mạnh khỏe để làm được việc.

    Anh hứa gởi tác phẩm mới nhất cho tôi xem.


    *

    Anh giữ lời hứa. Mỗi bài thơ của anh đều được cắt từ trong bản vỗ (morasse), gởi cho tôi, như vậy có điều tiện lợi là tôi học sớm, trước khi tờ báo tới tay. Xin trích vài đoạn tiêu biểu, gọi là để làm tài liệu thôi :

    Trái vú sữa thẳng căng niềm uất ức

    Gai sầu riêng nhọn hoắt ý căm hờn…

    Cây cau già, ruột yếu cũng sôi lên :

    - “ Thân lão đây ! Mau hãy chuốt làm tên ! ”

    (Đây Nam bộ)


    Lá quốc kỳ đi trước

    Đoàn chiến sĩ theo sau

    Gió đêm nay lành lạnh

    Sương đêm nay phai màu…

    Gươm sáng bật gọng thép :

    Thù sâu, ôi thù sâu !

    ………

    Tổ quốc là mẹ hiền

    Bị sài lang cấu xé

    Chúng con xách gươm thiêng

    Đi trả thù cho mẹ

    Áo vải làm anh hùng,

    Cơm khô no bụng trẻ !

    Vài câu ca dao :

    Thấy dừa thì nhớ Bến-tre

    Thấy sen lại nhớ đồng quê Tháp-mười

    Thấy trăng thì nhớ đến người

    Thấy sao, lại nhớ đến lời thề xưa.

    *

    Cái bông sen trắng

    Cái nụ mướp vàng

    Trường quân chính mở

    Sao chàng chưa đi ?

    Nước ta quí nhất quốc kỳ

    Dân ta quí nhất người đi chiến trường !

    Bốn trăm ngàn mẫu đất

    Sớt chia sáu tỉnh miền Nam

    Khắn khít biên thùy Chùa-tháp

    Nằm bên cánh trái Cửu-long giang.

    Đồng-tháp-mười !

    Bốn mặt mênh mang

    Cò trắng ngàn năm bay chẳng dứt…

    … Nước phèn chua chát

    Lắng nỗi đau thương !

    … Hình thôn dáng xóm thương thương

    Hoa ô mới nở bốn phương anh đào !

    … Hoa sen nở chẳng đợi chi mùa hạ,

    Chim hít cô hót cả những chiều mưa.

    (Trường ca Đồng-tháp)

    Nhưng đẹp đẽ và êm ái nhất là bài Những người của ngày mai, những người kháng Pháp vào khoảng 1949.

    Ở chòi hẹp nhưng hồn trùm vũ trụ

    Trái tim đau nhưng thương cả loài người.

    Đã nhiều hôm không thấy bóng mặt trời

    Bởi làm việc liên miên và bí mật.

    Mắt quầng lại, đêm đêm ròng rã thức

    Da xanh xao vì muỗi thật là nhiều

    Này, của riêng soát lại có bao nhiêu :

    Chiếc khăn tắm, bộ áo quần trong nóp

    Ba năm rồi, không xỏ chân vào guốc

    Ăn cơm thiu vì ẩm ướt mưa đêm !

    Có những anh xưa bảy nổi ba chìm

    Thay tên họ, bôn ba nơi hải ngoại.

    Nhớ hận nước, đăm đăm miền viễn tái…

    … Quê các anh ở miền Trung đá núi

    Bãi cát vàng bờ biển uốn quanh co

    Đêm trong xanh, cao vút tiếng ai hò ?

    Trên bến vắng một dòng sông nổi bạc

    Quê các anh ở miền Nam bát ngát

    Trái dừa xiêm nước ngọt buổi trưa nồng

    Đôi ba cô gái bán hàng bông

    Chèo yểu điệu một xuồng đầy vú sữa

    Theo dòng kênh đi sâu vào biển lúa

    Quê các anh ở miền Bắc xa xôi

    Bước chân đi, không biết mấy năm rồi

    Xa cha mẹ anh em, xa tất cả

    Nương dâu xanh, chiếc cầu cao, mái rạ

    Cô gái làng gội tóc nước hương nhu

    - Nhưng tình riêng là những tấm hình lu

    … Họ là đất, họ vui lòng làm đất

    Để đắp xây nền độc lập lâu dài.

    Họ là ai ?

    - Là người của ngày mai.

    Các bài thơ sáng tác trong thời gian ở Ban Văn-nghệ Khu 8 được gom vào một tập nhan đề Sóng biển cỏ. Biển cỏ tức là vùng cỏ bao la Đồng-tháp-mười.

    Ngoài ra, Nguyễn-Bính viết thỉnh thoảng đôi bài tùy bút dưới bút hiệu là Kiều-Mộc. Văn xuôi của anh chẳng lấy gì làm đặc sắc. Đáng chú ý là bài tùy bút Sang máu một quân nhân bị thương, được sang máu để hồi sinh. Người hiến máu là một thiếu nữ tên Hương. Sau khi lành bịnh, quân nhân nọ cố gắng làm việc vì nghe được sự sống, dòng máu của Hương đang hòa hợp trong tim, trong huyết quản của mình. Hương đã gởi hy vọng, gởi sự sống vào thể xác và tâm hồn người quân nhân.

    Đâu vào khoảng 1952, Nguyễn-Bính trở về rừng U-minh, lần này anh trầm tĩnh hơn, làm việc nhiều hơn. Anh cưới vợ, mở tiệm làm đại lý bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào báo, cố gắng làm thơ ca ngợi… Đảng Lao Động ra đời, đời sống công nhân ở Binh-công xưởng. Mấy bài thơ này không được tiếng vang.


    *


    Nguyễn-Bính thích ăn ngon. Anh chịu khó xào nấu thức ăn, pha trà kỹ lưỡng : thà ăn ít, uống ít nhưng thưởng thức đúng hương vị.

    Về những bài thơ do anh sáng tác thời tiền chiến, anh bảo :

    - Vài câu thơ… tuyệt diệu, thế thôi. Chẳng có bài nào toàn thích.

    - Anh cho thí dụ thử coi !

    - Tôi thích nhất hai câu nầy trong bài Buồn Ngự-viên :

    “ Sớm đào, trưa lý, đêm hồng phấn

    Tuyết lạnh, sương quỳnh, máu đỗ quyên. ”

    Làm văn nghệ khó lắm.

    - Tại sao khó ?

    - Có nhiều ý, nhiều chữ quá tuyệt diệu mà người khác đã cướp mất, trước mình. Mình chỉ nhái lại mà thôi. Đây là những trường hợp đáng sợ, đáng thán phục. Thí dụ như hai tiếng “ đằng đằng ” trong lời nhạc Hội nghị Diên-hồng (hận thù đằng đằng, sơn hà rung chuyển). Như chữ “ ghê ” mà Xuân-Diệu đã dùng, diễn tả công phu luyện tập của người chiến sĩ :

    Gươm mài nước suối bén ghê da !

    Hoặc hình dáng bở biển miền Trung do Xuân-Diệu :

    - Mãi ra đi ai nghĩ đến hồi đau

    Mây vần vũ ám Thăng-long, Gia-định

    Lạng-sơn xót với Cà-mau chót đỉnh

    Sợi tơ tằm bờ biển luống quanh co !

    Về cách tìm đề tài, về sự làm việc của kẻ sáng tác, Nguyễn-Bính đã nói nhiều lần với tôi, khi trà dư tửu hậu :

    - Nhiều khi mình chịu bí đề tài, cạn hứng suốt đôi ba tháng. Thế mới giận ! Nhưng khi viết được đôi ba bài ưng ý rồi thì mình lần lượt viết hàng trăm câu thơ, thấy hàng ngàn đề tài hiện ra… Các cụ ngày xưa bảo rằng : Vào rừng tìm cây quế, cây trầm hương là chuyện khó nhưng rất dễ. Lúc mới vào rừng, người ta thấy chung quanh toàn là gai cỏ, cây cỏ vô giá trị. Nhưng khi “ quen mắt quen hơi ”, ta gặp được một cây trầm cây quế rồi thì lần lượt ta thấy hàng trăm cây khác ở bên cạnh ta, có sẵn tự bao giờ ! Làm văn nghệ là vậy đó… Thế mới giận !


    *


    Trong số một ngàn cô cậu thanh niên làm thơ, yêu thơ thì chúng ta thấy có đến 990 người chịu bỏ cuộc khi gặp thực tế của cuộc đời. Cuộc đời là một bài thơ lớn, khác hẳn màu sắc bài thơ mà họ mơ ước từ trước.

    Trong số mười người còn lại, họa chăng có năm ba người làm thơ giỏi, làm thơ hay : khi đọc qua thơ họ chừng một đôi lần là tự nhiên người ta nhớ vài đoạn, năm ba câu mà chẳng cần nghi chép hoặc cố gắng học thuộc lòng.

    Thơ của Nguyễn-Bính đã đạt được trình độ dễ nhớ.

    Thơ của anh đáng ca ngợi ở nội dung yêu nước. Làm thơ yêu nước là chuyện khó. Phải phối hợp hình thức với nội dung ; ngôn ngữ kỹ thuật, tâm tình cá nhân với hoàn cảnh chiến đấu của dân tộc. Phải đúc các mâu thuẫn ấy thành một khối cứng rắn, không tì vết, tạo một thứ thép mới. Đúc trong lò lửa yêu nước, một lò lửa có nhiệt độ khá cao.

    Nguyễn-Bính đã thành công lớn, trong giai đoạn mà ít ai thành công. Bây giờ, nếu cho rằng Nguyễn-Bính là một thiên tài thì có lẽ hơi sớm. Nhưng hậu thế cho chúng ta thấy rằng thơ của Nguyễn-Bính có nhiều câu trở thành ca dao, vài bài thơ yêu nước của anh rất xứng đáng được trích giảng trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào giáo khoa Việt văn.

    Nguyễn-Bính đã phiêu lưu từ Bắc vào Nam rồi từ Nam ra Bắc, xa cố hương. Thời buổi chiến tranh, con người có thân hình ốm yếu mà sống non năm mươi tuổi, nghĩ cũng thọ. Suốt đời Nguyễn-Bính lấy việc sáng tác làm ý nghĩa cuộc sống. Anh đã chịu đau khổ, đã hưởng lạc, đã bi quan, đã lạc quan, đã suy tư. Ta đã thấy những trận giặc. Giặc trên mặt đất, giặc ngoài biển, giặc trên trời. Và giặc trong tâm hồn của con người anh nữa…

    (Tài liệu tập san Văn số 60, ngày 14-6-1966, Sài-gòn)

    ---

    Một giai thoại về Nguyễn-Bính và nhà thơ Kiên-Giang


    Qua tập thơ Hoa trắng thôi cài lên áo tím chúng ta thấy Kiên-giang có đôi bài lục bát phảng phất cái hơi thơ đồng mộc mạc của Nguyễn-Bính. Thật ra Kiên-Giang đã chung sống ở quê một thời gian với tác giả Lỡ bước sang ngang tại tỉnh Rạch-giá và không khỏi chịu ít nhiều ảnh hưởng của nhà thơ nầy. Dưới đây là giai thoại về thời gian hai người chung sống với nhau do chính Kiên-Giang thuật lại.


    *


    “ 18 năm trước, tại tỉnh lỵ Kiên-Giang tôi tìm gặp Nguyễn-Bính.

    - Ngủ móp ở cửa đình cụ Nguyễn Trung-Trực.

    - Mướn nhà hoang để làm thư trang.

    Năm 1947, một người bạn cho tôi hay Nguyễn-Bính hiện đang tá túc tại nhà của một công chức ở xóm biển của quê hương tôi (Kiên-Giang). Tôi tìm suốt cả tuần mới hay nhà vị công chức đó là nhà thầy L. Tìm tới nhà thì vợ thầy L. chỉ tôi ra phía đình cụ Nguyễn Trung-Trực và nói rằng : “ Nhà chật chội quá, ông Bính ra ở ngoài đình ”. Một người ở cạnh đình chỉ cho tôi chiếc nóp và nói rằng : “ Cái ông ưa ngâm thơ ngủ ở đó ”.

    Tôi đi vòng quanh chiếc nóp hai ba lần nhưng chưa dám đánh thức Bính dậy vì chưa tin là nhơ thơ mà tôi mến mộ lại ngủ trong nóp trước cửa đình. Tôi đành đi tới, đi lui trước sân đình đếm lá đa rơi để chờ đợi. Gần 10 giờ, người trong nóp mới chui ra. Tôi bước tới, ấp úng cúi đầu chào :

    - Thưa ông, có phải ông là thi sĩ Nguyễn-Bính hay không ? Nghe ông đến đây, tôi đã tìm suốt tuần nay mới gặp.
  • Đang tải...