0077.00002_windyclover (type done) + kimngan_810 (soát xong)

28/4/16
0077.00002_windyclover (type done) + kimngan_810 (soát xong)
  • Tuy nhiên, những sự dằng co về ý thức rất phức tạp. Nhất là về mặt tình cảm và phong tục khi đã tiêm nhiễm vào đầu óc con người, thì nhất đán không thể cởi bỏ dứt khoát. Phong trào đổi mới càng mạnh bao nhiêu thì sức phản ứng tăng gia bấy nhiêu. Những bài chỉ trích thơ mới không vì thế mà buông lơi nhịp công kích đều đều của nó.

    Ngoài Bắc thì có ông Chất-Hằng dùng tờ Văn học tạp chí làm cơ quan bài bác thơ mới. Trong Nam, ông Tùng-Lâm Lê Cương Phụng dùng tờ Văn học tuần san chửi thơ mới quyết liệt.

    Theo ông Tùng-Lâm thì lịch sử văn chương từ chỗ phôi thai tiến đến chỗ chặt chẽ, cũng như xã hội loài người, từ chỗ phôi thai tiến đến chỗ có tổ chức trật tự, tạo thành một nếp sống chung. Xã hội loài người từ chỗ rời rạc đi đến chỗ kết đoàn, tổ chức xã hội, đặt ra pháp luật, bảo vệ luật pháp và điều hành cuộc sống.

    Còn văn chương từ chỗ phôi thai tiến dần đến chỗ có quy tắc, có luật lệ mỗi ngày một phong phú và chặt chẽ hơn. Như vậy luật lệ trong văn chương là yếu tố minh định sự tiến bộ lọc lừa trải qua thời gian, vượt từng thế hệ. Luật lệ không phải là ràng buộc mà chính là “vật dụng” lừa lọc, đào thải những cái xấu, cái dở, đưa văn chương dần dần đến chỗ tinh vi. Ông còn xác định vị trí thi ca trong lãnh vực nghệ thuật, sánh với điệu đàn, bức họa. Đã là nghệ thuật, dĩ nhiên phải là một công trình đòi hỏi ở công phu, thế thì cái công phu đẽo gọt, tô điểm là việc làm cần thiết của một nghệ sĩ, không thể gọi là gò bó được. Mỉa mai nhất, là ông khinh thường lớp người mới, ông liệt họ vào hạng phàm phu tục tử mà đòi thưởng thức thú tiêu dao. Ông còn chê “bọn thơ mới” là dốt, không hiểu ý vị thơ cũ. Ông đòi “căng nọc” ra đánh như các cụ đồ nho đánh học trò.

    Trong cuộc tranh luận, các nhà văn trẻ ranh mãnh, hiểm hóc, thì ông Tùng-Lâm hằn học một cách đạo mạo của người đàn anh.

    Để đương đầu với ông Tùng-Lâm, tờ Phong hóa số 148 (10-5-1935) đưa tập thơ Những bông hoa trái mùa của hai thi nhân phái cũ lên bàn mổ, Lê-Ta đóng vai bác sĩ mổ xẻ tập thơ này với dụng ý bài kích thơ cũ sáo ngữ. Đây là một “đòn trả” khi ông Tùng-Lâm lên vai ông đồ đòi căng nọc lớp người trẻ ra giảng dạy, chê lớp tân thi nhân là dốt, thì nay Lê-Ta chê lớp ngừoi cũ là “nhai lại”, chỉ giỏi nghề “xào nấu”.

    Đáp lại bài phê bình của Lê-Ta, ông Thiết-Diện lên tiếng ày tỏ thái độ ác cảm trong bài Quan niệm của tôi đối với thơ mới ở báo Văn học tuần san số 8 (15-8-1935). Thiết-Diện cực lực chê trách thơ mới, coi nó chỉ là thứ đồ rác rưởi, trò múa may quay cuồng của bọn người ngu dốt, có khác nào bọn du đảng ăn mặc rằn ri, bọn lẳng lơ đi giày cao gót. Theo ông, đã gọi là thơ mới thì phải đỏi mới như thơ của Hồ-Thích bên Tàu, chứ chỉ đổi mới bằng cách đem tâm hồn ủy mị, tính chất bạc nhược, tinh thần thua trận, lo cho cá nhân, xa rời đại chúng thì sự đổi mới ấy chẳng ích gì.

    Trong lúc phái thơ mới cho thơ cũ là sáo, là “nhai lại”, là bắt chước điển tích xưa, thì ông Thiết-Diện “tố” ngược lại thơ mới. Trước kia chê rằng thơ cũ mang tính chất thương mây khóc gió, khép mình trong cái bi ai sầu não, xem thơ cũ như là chỗ chứa nước mắt, chứa buồn thảm, thì nay, đối với Thiết-Diện, thơ mới vẫn với giọng điệu ấy, mặc dù không bắt chước tiếng khóc cũ, nhưng lại cũng rên rỉ cho duyên phận, cho ái tình, cho biệt ly, cho đau khổ. Chê người ta than thở, buồn bực, rồi mình lại khóc lóc thảm sầu, theo ông Thiết-Diện, không có gì mới cả.

    Đầu năm 1936, cuộc diện còn trong vòng tranh luận sôi nổi; với một ngón đòn chiến tranh cân não, ông Lê Tràng Kiều kiểm điểm thành tích thơ mới trưởng thành trong phong ba bão táp. Ông ví ba năm va chạm thi ca trong giai đoạn 1932-1936 dài như một thế kỷ. Trên Hà-nội báo số 14 (8-4-1936), ông viết bài chúc mừng chiến thắng của thơ mới, ông bảo: “Từ bao giờ đến bây giờ, người ta đã có mấy lần một tâm hồn hùng tráng như Huy-Thông, dồi dào như Thế-Lữ, huyền diệu như Thái-Can, âm thầm như Đông-Hồ, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, mơ màng như Leiba, buồn não như Nguyễn-Vỹ, và, một tâm hồn đầy nhạc, đầy mộng ảnh như Lưu Trọng Lư.”

    Rồi ông Lê Tràng Kiều trưng ra một loạt thi nhân mới với những sáng tác của họ như những “chiến lợi phẩm”.

    Thực ra, ý kiến của Lê Tràng Kiều không có gì mới mẻ, cái dí dỏm chỉ ở chỗ ông “dàn trận” theo một phương pháp khác biệt mà thôi.

    Theo sau loạt bài của Lê Tràng Kiều, phái thơ cũ đưa ra ông Đẩu –Tiếp ứng chiến bằng một loạt bài như muốn kết thúc.

    Sau loạt bài của Lê Tràng Kiều bênh vực phái thơ mới và Đẩu-Tiếp bênh vực phái thơ cũ, hình như hai bên bắt đầu thu dọn chiến trường. Cuộc bút chiến dịu dần.

    *

    Xưa nay không cuộc chiến tranh nào không có kết thúc. Nhưng, mọi kết thúc không nhất thiết phải giống nhau. Có những cuộc chiến tranh khi chấm dứt hai bên còn nuôi hận. Có những cuộc chiến tranh tàn phai trong bẽ bàng, im lặng. Có những cuộc chiến tranh chấm dứt bằng tang tóc đau thương.

    Cuộc bút chiến giữa hai nền thơ cũ, mới ở Việt-nam thoát ra ngoài công lệ ấy. Nó kết thúc bằng tình tha thiết của dân tộc, bằng tình thương của lớp người giữa hai thế hệ, bằng nguồn thông cảm của những đứa con cùng chung bầu sữa mẹ.

    Hỡi bà Mẹ Việt-nam! Máu huyết của Mẹ đang chuyển vào động mạch, chảy rần rật trong cơ thể đàn con. Bầu sữa Mẹ đã trút ra rất nhiều, vun quén mầm non đất nước. Dòng máu áy, giọt sữa ấy là nguồn sinh lực, là động cơ thúc đẩy từng thế hệ đứng lên, chịu trách nhiệm trước lịch sử, vun bồi cho danh dự của non sông, cho uy linh của dân tộc.

    Nếu có gì bất bình thoáng qua, chính là cử chỉ vươn lên của lớp người trẻ từ chối nuông chiều, gạt bỏ tình quyến luyến của lớp người già nua để đi tìm nghĩa vụ.

    Mọi cuộc phân ly không cuộc phân ly nào khỏi gieo sầu. Nhưng rồi ai cũng phải hài lòng với trách nhiệm. Và khi đã xa cách nhau rồi, tình thương càng nhiều, nhớ mong càng nặng.

    Cuộc bút chiến về thơ cũ, thơ mới, chính lớp người trẻ đã thắng cuọc hoàn toàn. Cái lâu đài cổ kính mấy ngàn năm kia lần lần coi như một ngôi cổ mộ, chôn chặt những công trình kiến trúc xa xưa, mà lớp người trẻ nhìn lại với con mắt kính yêu, nhưng không muốn trở về ở đó nữa.

    Cái lâu đài cổ kính ấy là nền thi ca cũ vậy.

    Nhưng khi đã đi tìm được một mảnh đất mới, dựng một ngôi nhà mới rồi, tự nhiên lớp người trẻ như thấy có cái gì ân hận, nhớ thương. Họ không còn muốn có sự ngăn cách nữa. Họ không muốn nói đến danh từ thơ mới, thơ cũ nữa, mà chỉ có “thơ” mà thôi.

    Nếu từ năm 1933 đến năm 1936 là những năm tranh đấu quyết liệt giữa hai ý thức thơ cũ, thơ mới, thì qua năm 1937 chúng ta không còn thấy một bài tranh luận nào trên báo chí nữa, mà thay vào đó bằng những bài hàn gắn tình thương.

    Trước tiên, ta đi vào tâm trạng phái cựu học.

    Phái cựu học bây giờ đã thấy được đà tiến của bánh xe xã hội, không còn có thể giữ lại được nữa. Nho học phải nhường lại cho Tây-học. Ha nói cách khác, thế hệ già nưa phải bàn giao sự nghiệp tinh thần cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, nỗi lòng của phái cựu học băn khoăn không ít. Chính họ thấy trong ngôi nhà cổ kính sắp sụp đổ kia có nhiều ngọc quí, nhiều báu vật, nếu bỏ đi rất uống. Họ sợ lớp người sau, con em của họ, của thế hệ trẻ, không sao biết đến. Thừa hưởng một gia tài văn học ngàn năm, lúc chết đi có lẽ không có một tờ di chúc?

    Ước vọng của họ là làm sao gởi gắm vào lớp người trẻ tiếng nói cuối cùng của họ, chỉ cho lớp người trẻ biết trong ngôi nhà sắp sụp đổ mà họ đã sống qua có cái gì quí, cái gì xấu, cái gì nên, cái gì hư. Như vậy họ mới tròn trách nhiệm đối với tiền nhân.

    Trong số người thiết tha với sự nghiệp Nho học, chúng ta có thể kể như: Phan Kế Bính, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Trọng Kim... Nhưng người đã có tiếng nói làm ta cảm động nhất là Trần Trọng Kim. Ông đã ký thác lời cuối cùng vào quyển Nho giáo. Nó là một “bản di chúc”, là một “của tin”, là những gì của lớp cựu học muốn gởi lại.

    Lời của ông Trần Trọng Kim thật thiết tha và đầy tâm huyết! Tiếng nói cuối cùng của phái cựu học chẳng những chứa đựng một tình thương nồng nàn đối với lớp người trẻ, mà còn tỏ ra những lo lắng cho tiền đồ văn học.

    Cái gì sắp mất thì tinh thần lưu luyến càng tăng. Có xa nhau mới thấy cái buồn ly biệt.

    Có lẽ sự ưu ái của lớp người cựu học đã gieo vào lớp tân học một vết thương lòng, mà bổn phận họ phải hàn gắn vết thương ấy.

    Phải! Không có gì thiêng liêng bằng tình dân tộc. Xóa bỏ mọi khuôn phép ràng buộc của gia đình, không có nghĩa là bỏ tình ruột thịt. Từ chối một nền văn minh lỗi thời không có nghĩa là tách rời tình dân tộc.

    Và lớp người trẻ đã tự nhận trách nhiệm mình như thế.

    Việc làm của họ là trở lại tình cảm lúc đầu. Trước kia, phái thơ mới đưa Tản-Đà ra làm tiêu biểu cho phái thơ cũ, đổ xô vào mạt sát, châm biếm, thì từ băm 1938 trở đi, Tản-Đà được coi như vị thánh sống của làng thơ. Họ chia nhau viết về Tản-Đà , ca tụng thơ của Tản-Đà.

    Nhóm Tự lực văn đoàn :

    - Văn-Bình viết: Thi sĩ Tản-Đà (Ngày nay só 147, ngày 29-1-1939)

    - Xuân-Diệu viết: Công của thi sĩ Tản-Đà (Ngày nay, số 166 ngày 17-6-1939)

    - Khái-Hưng viết: Một tháng với Tản-Đà (Ngày nay số 171 ngày 22-7-1939) và Cái duyên của Tản-Đà (Ngày nay số 166 ngày 17-6-1939).

    Báo Tao đàn số đặc biệt ra mắt Tản-Đà (số 9 ngày 1-7-1939) gồm có các bài:

    - Lưu Trọng Lư viết: Bây giờ đây, khi nắp quan tài đã đậy lại.

    - Trương-Tửu viết: Sự thai nghén một thiên tài.

    - Nguyễn-Tuân viết: Chén rượu vĩnh biệt.

    - Nguyễn Triệu Luật viết: Ảnh hưởng Tản-Đà đối với nhà văn lớp sau.

    - Trúc-Khê viết: Tản-Đà triết học.

    - Xuân Diệu viết: Một vài kỷ niệm về yêu thơ Tản-Đà.

    - Nguyễn Xuân Huy viết: Tản-Đà dịch văn.

    - Nguyễn-Tuân viết: Tản-Đà một kiếm khách.

    - Nguyễn Công Hoan viết: Ông Tản-Đà đi làm việc để tái bản An-nam tạp chí.

    - Ngô Tất Tố viết: Tản-Đà ở Nam-kỳ.

    - Nguyễn Nhất-Lang viết: Tản-Đà tửu điếm.

    - Nguyễn Công Hoan viết: Ông soát vé xe lửa với thi sĩ Tản-Đà.

    - Lê-Thanh viết: Mộng và mộng.

    *

    Sau cơn bồng bột của lớp người trẻ, họ đã dùng mọi biện pháp phũ phàng, cố thực hiện khát vọng của thế hệ đang nảy mầm, của lòng giục giã đổi mới. Họ đã chà đạp lên tình thương, đập đổ gia sản phụ ấm để tranh đoạt chiến thắng ý thức cho kỳ được. Và ngày nay họ đã thắng. Nhìn lại dấu vết đổ nát hoang tàn của rhế hệ cũ đã thảm bại, lòng họ bùi ngùi, hối hận; cái phần thiêng liêng của con người được khơi động. Nó sống sót một cách đáng thương. nó khuyên nhủ, vỗ về. Tiếng nói của nó thiết tha, êm đềm, đủ khả năng làm dịu lòng người, chiếm được tình cảm, xóa tan mọi hờn giận oán ghét, hàn gắn cách ngăn, gây lại tình thương yêu dân tộc.

    - Nó là gì ?

    - Là cái lương tâm thức tỉnh của lớp người trẻ vậy ! (1)



    Sa-Đéc, July 3, 2015


    (1) Muốn hiểu rõ chi tiết sự diễn biến thi ca, xin các bạn hãy đọc quyển Khuynh hướng thi ca tiền chiến.



    ____________

    TẢN-ĐÀ

    NGUYỄN KHẮC HIẾU

    1888 – 1939

    ______________


    [​IMG]


    ẢN – Đ À là biệt hiệu (tên ghép của núi Tản và sông Đà), tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh năm 1888 tại làng Khê-thượng, huyện Bất-bạt, tỉnh Sơn-tây (Bắc-phần). Thân phụ là cụ Nguyễn Danh Kế, thân mẫu là một ả đào hát hay, thơ giỏi, thường gọi là Phủ Ba.

    Tản-Đà là con dòng thứ. Ông có hai người ah cùng cha khác mẹ là Nguyễn Tài Tích và Nguyễn Cồn; ngoài ra, còn người anh cùng mẹ là Nguyễn Mạn.

    Thuở nhỏ ông theo học Hán văn, sau nhờ người anh cả là Phó-bảng Nguyễn Tài Tích làm Đốc-học, hết lòng chỉ dẫn nên ông nổi tiếng văn hay chữ tốt. Ngay lúc còn học ở trường Quy-thức ông nổi danh với bài Âu Á nhị châu hiện thế, được các báo Trung-hoa ở Hương-cảng đăng trong mục xã thuyết.

    Năm 1909, ông bị hỏng ở khoa thi Hương (Kỷ-dậu).

    Năm 1913, ông yêu cô gái bán sách họ Đỗ ở phố Hàng Bồ. Tản-Đà chiều theo ý muốn của nàng đã phải dùng bằng Ấm-sinh để thi Hậu-bổ, nhưng bị rớt vấn đáp. Mùa thu năm ấy, ông thi Hương lại hỏng luôn. Mối tình vì đó mà tan vỡ; nàng đi lấy chồng; Tản-Đà đành ôm khối tình tuyệt vọng từ đây.

    Sau khi ông anh cả Nguyễn Tài Tích mất, Tản-Đà ra làm báo. Vừa viết cho Đông-dương tạp chí của ông Nguyễn Văn Vĩnh (1913), vừa viết cho Nam phong thì bị ông Phạm Quỳnh vì muốn tranh thời danh mà thằng tay mạt sát quyển Giấc mộng con nên không hợp tác được. Ra làm chủ bút tạp chí Hữu thanh (1921); nhưng vốn là nhà thơ, không quen nghề làm báo nên không bao lâu Hữu thanh đình bản. Ông lập Tản-Đà thư cục, rồi cho ra An-nam tạp chí (1926); nhưng cũng đình bản. Tản-Đà vào Gia-định (Nam-phần) ở tại Xóm Gà viết cho báo Thần chung và Đông Pháp thời báo của ông Diệp Văn Kỳ. Nhưng rồi ông lại ra Bắc tái bản An-nam tạp chí. Tờ báo này lại chết làm tan vỡ cái mộng “bồi lại bức dư đồ” của Tản-Đà. Ông đành quay về dịch thơ Đường cho báo Ngày nay, chú thích truyện Kiều, dịch Liêu trai chí dị cho nhà xuất bản Tân Dân.

    Tác phẩm của ông suốt 25 năm trong nghề văn, nghề báo gồm có:

    Tiểu thuyết: Thề non nước, Trần ai tri kỷ (truyện ngắn, 1932), Giấc mộng lớn, Giấc mộng con 1 (1916), Giấc mộng con 2 (1932).

    Luận thuyết: Tản-Đà tùng văn (bản chính, bản phụ), Tản-Đà văn tập (hai quyển gồm những bài viết ở Đông phương tạp chí in thành sách 1932). Tản-Đà xuân sắc (1934), Khối tình (1918).

    Giáo khoa: Lên sáu, Lên tám, Đài gương truyện, Quốc sử huấn mông, Đàn bà Tàu (trích dịch liệt nữ truyện).

    Dịch thuật: Đại học, Đường thi, Liêu trai chí dị (40 truyện).

    Tuồng chèo: Tây-Thi, Tỳ-bà hành, Lưu Nguyện nhập Thiên-thai.

    Đến năm 1939, Tản-Đà qua đời tại số 71 Ngã tư Sở, ngày 20 tháng 4 năm Kỷ-mão Âm-lịch, nhằm ngày 7 tháng 5 năm 1939 tại Hà-nội.




    [​IMG]

    em đặt Tản-Đà lên hàng đầu chiếc chiếu thi đàn Việt-nam ở giai đoạn tiền chiến mở màn cho kỷ nguyên thi ca mới, có lẽ các bạn sẽ gợn lên một thoáng ngạc nhiên, nhưng rồi sự cảm xúc ấy sẽ lắng dịu ngay khi chúng ta hiểu rằng Tản-Đà là một hồn thơ cũ đã sớm cảm thông hồn thơ mới của lớp người trẻ; thi nhân đã đóng vai trò của nhịp cầu nối liền hai thế hệ tân và cựu.

    Sau khi thực dân chiếm xong giải đất này, đặt ngay guồng máy cai trị, nhột chặt muôn triệu linh hồn Việt-nam, tuy chậm tiến trước sức mạnh vũ bão của cơ giới văn minh, nhưng vẫn là những tâm hồn khao khát cái cao rộng của trời xanh. Tản-Đà tuy không phải là chiến sĩ tích cực giải phá lao lung, nhưng cũng phát lộ được ý chí “bồi lại bức dư đồ”, giãi tỏ nỗi niềm ưu ái đối với quốc gia, dân tộc.

    Tiếp đấy là một cuộc tấn công mới của thực dân trên địa hạt văn hóa; họ đem cái học thuật Tây-phương gieo rắc sự hiểu biết cần thiết của một trách vụ phục dịch để củng cố thế đứng vững chắc trên thực dân địa; tuy nhiên nó cũng có khả năng tiêu hủy căn bản văn hóa cổ truyền của một dân tộc nhỏ bé. Đó là hồi chuông gióng lên báo hiệu sự bắt đầu suy tàn của nền học cũ. Hồn thể của Tản-Đà đã hấp thụ thâm đậm nền Nho-học Đông-hương, những mong đem sự hiểu biết của mình để thi thố với đời. Nào ngờ, ngọn gió văn minh Tây-phương thổi đùa cái căn bản tri thức của Tản-Đà tan như khói tỏa, cho nên Tản-Đà đã buồn đau khi phải chứng kiến sự thoái vị của nền cựu học.

    Như để cứu vãng một thân bị lỡ làng, Tản-Đà đã không bắt chước các cụ thời xưa thường hay rút về an hưởng cảnh nhàn khi chán ngán một thực tế đắng cay, hoặc lấy tay bưng bít việc đời mặc kệ sự giả dối, lật lọng, phản trắc cứ tiếp diễn; Tản-Đà khác hơn, đã thả hồn mình trong “giấc mộng con”, “giấc mộng lớn”, làm một cuộc viễn du vòng quanh thế giới như cố tìm hiểu tận cội rễ cái mới mẻ của nền tân học. Sau đấy, ta thấy Tản-Đà như làm cuộc cách mạng trong tâm hồn, tư tưởng liền biến đổi, thu được khoảng cách trước bước tiến của lớp trẻ; tiếng lòng của thi nhân được diễn đạt thành tiếng tơ réo rắt giữa cái tân kỳ của lớp người mới mà ta không cảm mấy bị lỗi nhịp hoặc sượng sùng; vì lúc bấy giờ Tản-Đà đã trang bị cho mình những gì cần thiết trong cuộc hòa nhạc. Cũng có cái lãng mạn của J.Leiba hay Hồ Dzếnh sau khi bị “tiếng sét ái tình” của người con gái họ Đỗ; cũng có cái mộng mơ hư thực của Lưu Trọng Lư, Thế-Lữ; cũng có nỗi niềm tha thiết với quê hương trong mấy vần thơ của Thâm-Tâm, Trần Huyền Trânl lại có cả cái say sưa của Vũ Hoàng Chương; Tản-Đà còn vượt bực hơn thi nhân trẻ ở cái ngôn. Một cái ngông mà Trời còn chạy mặt; nó đã trở thành một bản án của vị trích tiên Tản-Đà còn ghi rành rành trong quyển sổ Thiên-tào:

    Bẩm quả có tên “Nguyễn khắc Hiếu”

    Đày xuống hạ giới về tội ngông.

    (Hầu Trời)

    Bây giờ ta thử lược qua khái quát những dòng tư tưởng của Tản-Đà.

    Trước nhất, hãy nói đến khuynh hướng lãng mạn. Sau khi bị tan vỡ mộng tình cùng nàng Đỗ thị, Tản-Đà đã dành cho tình yêu chiếm một chỗ quan trọng trong thi ca. Từ thuở ban sơ khi tim tình bắt đầu rung động, thi nhân tự hỏi:

    Quái lạ vì sao cứ nhớ nhau?

    Nhớ nhau đăng đằng suốt đêm thâu.

    Bốn phương mây nước người đôi ngả,

    Hai gánh tương tư một gánh sầu.

    Nhịp lòng dậy lên niềm thổn thức khi thẫn thờ cô độc đứng dưới ánh trăng suông, thảng thốt thi nhân kêu lên như than thở:

    Mình ơi có nhớ ta chăng?

    Nhớ mình đứng tựa ánh trăng ta sầu.

    Nhớ thì vẫn nhớ đấy, nhưng từ lúc chàng trượt kỳ thi Hậu-bổ, rồi lại thi Hương lần nhì hỏng nốt, con chim hồng của thi nhân vội tung cánh tuyệt mù, để lại một tâm hồn sầu tủi lỡ dở bước đường mâu, tan rã giấc mộng tình. Ta hãy nghe thi hân kêu đau trong những vần thơ nhẹ nhàng, gợi cảm:

    Duyên hồ thắm bỗng dưng phai lạt,

    Mối tơ vương đứt nát tan tành,

    Tấm riêng, riêng những thẹn mình,

    Giữa đường buông đứt gánh tình như không !

    *

    Ái ân thôi có ngần này,

    Thề nguyền non nước đợi ngày tái sinh...

    Thực tế quá đắng cay, chua chát ! Thi nhân xoay đường tình vào cõi mộng. Một “giấc mộng con” cũng đã làm thỏa mãn yêu đương còn hơn mười năm nuôi dưỡng ái tình cùng người đẹp. Tản-Đà đã đem thực tế và cõi mộng ra so sánh:

    Nhớ mộng


    Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi,

    Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi.

    Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng,

    Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời.

    Những lúc canh gà ba cốc rượu,

    Vài khi cánh điệp bốn phương trời.

    Tìm đâu cho thấy người trong mộng,

    Mộng cũ mê đường biết hỏi ai?

    (Giấc mộng con)

    Thất bại đường tình ở hiện thực, thi nhân xây giấc mộng tình cùng người con gái ở tận trời Tây, nàng Chu Kiều-Oanh, - phải chăng là hình ảnh nàng Đỗ thị ? – Ở Giấc mộng con, chúng ta còn thấy bóng dáng người con gái mến yêu; đến bài Tống biệt, tình ái của thi nhân lờ mờ trong sương phủ. Hãy đọc:

    Tống biệt

    Lá đài rơi rắc lối Thiên-thai,

    Suối tiễn oanh đưa những ngậm ngùi.

    Nửa năm tiên cảnh,

    Một bước trần ai.

    Ước cũ duyên thừa, có thế thôi !

    Đá mòn, rêu nhạt,

    Nước chảy, huê trôi,

    Cái hạc bay lên vút tận trời !

    Trời đất từ nay xa cách mãi.

    Cửa động,

    Đầu non,

    Đường lối cũ,

    Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.

    *

    Bàn đến tinh thần ái quốc, chúng ta thấy bộc lộ sự bất mãn (1) ngay từ khi Tản-Đà va chạm phải cái thôi nát của đám quan lại ở chốn trường thi; chỉ vì tin ở tài bộ

    1) Sau khi bị thi trượt, Tản-Đà nhận định chua chát: “Các sự bẩn trong đời không có cái gì bẩn bằng văn sách hỏi mẹo.”


    có thừa mà không chịu uốn mình theo khuôn phép nên bị đánh hỏng. Đã đau lòng trước cảnh nước nhà gặp bước suy vong lụn bại trong vòng kiềm tỏa, cương thường đạo nghĩa nghìn xưa đảo lộn, lại thêm bọn sâu dân mọt nước tiếp tay với thực dân đục khoét mảnh giang san ra tơi tả, đau thương, thi nhân đã bày tỏ ý gì trong bài:

    Vịnh bức dư đồ rách

    Nọ bức dư đồ thử đứng coi,

    Sông sông núi núi khéo bia cười.

    Biết bao lúc mới công vờn vẽ,

    Sao đến bây giờ rách tả tơi ?

    Ấy trước ông cha mua để lại,

    Mà sau con cháu lấy làm chơi !

    Thôi thôi có trách chi đàn trẻ,

    Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi !

    Tình yêu nước của Tản-Đà nhẹ nhàng, loáng thoáng. Sau khi người anh cả chết, ông nhất quyết ra làm báo vì nghĩ rằng đấy là phương tieẹn để ông dùng ngòi bút – khí giới muôn đời của kẻ sĩ – đóng góp với non sông. Tản-Đà đã lập chí như thế nào ? Ta hãy nghe:

    Phận nam nhi tang bồng là chí,

    Chữ trượng phu ý khí nhường ai.

    Non sông thề với hai vai,

    Quyết đem bút sắt mà mài lòng son.

    Giá lúc bấy giờ lòng ông đen tối, ham chạy theo bả lợi danh, chỉ cần đồng ý với thực dân Vayrac, ra làm quan thì thoát ngay cảnh nghèo dễ như bỡn. Nhưng không, lòng ông đã nặng thề cùng non nước:

    Thề non nước

    Nước non nặng một lời thề,

    Nước đi đi mãi không về cùng non.

    Nhớ lời “nguyện nước thề non”,

    Nước đi chưa lại non còn đứng không.

    Non cao những ngóng cùng trông,

    Suôi khô dòng lệ chờ mong tháng ngày.

    Xương mai một nắm hao gầy,

    Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.

    Trời Tây ngả bóng tà dương,

    Càng phơi vẻ ngọc, nét vàng phôi pha.

    Non cao tuổi vẫn chưa già,

    Non thời nhớ nước, nước mà quên non.

    Dù cho sông cạn đá mòn,

    Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa.

    Non xanh đã biết hay chưa ?

    Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.

    Nước non hội ngộ còn luôn,

    Bảo cho non chớ có buồn làm chi.

    Nước kia dù hãy còn đi,

    Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.

    Nghìn năm giao ước kết đôi,

    Non non, nước nước không nguôi lời thề.

    *

    Say và Ngông của Tản-Đà phải đi đôi. Nó là trạng thái tất nhiên của một tâm hồn kết tụ bởi buồn, chán và bực tức. Buồn cho ái tình dở lỡ, bẽ bàng; chán cho tình đời đen bạc, thêm nghĩ mình sinh bất phùng thời, mang một kiếp tài hoa mà chẳng có đất thi thố để cho phường vô tài thiếu đức múa rối trên tấn kịch xã hội. Tản-Đà mới mượn câu thơ chung rượu khỏa lấp sầu tư để quên sự đời, quên cái thân hình phù du của con người. Tản-Đà vẫn biết “say sưa là hư đời”, nhưng trong cái đau nhừ của thể xác thi nhân đã tìm được đôi khắc sung sướng ở tâm hồn. Nhiệt độ của men rượu quả có năng hiệu đốt cháy mọi phiền não của tâm cơ, nâng đẩy hình dài thóa khỏi thực tại chua chát, hồn phách bỗng trở nhẹ lâng lâng.

    Ta hãy đọc những vần dưới đây để biết tại sao Tản-Đà cần phải say:

    Lại say

    Say sưa nghĩ cũng hư đời,

    Hư thì hư vây, say thì cứ say.

    Đất say đất cũng lăn quay,

    Trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười ?

    Say chẳng biết phen nầy là mấy,

    Nhìn non xanh chẳng thấy lại là say.

    Quái ! Say sao ? Say mãi thế nầy ?

    Sau suốt cả đêm ngày như bất tỉnh,

    Thê ngôn túy tửu chân vô ích.

    Ngã dục tiêu sầu thả tự do.

    Việc trần ai, ai tỉnh, ai lo,

    Say lúy túy nhỏ to đều bất kể,

    Trời đấy nhỉ ! Cái say là sướng thế !

    Vợ khuyên chồng, ai dễ đã chừa ngay,

    Muốn say lại cứ mà say.

    Từ say đến ngông chỉ là một bước lân cận. Nếu tình yêu đã choán nhiều chỗ trong tác phẩm của ông, thì tánh ngông cũng không chịu kém. Có người viết về cái ngông của Tản-Đà như sau:

    “Nếu đọc thơ Tản-Đà trên mọi khía cạnh mà không đọc những bài thơ cũng như những đoạn văn về ngông của ông thì thật là một lỗi lầm rất lớn và có thể cho rằng như vậy chính là chưa đọc hết thơ của Tản-Đà !”

    Nếu ở mười tám năm trước đây, một Trần Tế Xương suốt đời phải lận đận lao đao vì khoa cử công danh mà nảy ra tư tưởng chán đời đến độ bất cần sự đời, đâm ra lêu lổng ăn chơi, nổi tiếng là:

    “Vị-xuyên có bác Tú Xương,

    Quanh năm ăn quỵt, chơi lường mà thôi.”

    hay:

    “Một ngọn đèn xanh, một quyển vàng,

    Bốn con làm lính, bố làm quan.

    Quạt nước chưa xong con nhảy ngược;

    Trống chầu chưa dứt, bố leo thang.”

    Thật là ngông không ai hơn.

    Thế rồi chẳng bao lâu, nhà thơ Tản-Đà lại tiếp tục sự nghiệp ngông ấy. Cái ngông trong thơ Tản-Đà gần như là một vấn đề phải có đối với ông, vì nó đã phản ảnh được cá tính cũng như cuộc sống lúc bấy giờ của tác giả.

    Như mọi người đều biết, Tản-Đà làm văn-nghệ nhưng suốt đời vẫn sống trong cảnh túng thiếu, nghèo nàn không thua gì ông tú làng Vị-xuyên, nghèo đến nước:

    “Ôi trời ! ôi đất ! ôi lễ tết !

    Tháng cận năm cùng, gạo cũng hết.”

    (Than tết)

    hay:

    “Tết đến năm nay nghĩ cũng buồn,

    Tiền thì không có, nợ đòi luôn.”

    (Tết than việc nhà)

    Với cảnh nhà cùng quẫn, tiền bạc không có, vay trước trả sau, Tản-Đà quá chán chường cuộc sống, nảy sinh tư tưởng bất cần đời, vì ông tin rằng “bôn ba chẳng qua thời vận” rồi ông đâm ra liều lĩnh, ăn chơi cho thỏa thích, mặc đến đâu thì đến. Làm văn chương chẳng cần mực thước, vui thì làm, buồn thì nghỉ. Những điều vừa nói, ta thấy tâm trạng của thi nhân qua bài Còn chơi, tiêu biểu khuynh-hướng ngông của tác giả:

    Còn chơi

    Ai đã hay đâu tớ chán đồi,

    Đời chưa chán tớ, tớ còn chơi.

    Chơi cho thật chán, cho đời chán,

    Đời chán nhau rồi, tớ sẽ thôi.


    Nói thế, can gì tớ đã thôi,

    Đời đương có tớ, tớ còn chơi.

    Người ta chơi đã già đời cả,

    Như tớ năm nay mới nửa đời.


    Nửa đời chính độ tớ đương chơi,

    Chơi muốn như sao thật sướng đời.

    Người đời ai có chơi như tớ,

    Chơi cứ bằng văn mãi chửa thôi.


    Chơi văn sướng đến thế thì thôi,

    Một mảnh trăng non chiếu cõi đời.

    Văn vận nước nhà đương buổi mới,

    Như trăng mới mọc, tớ còn chơi.


    Làng văn chi thiếu khách đua chơi,

    Da díu, ai như tớ với đời.

    Tớ đã với đời dan díu mãi,

    Muốn thôi, đời cũng chửa cho thôi.


    Đời đương dan díu, chửa cho thôi,

    Tớ dám xa xôi để phụ đời.

    Vắng tớ bấy lâu, đời nhớ tớ,

    Nhớ đời, nên tớ vội ra chơi.


    Tớ hãy chơi cho quá nửa đời,

    Đời chưa quá nửa, tớ chưa thôi.

    Tớ thôi, tớ nghĩ buồn cho tớ,

    Buồn cả cho đời vắng bạn chơi.


    Nào những ai đâu, bạn của đời ?

    Sao mà bỏ vắng, ít ra chơi ?

    Chớ ai chờ mãi, ai đâu tá ?

    Hay ngán cho đời chẳng muốn chơi ?


    Nếu tớ như ai: cũng ngán đời,

    Đời thêm vắng bạn, lấy ai chơi ?

    Cuộc đời tớ nghĩ chưa nên ngán,

    Nếu ngán thời xưa tớ đã thôi.


    Tớ nhớ năm xưa nửa ngán đời,

    Nghĩ đi, nghĩ lại, lại ra chơi.

    Mê chơi cho tới thành dan díu,

    Đời dẫu cho thôi, tớ chẳng thôi.


    Nghĩ tớ bao nhiêu, lại nghĩ đời,

    Nghĩ đời như thế, dám nào thôi.

    Còn đời, còn tớ, còn chơi mãi,

    Chơi mãi cho đời có bạn chơi.


    Tớ muốn chơi cho thật mãn đời,

    Đời chưa thật mãn; tớ chưa thôi.

    Chảng hay đời tớ lâu hay chóng !

    Dù chóng hay lâu, tớ hãy chơi.


    Trăm năm, tớ độ thế mà thôi,

    Ức, triệu, nhìn năm chửa hết đời.

    Chắc có một phen đời khóc tớ.

    Đời chưa khóc tớ, tớ còn chơi.


    Trăm năm còn độ bấy nhiêu thôi,

    Ngoài cuộc trăm năm, tớ dặn đời.

    Ức, triệu, nghìn năm đời nhớ tớ.

    Tớ thôi, tớ cũng hãy cùng chơi.


    Bút đã thôi rồi, lại chửa thôi,

    Viết thêm câu nữa, hỏi đời chơi:

    “Lộng hoàn” này điệu từ đâu trước ?

    Hoa được hay không ? Tớ đố đời.

    Bất mãn với thời thế, Tản-Đà cũng như bao nhiêu người khác, những lúc quá ê chề chán nản cho cuộc sống hẩm hiu, người ta thường sống trong cõi mộng, nuôi một hy vọng ở tương lai sẽ sáng sủa, thắm tươi hơn, vì tin rằng “hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai” nên thi nhân tự hỏi: “có lẽ ta đâu mãi thế này”, bởi thế cho nên Tản-Đà mơ mộng thật nhiều, mơ mộng cuộc sống sẽ huy-hoàng, tên tuổi sẽ sáng chói, những tác phẩm sẽ bán thật nhiều để điểm tô cho cuộc đời thêm khởi sắc, đây ra hãy nghe thi nhân kể lại giấc mơ đó trong bài:

    Hầu Trời

    Đêm qua chẳng biết có hay không,

    Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.

    Thật hồn, thật phách, thật thân thể,

    Thật được lên tiên sướng lạ lùng !


    Nguyên lúc canh ba nằm một mình,

    Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh.

    Nằm buồn ngồi dậy đun nước uống,

    Uống xong ấm nước nằm ngâm văn.


    Chơi văn ngâm chán, lại chơi trăng,

    Ra sân cùng bóng đi tung tăng.

    Trên trời bỗng thấy hai cô xuống,

    Miệng cười mủm mỉm cùng nói rằng:


    “Trời nghe hạ giới ai ngâm nga,

    “Tiếng ngâm vang cả sông Ngân-hà.

    “Làm trời mất ngủ, Trời đương mắng

    “Có hay lên đọc, Trời nghe qua.”


    Ước mãi bây giờ mới gặp Tiên !

    Người Tiên nghe tiếng lại như quen

    Văn chương nào có hay cho lắm,

    Trời đã sai gọi thời phải lên.

    :rose:
  • Đang tải...