0077.00022_thaytumap (type done) + thaole92 đã soát xong

6/5/16
0077.00022_thaytumap (type done) + thaole92 đã soát xong
  • V. Gặp em giữa chiều vàng.

    Chia tay đêm ấy tan.

    Đêm tan tình chưa cạn,

    Lệ cạn em buồn than.

    VI. Em than đời em mờ,

    Vì em chỉ biết mơ.

    Mơ tan tình nhân biệt,

    Từ đấy em ngẩn ngơ.

    VII. Nhưng em, Lan-Anh ơi!

    Đời em vẫn trong ngời.

    Mặc dầu thân em đọa,

    Con thuyền giữa biển khơi.

    VIII. Vì tình rất thiêng liêng,

    Xa cao cõi mộng huyền.

    Con tim tràn máu nóng,

    Tạo được cõi thần tiên.

    IX. Nhưng em chẳng nghe anh,

    Em nghe tiếng thị thành.

    Thị thành đầy cát bụi,

    Bỏ lại, nước, trời xanh.

    X. Thế rồi buổi xuân tươi,

    Sương rơi lệ anh rơi.

    Sương rời cành liễu đón,

    Lệ anh tản giữa trời

    XI. Đồng ruộng, núi, ngàn sâu !

    Tìm em cùng phương nẻo.

    Trời tuôn giọt lệ sầu,

    Lan-Anh em ở đâu ? ? ?

    (Đồng quê)

    *

    Vàng, máu

    Nào những buổi bình minh nắng gội

    Tắm góc rừng run rẩy dưới sương mai,

    Thì giữa ngàn cây thác đổ rền tai

    Vài cô gái trần truồng bì bõm lội.


    Mấy cô đãi vàng trên dòng thác


    Giữa voi gầm, gió hú, hổ rình xa

    Và giữa ngàn linh, rừng thẳm bao la

    Đàn trăn lục luơm mồi trên nước bạc.


    Nước lay đá, hâm hùng như say phản


    Chần các cô bên mỏm đá nhám xanh,

    Đoạn cuốn lôi theo gậm núi loanh quanh

    Vung máu nhuộm hang sâu màu đỏ loãng !


    Trong lúc ấy các ngai vàng chói lọi

    Bốn phương trời rạng rỡ ánh kim thoa

    Buổi tiệc đêm trong điện các hương pha

    Nghìn thanh nữ đầy thân vầng loáng ngợi…


    Hay thiếu phụ cõng con trên lưng nặng


    Đãi cát vàng bên hóc núi cheo leo,

    Thấy vàng trôi, nàng hớn hở với theo

    Vô ý ngã, con rơi, dòng lôi thẳng.


    Nàng hốt hoảng đuổi vàng theo con dại


    Thì bên chân vàng đứng, xoáy không trôi

    Cúi lượm lên, nàng bỗng ngã : con ôi !

    Nước lùa mẹ theo con, dòng thác chảy.


    Trong lúc ấy các ngai vàng chói lọi.


    Bốn phương trời rạng rỡ ánh kim thoa

    Buổi tiệc đêm trong điện các hương pha

    Nghìn thanh nữ đầy thân vàng loáng ngợi...

    Bích-Đào Thanh-Tịnh (Đồng quê)

    (Hà-nội báo, sô 27, ngày 8-7-1936)


    *

    Vì đàn câm tiếng

    Tặng B. H.

    Réo rắt tiếng tơ đồng

    Nhẹ chuyền lớp sương đông

    Mơ màng nghe đàn gẩy

    Nữ khách khóc bên sông !


    Vì đông năm trước


    Cùng bạn họa đàn,

    Tình khách miên man

    Trên thuyền mặt nước…


    Diòng sông nặng...


    Nước buồn trôi,

    Khách lặng ngồi.


    Trên bờ vắng...


    Nhưng khách,

    bỗng buồn !

    Dòng lệ

    lại tuôn !

    Vì :

    Đàn

    Câm

    Tiếng !

    (Hà-nội báo, số 25 24-4-36)

    *

    Tình yêu

    Ai đi nghiêm khắc với tình yêu,

    Với kẻ mơ hoa mộng gió chiều,

    Ngọn gió chiều vàng lay lá rụng.

    Chiều vàng thường vắng tiếng tim kêu !


    Tình câm ai khiến gió im hơi.


    Khí lạnh sương lam tỏa mịt trời,

    Chiếc nhạn mất bầy, sương gió gọi.

    Gió ngừng, sương lạnh, bóng chim rơi !


    Tình yêu là giải áng mây bay,


    Là nước sông trôi cuộn tháng ngày,

    Mây vẫn thay hình hôn gió nhẹ.

    Nhẹ nhàng nước quyện bóng chim bay.


    Tình yêu thường với sắc thiên nhiên.


    Đào tạo ra nên cánh mộng huyền,

    Như điểm son tình cô thiếu phụ

    Uốn mình thôn nữ nét duyên tiên.


    Tình yêu thường mượn sắc hoa tươi


    Để điểm cô em mấy nụ cười,

    Mượn liễu buông mành thêm mái tóc,

    Mượn hồ thu nhuộm nét xuân tươi.


    Nhưng, thời gian xóa vết yêu thương.


    Trong quả tim tình tắm lệ sương,

    Chỉ để bên lòng hương vị cũ

    Của hồn hoa nhẹ lúc tà dương.


    Vì tình là một bóng lan man


    Theo dõi non xanh trải dặm ngàn,

    Khi ẩn bên lòng cô thiếu nữ,

    Êm đềm như mộng lúc mơ tan…


    ... Nghe lời sắc Đẹp tiếng tình kêu

    Tim rụng hôm qua, một buổi chiều,

    Một buổi chiều tàn sương lạnh nhắn :

    Ai đành nghiêm khắc với tình yêu...

    (Đồng quê)

    *

    Về quê

    Màn sương lam rây ngọc rải đồng quê

    Tắm nội cỏ ngàn cây màu trắng sữa,

    Nhà thi sĩ bơ phờ phen dặm nứa

    Theo con dường dài dặc dưới đêm trăng,

    Chàng muốn đi, đi mãi không dừng chân

    Đi vào cõi sương mờ trong đêm tối,

    Vì chàng muốn lánh tiếng thị thành xa gọi

    Và bên trời ngọn lửa Đế-thành hoe.

    Mà bao năm chàng thấy sự khắt khe

    Nằm im lịm dưới màn tơ tươi đẹp,

    Cảnh đời ấy tưởng không bao giờ có được

    Giữa cánh đồng bát ngát, dưới tre xanh

    … Đến cuối làng chàng nghe mõ cầm canh.

    Và bên xóm tiếng chuông chùa xa vẳng,

    Chàng nhẹ trút hơi thở dài lo lắng

    Như tên tù vượt ngục đến quê hương,

    Vì gióng chuông, canh vạc thoảng trong sương

    Là tiếng bạn muôn đời không biết phản

    Ai cấm chàng không sống được đời lãng mạn.

    Bên bờ hồ, giữa ruộng lúa, dưới tàn cây

    Và bên mình cô gái thơ ngây.

    (Hà-nội số 22, 3-6-36)

    *

    Tiêng gọi của đồng quê

    Đạm đạm trường giang thủy

    Du du tống khách tình

    Lạc hoa tương dữ hận

    Đáo địa nhất vô thanh.

    (Thơ xưa)

    Còn khổ gì hơn lúc xế chiều,

    Em không trông thấy bóng người yêu.

    Mơ màng em đợi tình quân gọi,

    Khắc khoải bên đồng tiếng dế kêu.


    Dế kêu ran tận chân trời


    Thương anh, em gọi nhưng lời không đi.

    Phương em đứng ngóng phương gì ?

    Mà chiều tháng trước anh đi không về.


    Mưa phùn tháng trước khắp vùng quê


    Quảy gánh em không quản nặng nề

    Đưa tận bến thuyền em trở bước,

    Đau lòng em ngắm cánh buồm lê.


    Buồm lê trắng xóa phương ngàn


    Chập chờn khi hiện khi tàng trong sương

    Thuyền anh theo nước dòng Hương

    Bơ vơ nội cỏ rừng dương, em về.


    Em về nhằm buổi tối mù đen,


    Leo lét hai bên ánh sáng đèn

    Cuối xóm em nghe chồng cợt vợ,

    Nhà em thui thủi một mình em.


    Một mình em chuyển xe tơ


    Gió lòn khe cửa em mơ anh về.

    Ngoài hiên mưa gió dầm dề

    Buồn ôm gối lạnh em kê má hồng.


    Rồi đêm ấy qua, đêm khác qua,


    Bao nhiêu đêm lặng bấy đêm mà,

    Bên thềm trăng giãi sương rơi lạnh

    Mãi nhắc em hay anh vắng nhà…

    (Hà-nội báo số 15, 15-4-35)


    *

    Nắng mai

    Ẩn mình sau ngành dương

    Trộm rây phấn vàng hương

    Mặt trời ghẹo thiếu nữ

    Thiêm thiếp trong phòng sương.


    Nắng vàng giỡn trên má


    Cô mơ tình nhân hôn

    Cặp môi từ từ rã

    Cô vui với mộng hồn.


    Giật mình nắng chói ran


    Bên hiên sáo gọi ngàn

    Cô em nghiêng mình thẹn

    Quàng chăn, ngủ vội vàng.

    (Hà-nội báo số 19, 13-5-36)

    *

    Tiếng vọng ban đêm

    Mô phỏng theo bài Tiếng thu của ông Lưu trọng Lư


    - Tôi thích nghe điệu đàn

    trong sương mờ não nuột.

    - Tôi thích nghe xào xạc

    tà áo của tình nương

    dưới ánh trăng vàng nhạt.

    — Tôi thích nghe đêm tàn

    gió lay hoa đào rụng

    con cá vàng đớp bóng

    Gương nước lạnh lùng tan.

    Thanh-Tịnh và Ng-Anh

    (Hà nội báo, sõ 16, 22 4-36)


    *

    Muôn bến

    Sóng lụa đưa thuyền đỗ bến mơ,

    Trời dồn nẻo khuất khách bơ vơ.

    Thuyền trôi muôn bến tình quay lái,

    Khách vọng chờ xa một bến bờ.


    Miệt mài thuyền chảy nối mênh mông


    Rủ nắng thu tơ dính cạnh lòng,

    Khách lặng quay nhìn muôn bến khuất

    Tiếc thầm như gió quyện trời không ?


    Thuyền trôi không bến, tiếng không vang,


    Đời chảy quen sông đỡ lạ ngàn,

    Nhưng một chiều thu thuyền bỗng đỗ

    Bên bờ sông trắng gió lan man.


    Khách ghé nhưng lòng chẳng ghé theo


    Buồn vương trong bước nước sông reo,

    Chiều đưa tiếng gọi giang hồ vẳng

    Khách trở về sông lặng thả chèo.

    (Ngày nay, số 22, 17-8-1940)

    *

    Chiều về

    Chiều về trên cỏ non thu,

    Trăng ve nắng nhạt sầu ru lá vàng.

    Hồ sâu chan chứa lệ ngàn,

    Nai con lạ núi muôn vàng bơ vơ.

    Chân mây mở rộng đợi chờ,

    Chim nương cánh gió làm thơ lạc vần.

    Một hai sao nỡ dần dần

    Ngày di lặng lẽ đêm gần gần đây,

    Bàng hoàng gió gạt hương cây,

    Đêm mung lung rộng trăng mây kín trời.

    (Ngày nay, số 22, 17-8-1940)


    Nguyễn Vỹ

    NGUYỄN VỸ sinh năm 1912 tại làng Tân-hội (sau đổi là Tân-phong, năm 1945 lại đổi là Phổ-phong), huyện Đức-phổ, tỉnh Quảng-ngãi (Trung-phần).

    Ông đã từng theo học tại trường Trung-học Pháp-Việt ở Qui-nhơn 1924-1927, rồi phải gián đoạn vì tham gia các cuộc vận động chống thực dân, sau đó ông ra Bắc theo học ban tú tài tại Hà-nội.

    Năm 1934, ông xuất bản tập thơ đầu tiên, gồm độ 30 bài thơ Việt và thơ Pháp. Từ đó ông cộng tác với các báo chính trị và văn nghệ ở Hà-nội. Năm 1937, Nguyễn Vỹ sáng lập tờ báo Việt Pháp lấy tên
    Le Cygne tức Bạch Nga. Báo này ngoài Nguyễn Vỹ còn có nhà văn tên tuổi Trương-Tửu cộng tác. Le Cygne là cơ quan cách mạng, chính trị, xã hội, văn nghệ. Trên báo này Nguyễn Vỹ có viết nhiều bài công kích Chính-phủ Bảo-hộ, chỉ trích đường lối cai trị của thực dân Pháp. Chính vì lẽ đó mà Le Cygne bị đóng cửa, rút giấy phép vĩnh viễn, Thực dân Pháp kết án ông là thành phần bất hảo, nguy hiểm cho Chính-phủ Bảo-hộ, và ghép vào tội « phá rối trị an và phá hoại nền an ninh quốc gia ». Kết quả : ông bị tòa án thực dân tuyên phạt 6 tháng tù và 3000 quan tiền phạt.

    Mãn tù, năm 1939, thế chiến thứ hai bùng nổ, Pháp thất trận, quân Nhật chiếm Việt-nam ; không thua gì Pháp, Nhật-bản đặt chế độ quân phiệt độc tài cai trị ; Nguyễn Vỹ quay lại tranh đấu chống Nhật, ông dùng ngòi bút - một khí giới muôn đời của kẻ sĩ - cho xuất bản hai quyển bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào chống chế độ quân phiệt Nhật-bản, đó là :

    - Kẻ thù là Nhật-bản.

    - Cái họa Nhật-bản.

    Lần nầy cũng như lần trước, Nguyễn Vỹ bị quân Nhật bắt giam tại ngục Trà-khê (sau này trong tạp chí
    Phổ thông bộ mới, Nguyễn Vỹ có kể lại những ngày sống trong ngục Trà-khê với tựa bài « Người tù 69 »).

    Năm 1945, thế chiến thứ hai chấm dứt, Nguyễn Vỹ ra khỏi tù, sáng lập tờ báo
    Tổ quốc tại Sài - gòn, trong ấy có những bài công kích chính quyền đương thời nên chỉ ít lâu sau báo Tổ quốc bị đóng cửa.

    Sau đấy, Nguyễn Vỹ lại cho ra đời tờ
    Dân chủ xuất bản ở Đà-lạt, chống chính bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào quân chủ lập hiến của Bảo-Đại. Sống chẳng bao lâu, báo Dân chủ cũng chung số phận với báo Tổ quốc.

    Đến năm 1952, một nhật báo khác cũng do Nguyễn Vỹ chủ trương là tờ
    Dân ta, ra đời để rồi sống chỉ được một thời gian, cuối cùng cũng bị đóng cửa như các tờ báo trước của ông.

    Mãi đến năm 1958, ông đứng ra chủ trương bán nguyệt san
    Phổ-thông, chú trọng về nghệ thuật và văn học, hiện nay tạp chí này được kể là có nhiều uy tín đối với làng báo miền Nam.

    Năm 1963, sau khi cuộc cách mạng thành công ngày 1 tháng 11 năm 1963, nhằm lật đổ chế độ gia đình trị của Ngô-đình-Diệm, Nguyễn-Vỹ được Hội-đồng Quân-nhân Cách-mạng mời tham gia Hội-đồng Nhân-sĩ Quốc-gia với tính cách trọng tài và cố vấn cho chính quyền đương thời, nhưng chỉ ít lâu sau ông rút lui. Trong khoảng thời gian này ông được phép tái bản nhật báo
    Dân ta ( bộ mới ) nhưng đến năm 1965 cũng lại bị đóng cửa và từ đó tới nay ( 1967 ) Nguyễn Vỹ chỉ còn chủ trương tạp chí Phổ-thông mà thôi.

    Vào giữa năm 1962, Nguyễn Vỹ cho xuất bản tập thơ
    Hoang vu.

    Về tác phẩm của Nguyên Vỹ gồm có :

    -
    Tập thơ đầu (cả Việt lẫn Pháp) xuất bản năm 1934 tại Hà-nội.

    - Grandeurs et servitudes de Nguyễn văn Nguyên xuất bản năm 1937, Hà-nội.

    - Đứa con hoang (tiểu thuyết) xuất bản 1937, Hà-nội.

    - Kẻ thù là Nhật-bản (biên khảo) xuất bản năm 1947, Hà-nội.

    - Cái họa Nhật-bản (biên khảo) xuất bản năm 1947, Hà-nội.

    - Devant le draine franco — vietnamien xuất bản năm1947, Sài-gòn.

    - Hai thiêng liêng (tiểu thuyết) xuất bản năm 1956, Sài-gòn.

    - Chiếc áo cưới màu hồng (tiểu thuyết) xuất bản năm 1956.

    - Giây bí rợ (tiểu thuyết) xuất bản năm 1956.

    - Hoang-vu (thơ) xuất bản năm 1962.

    - Mồ hôi nước mắt (tiểu thuyết) xuất bản năm 1966. và đang dự định xuất bản :

    - Thơ lên ruột (gồm những bài thơ trào phúng về thế sự đã đăng trên tạp chí Phổ thông và nhật báo Dân ta).

    - Lội ngược (tiểu thuyết).

    - Người tù 69 (hồi ký).

    - Tuấn, chàng trai nước Việt (biên khảo), v.v….

    Năm 1964, trong tạp chí Phổ thông, Nguyễn Vỹ mở lại mục thơ Tao đàn Bạch Nga - một lối thơ mà Nguyễn Vỹ trước đây đã bị một số người chống đối.

    Ngoài ra, Nguyễn Vỹ còn viết nhiều bài báo thuộc văn học, nghệ thuật, khoa học trên tạp chí
    Phổ thông cũng như vài báo khác ở Thủ - đô mang nhiều bút hiệu khác nhau : Diệu-Huyền, Tân-Phong, Tân-Trí.

    NGUYỄN VỸ góp mặt vào làng thơ tiền chiến từ năm 1934, thời kỳ thơ mới đang hồi phát triển mạnh mẽ.

    Trong giai đoạn này, phần đông thi sĩ thường đem khung cảnh lãng mạn vào thi ca, lấy chuyện tình ái làm đề tài, hay nói cách khác, đa số thi nhân đều lấy tình yêu làm bối cảnh và nguyên động lực chính cho đường hướng sáng tác của mình. Tuy nhiên, cũng có thi nhân hướng nẻo đi của mình về chủ đề mới lạ : một Nguyễn nhược Pháp trong sáng, dí dỏm, một Vũ đình Liên hoài vọng, tiếc thương. Cùng ngược thời gian thật xa xôi về nguyên thủy, Nguyễn nhược Pháp tự cái thuở « rừng núi còn vang um tiếng thần » ; Vũ đình Liên thuở thành quách còn kiêu hùng, vững chãi, những nếp áo chầu còn ngự trị dân gian, thi nhân tìm về để khơi ngòi lại mạch thơ cũ ; một Nguyễn-Bính len lỏi trong tâm hồn của những nàng con gái mộc mạc ở thôn quê khi đứng trước cảnh khổ đau, ngăn cách, chia ly; Bàng bá Lân, Đoàn văn Cừ, Anh-Thơ lại dẫn ta quay về nguồn cội bảo thủ những tập tục truyền thống, những cảnh trí nghìn đời của bờ tre, ruộng lúa ; hay như một Chế Lan Viên lấy cảnh đầu lâu, xương trắng, sọ người tạo ra không khí yêu ma quỉ quái để nhắc nhở cảnh điêu tàn của một dân tộc gặp phải bước suy vi, thì một Nguyễn Vỹ làm thơ với một tâm hồn phức tạp, kết tinh bằng những gì uất ức, căm hờn, chua chát... Có thể nói Nguyễn Vỹ là nhà thơ không lấy tình yêu làm đối tượng, vì thế Nguyễn Vỹ có đường nét độc đáo riêng biệt.

    Đọc Nguyễn Vỹ người ta cảm nhận điều gì mỉa mai, chua chát hơn là ca tụng cảnh trời cao, biển rộng, sông dài. Tiếng thơ của Nguyễn Vỹ là sự tức tối như muốn phá vỡ cái gì trong hiện tại đang bị dồn ép, uất ức để nói lên nỗi thống khổ của kiếp người.

    Sau tiếng gầm gừ khát máu của chiếc máy chém đã lấy đầu 13 liệt sĩ Yên-bái ngày 17-6-1930 để dập tắt phong trào cách mạng quần chúng đang quật khởi. Năm 1932, với trào lưu tư tưởng mới, tiếng ru ngủ của thần Ái-tình trong thi ca là khúc nhạc lý tưởng trong chính bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào thực dân. Chế độ kiểm duyệt lúc bấy giờ nhắm mắt trước những lời ca tụng ái tình, cho tự do phát triển cao trào lãng mạn với thâm ý làm xao nhãng tâm hồn và ý chí của dân tộc thuộc địa xa dần tư tưởng cách mạng. Phong trào khoẻ do Ducoroy chủ xướng dưới thời toàn quyền Decoux vào khoảng năm 1940-1941 là ngọn đòn bồi của thực dân cũng vì mục đích trên. Nó có tác dụng mạnh mẽ hơn súng đạn, gông cùm. Con người văn nghệ chỉ được bỏ ngõ và phải uốn mình chu tuần theo nàng Ly-tao Tình-ái, vì tiếng khua động đe đọa của máy chém, tiếng loảng xoảng của xiềng xlch như còn vang dội đâu đây. Tuy nhiên, truyền thống bất khuất của dân tộc vẫn còn ẩn náu trong tiềm thức. Khốn thay ! Sự kiểm soát chặt chẽ văn thơ của thực dân đã bịt mồm, chẹn họng những con người muốn nói, dù là tiếng nói của sự thực. Sự khủng bố tinh thần trong văn giới đã khiến nhiều hồn thơ đành chôn chặt tiếng lòng, dù cố gắng phơi bày trên trang thơ nét chữ, rốt cuộc cũng bị coi như những mảnh giấy lộn trong sọt rác như bài Hờn nam nhi của Phan khắc Khoan ; Chế Lan-Viên trá hình núp lén tiếng lòng trong cái sầu vong quốc của một dân tộc Chàm bé nhỏ ! Thế-Lữ thì vẽ lên người chinh phu trưởng giả để che đậy ; Nguyễn văn Cổn nói lên niềm yêu nước xa xôi, kín đáo trong bài Bèo mây. Nguyễn Vỹ cũng là hồn thơ nặng chất chứa, trong một lúc say, bạo gan phá vỡ cấm điều để nói lên niềm ẩn uất trong bài Gửi Trương-Tửu. Thi nhân Việt-nam của Hoài - Thanh - Hoài - Chân ở phần thi tuyển về Nguyễn Vỹ đã ghi lại thi bản này, song bị cắt xén 15 câu khiến bài thơ mất ý tưởng cốt tủy. Hôm nay, chúng tôi xin bổ khuyẽt những gì mà thực dân đã cấm Nguyễn Vỹ nói. Trong lúc say, Nguyễn Vỹ muốn:

    « Chửi Đông, chửi Tây (1), chửi tất cả.

    ..............

    Cho bõ căm hờn cái xã hội

    Mà anh thường kêu mục, nát, thối ?

    Cho người làm ruộng, kẻ làm công

    Đều được an vui hớn hở lòng ?

    Bao giờ chúng mình gạch một chữ

    Làm cho đảo điên pho Lịch-sử !

    Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa

    Hất mồ ngồi dậy cười say sưa

    Để xem hai chàng trai quắc thước

    Quét sạch quân thù trên Đất Nước ?

    Để cho toàn thể dân Việt-nam

    Đều được Tự-do muôn muôn năm ?

    Để cho muôn muôn đời dân tộc

    Hết đói rét, lầm than tang tóc ? »

    Bài Gửi Trương-Tửu còn cho chúng ta biết thực trạng của nhà văn Việt-nam vào năm 1937:

    Thời thế bây giờ vẫn thấy khó.

    Nhà văn An-nam khổ như chó.

    (1) Vì hai chữ « chửi Tây », Nguyễn Vỹ bị sở- kiểm duyệt của mật thám Pháp kêu lên hỏi : « Ông chửi Tây là chửi ai ? »

    Mỗi lần cầm bút viết ăn chương.

    Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương,

    Rồi nhìn chúng mình hì hục viẽt.

    Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết.

    Mà thương cho tôi, thương cho anh

    Đã rụng bao nhiêu mái tóc xanh.

    hoặc tỏ ra tư tưởng khinh miệt, mỉa mai, chua chát của con người bất đắc chí phải nép mình bên chiếc áo đàn bà :

    Chứ như bây giờ là trò chơi,

    Làm báo làm bung chán mớ đời !

    Anh đi che tàn một lũ ngốc,

    Triết lý còn từu, văn chương cóc !

    Còn tôi bưng thúng theo dàn bà,

    Ra chợ bán văn, ngày tháng qua !

    *


    Cho nên tôi buồn không biẽt mấy !

    Đời còn nhố nhăng ta chịu vậy !

    Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa,

    Bực chí thành say mấy cũng vừa !

    Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ !

    Chơi nước cờ cao gặp vận bĩ !

    Rồi đâm ra điên, đâm vẩn vơ,

    Rốt cuộc chỉ còn mộng với mơ !

    Sinh nhầm một giai đoạn bi thảm của quê hương, Nguyễn Vỹ đã chứng kiến bao cảnh bất công, áp bức khiến Nguyễn Vỹ đâm ra bất mãn thời thể, muốn làm một cái gì cho nhẹ bớt nỗi uất ức. Sự muốn làm của Nguyễn Vỹ tỏ ra bằng cách chống đối, và trả giá bằng những năm tù đày. Trong những ngày lao lung, Nguyễn Vỹ tạo nên những vần thơ tha thiết, chân thành của một con người khao khát ánh sáng vằng vặc của đêm trăng, thèm thuồng vùng vẫy trong khoảng không gian rộng lớn ; nhưng than ôi ! thực tế quá đắng cay :

    Tôi thằng tù như một mảnh hồn ma,

    Trong ngục thẳm nhìn qua song lưới sắt,

    Nhìn mê mải, thèm thuồng, không mỏi mắt,

    Nhìn khát khao, ngây ngất, ánh trăng say,

    Muốn phá tung cửa ngục chạy ra ngoài.

    nhưng :

    Tôi gục xuống sàn tre nằm thổn thức...

    Trăng với Chó tự do ngoài sân ngục,

    Tôi bị giam sau bốn bức tường cao !

    Ôi Tự do ! mi quý biẽt nhường nào !

    Mi là cả Trăng, Sao, Trời, Thơ, Mộng !

    Mi là những nụ cười vui để sống !

    Mi là dòng huyết thống của Thiêng-liêng !

    Có Tự do là cả Thần tiên,

    Không có nó, trần duyên là ngục thẳm !

    Tù Trà-khê say mê trong giấc dắm,

    Trên giường tù ai lệ đằm trong đêm ! ...

    Cùng với bài Sương rơi, Nguyễn Vỹ đã tạo được tiếng vang sâu rộng trong lòng người ái mộ. Là thi sĩ tiền chiến khá nổi danh, nhưng thi phẩm của ông chỉ có Tập thơ đầu (1934) và Hoang vu (1962), kỳ dư sáng tác của ông hướng mạnh về loại biên khảo, hồi ký, tiểu thuyết, v.v...

    Trong tập thơ đầu tiên, Nguyễn Vỹ có đăng vài bài theo lối 12 chân (alexandrins), một lối thơ mới trên thi đàn Việt-nam, nhưng lại là một loại thường thấy ở Tây-phương. Tuy nhiên, trừ vài bài như Gửi Trương-Tửu và Sương rơi được giới thưởng thức yêu thích, cảm quan của những người ái mộ thơ văn dường như không thích ứng với thể điệu nhiều chân như thế, nên Tập thơ đầu không được sự tiếp đón nồng nhiệt. Chính vì lẽ đó, khi Tập thơ đầu ra đời, Nguyễn Vỹ bị ông Lê-Ta (tức Thế-Lữ) và Hoài-Thanh, Hoài-chân công kích kịch liệt.

    Trong Thi nhân Việt nam, hai tác giả Hoài-Thanh — Hoài-Chân phê bình Nguyễn Vỹ một cách gắt gao như sau :
    «Nguyễn Vỹ đến giữa làng thơ với chiêng trống xập xoèng inh cả tai. Chúng ta đổ nhau ra xem. Nhưng chúng ta lại tưng hửng trở vào vì ngoài cái lối ăn mặc và những điệu bộ lố lăng, lúc đầu ta thấy con người ấy không có gì. »

    (Quí bạn hãy lưu ý câu : « ... lúc đầu ta thấy con người ấy không có gì » rồi bỏ lửng để sau này hai ông nhận chân giá trị mấy vần thơ của Nguyễn Vỹ trong bài Gửi Trương- Tửu và Sương rơi.)

    Về phần Thế-Lữ — một nhà thơ được kể là hàng thượng thặng trong thời đại thơ mới — lại phê bình mỉa mai một cách nửa nạc nửa mỡ, cho rằng Nguyễn Vỹ làm thơ là «có ý định toan loè và bịp mọi người » khi nhìn thấy dưới mắt những vần thơ 12 chân sau đây :

    Đến ngày nay cảnh non sông đã phủ mấy lớp sương mú

    Mà còn rên dưới rễ cỏ những vệt hận lồng lai láng.

    Ta hãy bựớc vào se sẽ trong cái im lặng nặng nề

    Của nấm mả, của gò cây, của đền đài lăng miếu cũ.

    Ta sẽ gõ đầu quản bút trên miếng gạch, trên cành tre.

    Gợi nỗi bi tình mênh mông của những linh hồn vô chủ.

    Ta hãy ngồi ven lạch nước đò nghe những tiẽng véo von

    Của lòng đá, của bộng cây, của những khe mồ, kẽ núi

    Mà một hơi gió thoảng qua làm gẫy nát bao điệu đờn,

    Và động lập sóng âm ba đang gợn đùa trong nắng bụi.


    (Gửi một thi sĩ của nước tôi)

    Hà-nội báo, số 23, 10-6-1936


    Trên đây là những gì phê phán về Nguyễn Vỹ, nhưng người ta đã không đi đúng đường lối của những nhà phê bình đứng đắn, từ Hoài-Thanh — Hoài-Chân cho đến Thế-Lữ (bút hiệu Lê-Ta) đều phê bình theo lối riêng của mình mà không cần biết những cái hay của người, hay nói cách khác, đó chính là lối phê bình một chiều.

    Để quí bạn ý niệm được phần nào cuộc diện diễn biến của dư luận đương thời khi xuất hiện thơ 12 chân, chúng tôi xin ghi lại sau đây trường hợp ra mắt Tập thơ đầu. Nguyễn Vỹ, như để đánh tan những thắc mắc của luồng dư luận về lời phê bình trên và gián tiếp trả lời sự hiện diện của mình trong thời đại thi ca tiền chiến, trong bán nguyệt san Phổ thông, ông trình bày tất cả sự thật như sau : Tập thơ đầu là tập thơ của ông làm mỗi khi cao hứng, trong đó gồm cả thơ Việt lẫn Pháp, với ý định thông thường là để chơi, thế thôi. Tình cờ một hôm Lưu trọng Lư, vì còn thiếu ông một số tiền mà không có để trả, họ Lưu đề nghị với ông chủ nhà in Tân Dân, chủ nhiệm Tiểu thuyết thứ bảy, cho Nguyễn Vỹ in chịu, vì Nguyễn Vỹ không có tiền. Tiền in, Nguyễn Vỹ sẽ viết bài cho Tiểu thuyết thứ bảy rồi trừ vào tiền nhuận bút. Ông chủ Vũ đình Long ưng thuận. Thế là tác phẩm Tập thơ đầu của Nguyễn Vỹ được chào đời một cách bất ngờ dưới sự bảo đảm của Lưu trọng Lư.

    Kể từ bài thơ thứ nhất của Nguyễn Vỹ mang tên Đức Thánh đồng đen (1) (tượng thánh ở chùa Trấn-quốc, Bắc phần) in trong Tập thơ đầu với thể thơ mới lạ 12 chân vừa tung ra liền bị ông Thế-Lữ công kích kịch liệt. Về hình thức, Thế-Lữ cho rằng 12 chân quá nặng nề ; về nội dung, ông đả kích Nguyễn Vỹ đã gieo vào văn thơ óc mê tín, dị đoan.

    Còn Nguyễn Vỹ lại bảo rằng, 12 chân là thể thơ dùng để mô tả những gì to lớn, vĩ đại mà thể thơ 7, 8 chữ không sao diễn tả hết ý được, chẳng hạn, với thể 12 chân, nữ sĩ Mộng-Sơn đã áp dụng vào thi bản Hai Bà Trưng để diễn tả trận chiến giữa Trưng-Trẳc và Mã-Viện ở Hồ Tây. Về nội dung, ông nói chỉ ghi lại hình ảnh nhận được khi ông đã cảm động thấy những thiện tín quì khấn nguyện dưới chân thánh tượng, đặt niềm tin vào thần lực như điểm tựa cho những linh hồn đang khổ đau, nghèo đói, lo âu về cuộc sống, về tình duyên vv... mà trong xã hội

    (1) Xin đọc tiếp quyển Khuynh hướng thi ca tiền chiến.

    đương thời chưa có biện pháp gì thỏa mãn được ước mong.

    Nói cách chung, đối với bất luận cái gì mới lạ, hiện tượng tất nhiên trọng quần chúng là thường có dư luận nghịch và thuận. Nếu Thế-Lữ, Hoài-Thanh — Hoài-Chân chê, thì cũng có Lan-Khai trong báo Đông phương, Huy-Thông trong báo L’Annạm nouveau (của ông Nguyễn văn Vĩnh) khen.

    Chúng tôi cũng xin ghi lại dưới đây một giai thoại chung quanh thơ 12 chân.

    Vào khoảng năm 1936-37, trên báo Phong hóa của ông Nguyễn tường Tam và Thế-Lữ, người ta thấy đăng một một bài thơ trào phúng nhan đề Kinh tế khủng hoảng như sau :

    Kinh tế năm nay khủng hoảng,

    Đồng tiền chạy trốn đi đâu.

    Ai ai cũng kêu túng rối,

    Nhà nghèo cho chí nhà giàu.

    … vân vân …

    dưới bài thơ ký bút hiệu tắt N V.

    Liền đấy, tòa soạn nhận, được bức thư của Nguyễn Vỹ đại ý như sau :

    « Tôi cảm ơn anh đã đăng bài thơ 12 chân của tôi trong số báo phong hóa vừa rồi. Sở dĩ tôi phải cắt ra thành 6 chân vì tôi biết khuôn khổ báo Phong hóa không thể đăng 12 chân... »

    Sau này, trong cuộc gặp gỡ Nguyễn Vỹ, Thế-Lữ có nói :

    « Tôi và anh Tam nhận thấy bài Kinh tế khủng hoảng hay mà không ngờ là thơ 12 chân và không ngờ là của anh, »

    Để quí bạn nghe thêm tiếng chuông nữa, chúng tôi xin giới thiệu lời nói quan trọng khi phong trào thơ mới đang hồi phát triển, ông Lê tràng Kiều trong Hà-nội báo số 23 ngày 10-6-1936 viết như sau :
  • Đang tải...