0077.00023_quyche (type done) + vavavoom14 (đã soát xong)

5/10/15
0077.00023_quyche (type done) + vavavoom14 (đã soát xong)
  • Nguyễn Vỹ

    Kể bây giờ mà nói đến Nguyễn Vỹ đã là chậm lắm rồi, người ta nói đến Nguyễn Vỹ nhiều lắm, nhiều quá…

    Chỉ một cái được người ta nói tới nhiều, cũng đủ vinh dự cho nhà thi sĩ, vì vô duyên nhất, đau đớn nhất cho kẻ hao tổn không biết bao tâm trí, biết bao ngày giờ để làm nên một bài thơ, in nên một cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào mà không ai nói tới. Đã đành rằng những lời nói tới đó chẳng đẹp lòng ông Nguyễn Vỹ, nhưng…’’ người ta công kích ta, chỉ chứng rằng ta sống.’’

    Thơ ông Nguyễn Vỹ đã là một cái đầu đề cho người ta viết, một câu chuyện cho người ta bàn, thơ Nguyễn Vỹ đã sống một cách đầy đủ ở trên mặt các báo…

    Quyển Tập thơ đầu, mới ló đầu ra đã bị ngay ông Lê Ta ở báo Phong hóa, công kích một cách tàn tệ… Cũng lại chỉ vì cái lẽ ông Lê-Ta (Thế-Lữ) cũng làm thơ mà ông Nguyễn Vỹ cũng làm thơ đó thôi. Chứ công kích như cái kiểu ông Lê-Ta, trong cái thời văn học đang phôi thai này, có nhà văn nào, có tác phẩm nào là không đáng công kích? Cứ theo cái phương pháp phê bình của ông Lê-Ta, thì ông Thái-Can, ông Lưu trọng Lư, ông Huy-Thông, ông Thế-Lữ, trong những văn thơ của các ông ấy, ta cũng thấy nhan nhản những điều đáng công kích, nếu người ta muốn công kích, phê bình mà chỉ tìm những cái kém, cái dở chưa hẳn là phê bình. Một nhà phê bình có tiếng đã nói:”Cố yêu để mà hiểu lấy tác giả… Vì lẽ rằng không có cái gì hoàn toàn ở đời này, ta hãy tìm lấy ở trong cái thiếu kém một viên gạch, một miếng vôi để mà góp vào sự xây đắp cái toàn lầu Nghệ-thuật, cái tòa lầu ấy không thể do độc lực của một người mà xây nổi, vì nó phải dầu dãi nhiều mưa gió, chịu sự vùi dập của bao thế kỷ. Cái tòa lầu ấy phải là công xây dựng của Quá-khứ, của Hiện-tại, của Tương-lai.

    Ông Nguyễn Vỹ chẳng hạn, đưa lại cho sự xây đắp ấy, một mảnh vôi nhỏ cũng đã nhiều lắm rồi. Ta có cầu gì hơn nữa ở họ một sự hoàn toàn không bao giờ có.”

    Thế nhưng, quyển Thi nhân Việt Nam của Hoài-Chân—Hoài-Thanh là tác phẩm văn học duy nhất thuần túy thi ca của thời ấy còn được phổ biến đến ngày nay (nhà Thiều quang tái bản năm 1967); những lời phê bình thiên lệch ấy ảnh hường dai dẳng ở thế hệ sau này khi nhà văn Thế-Phong trong Lược sử văn nghệ Việt Nam (1957) viết về Nguyễn Vỹ như sau:

    Sự nghiệp của ông (Nguyễn Vỹ) chỉ được một câu thơ, trong bài gửi cho Trương-Tửu khiến cho người đời còn nhắc đến tên ông “Thi sĩ Việt-nam khổ như chó”.

    Các bạn sẽ hiểu ý nghĩa gì về câu nói của ông Thế-Phong khi Nguyễn Vỹ đã viết:”Nhà văn An – nam khổ như chó” để trình bày một thực trạng xã hội lúc bấy giờ.

    Chúng tôi không tin rằng xuyên qua sự đóng góp của Nguyễn Vỹ vào văn học nước nhà trên mười văn phẩm, hai thi phẩm và bán nguyệt sanPhổ thông do ông chủ trương đã phục vụ trên mười năm văn nghệ từ 5-11-1957 mà văn nghiệp chỉ có vỏn vẹn “một câu” thiết tưởng những người làm văn nghệ khác, với năm, ba tác phẩm, họ sẽ còn lại những gì.

    Nếu quả thật Nguyễn Vỹ là con số không hay con số 1 (một câu), khi bàn đến “lược sử văn nghệ Việt – nam” thì hãy gạt hẳn Nguyễn Vỹ ra ngoài rìa văn giới; nhưng đấy chỉ là ý kiến cá nhân, còn đối với công luận quần chúng, người ta vẫn không thể phủ nhận sự hiện diện của Nguyễn Vỹ trong văn học.

    Sẽ có người cho rằng chúng tôi vì Nguyễn Vỹ mà bênh vực. Thật ra, trong khi tham khảo những tài liệu thời tiền chiến, chúng tôi đã thấy và hiểu, rồi cố lấy tinh thần khách quan để làm sáng tỏ một vấn đề với mục đích đem trả lại một sự thật cho một sự thật.

    Ở thời kỳ sơ khởi kiến trúc lầu thơ mới Việt-nam, mọi sự đóng góp, dù một cột trụ to lớn để chống đỡ hay một nắm đất bé nhỏ để xây nền, đối với những con người cùng chung lý tưởng kiến tạo, người ta không thể gạt bỏ phũ phàng một thiện chí góp sức. Sự đề xướng thơ 12 chân của Nguyễn Vỹ ta có thể coi là tiếng vang trong khoảng vắng, một sự không thành công của một ý kiến vì không được đại đa số quần chúng chấp nhận, chứ không thể là một vật đáng vứt bỏ để phải nhận những lời công kích tàn tệ.

    Xuyên qua lời chỉ trích của Hoài- Thanh Hoài- Chân (xin xem lại lời phê bình của H.T-H.C ở trên), người ta thấy cá nhân của người thơ bị nói nhiều hơn là thể thơ. Thậm chí ở phần tiểu sử của Nguyễn Vỹ, hai nhà phê bình đã đi sâu vào đời tư, nói đến những điều không cần thiết trong việc cấu tạo văn thơ, như:” Đã từng cạo đầu đi tu, gánh cát ở bãi sông Cái, bán kẹo ở Hà-nội, bán báo ở Sài-gòn”. Đây là một hiện tượng ghi chép khác thường nhất suốt 45 nhà thơ trong quyết Thi nhân Việt-nam.

    Thơ 12 chân thì thế. Còn thơ 2 chân lại được khen khi Hoài-Thanh Hoài-Chân không thể phủ nhận:

    Một bài như bài Sương rơi rất được nhiều người thích. Người ta thấy Nguyễn Vỹ đã sáng tạo ra một nhạc điệu riêng để tả một cái gì đương rơi. Cái gì đó có thể là những giọt sương, cũng có thể là những giọt lệ hay những giọt gì vẫn rơi đều đặn, chậm chậm trong lòng ta mỗi lúc vẩn vơ buồn ta đứng một mình trong lặng lẽ.”

    Hai ông viết thêm:

    Nhưng Sương rơi còn có vẻ một bài văn. Gửi Trương-Tửu mới thật là kiệt tác của Nguyễn Vỹ.”

    Với thiện ý, chúng tôi muốn nói lên một sự lệch lạc trong văn học. Chúng tôi xin dẫn chứng bằng tài liệu để quí bạn cùng nhận xét và phê phán.

    Để có thêm một tiếng nói khác lạ của người đã sống cùng thời khi nền thơ mới vừa phôi thai, ông Lam-Giang (tên thật là Nguyễn quang Trứ), thi sĩ và cũng là tác giả quyển Khảo luận luật thơ mới (xuất bản tại Hà-nội, 1940) đã có ý kiến trong quyển: Hồn thơ nước Việt thế kỷ XX (do nhà Sơn Quang xuất bản tại Sài gòn năm 1967) như sau:

    Phê bình Nguyễn Vỹ, Hoài-Thanh phát biểu một ý kiến võ đoán:” Nguyễn Vỹ chí lớn mà tài nhỏ nên hay lập dị, chứ thật sự ít có thành tích văn chương.”

    Tôi thiết tưởng cái công du nhập đầu tiên lối thơ nhạc vào thi đàn Việt-nam giữa lúc rất nhiều người chỉ chăm lo đả kích Luật Đường, chứ chưa sáng tạo được một thể điệu gì mới cũng đáng cho chúng ta nhìn tác giả với một nhãn quang nhiều thiện cảm hơn.”

    Gần đây, năm 1962, Nguyễn Vỹ cho xuất bản tập thơ thứ nhì của mình là Hoang vu. Trong thi phẩm này, ông cho đăng lại một số thơ ông đã sáng tác trong khoảng thời gian tiền thế chiến như: Hương-giang dạkhúc (1936), Gửi Trương-Tửu (1937), Sương rơi (1937), Hết chơi (1938, họa vận bài Còn chơi của Tản-Đà, xin xem bài xướng ở phần Tản-Đà), v.v… như để độc giả có cơ hội minh xác lại một tiếng thơ đã vì thành kiến mà nhận định lệch lạc.

    Đâu riêng gì thể thơ 2 chân, 12 chân như vừa đề cập, Nguyễn Vỹ còn là người chủ xướng Trường thơ Bạch Nga năm 1936, sự biến chuyển của thể thơ qui định từ 2,3,4,5,6… đến 12 chân. Lịch sử xây dựng nền văn học dân tộc ta không thể trông cậy hoàn toàn vào đôi nhân vật trọng đại, mà phải là hành động chắp nhặt từng cánh hoa rải rác ở muôn phương. Đọc nhà thơ này, ta hãy loại bỏ ảnh hưởng của nhà thơ mà ta yêu thích, nhiên hậu mới tìm thấy ở họ những khám phá tâm tình phản ảnh được do hoàn cảnh riêng biệt đã chiếu vào đời sống của họ. Cho dù là thiên tài đi nữa, một cá nhân không thể hội tự đủ khía cạnh sinh hoạt để phản chiếu toàn diện vào văn thơ mọi hình thái của xã hội, của tâm hồn.

    Thời tiền chiến, thân phận Nguyễn Vỹ đã thế; nhưng với ý chí phục vụ văn nghệ, trung thành đường hướng vạch sẵn, Nguyễn Vỹ, một người thơ từng chịu nhiều cam go trên đường tạo lập văn nghiệp, đã kiên chí xây dựng lại Trường thơ Bạch Nga trong bán nguyệt san Phổ thông từ Trung-thu năm 1962 và được nhiều bạn đọc bốn phương hưởng ứng, chứng tỏ lời nói trước kia của ông Lê tràng Kiều là đúng:” người ta công kích ta, chỉ chứng rằng ta sống.” Vậy, Nguyễn Vỹ ngày nay hãy yên ổn mà sống với trường phái của mình. (I)



    Trên đây là con người Nguyễn Vỹ với tập thơ đầu thời tiền chiến.

    Năm 1962, tập thơ thứ nhì mang tên Hoang vu của Nguyễn Vỹ chào đời do Phổ thông tùng thư ấn hành tại Sài-gòn. Bình luận về Hoang vu, nhà văn Thiết-Mai trong Sáng dội miền Nam viết:

    “Con người Nguyễn Vỹ là con người đã “sống”, đã nếm mùi tân khổ, gian lao của kiếp “nhân sinh”. Kiến “nhân sinh” ấy lại ở vào cảnh giao thời của hai thế hệ, trong một tình trạng bi đát nhất của lịch-sử nước nhà, nên Nguyễn Vỹ đã trở thành con người rắn ròi, yếm thế… để đi đến tâm trạng căm hờn, biếm nhạo, khắt khe, chua chát… gần như điên dại Nhưng lắm lúc trở lại với bẩm tính thiên nhiên, trở lại với con người Nguyễn Vỹ, chúng ta lại thấy Nguyễn Vỹ hiền dịu, đa tình, đa cảm, thiết tha với một đời sống êm đềm trong đạo lý, coi đời chỉ là một cảnh hư vô, không không, sắc sắc…

    “ Tài làm thơ của Nguyễn Vỹ đã biểu lộ cho ta thấy trong sự cấu tạo dễ dàng, không gò ép và tánh cách lưu loát của câu thơ, sự tiếp diễn liên tục của ý thơ, tài gieo vần và nhất là ý từ thâm trầm, mai mỉa, sâu sắc, hay ý nhị, đa tình của những câu thơ.

    1) Tao đàn Bạch Nga hoạt động trở lại với một số thi sĩ tên tuổi như Công tôn nữ Thanh-Nhung, Nguyễn văn Cổn, Công ton nữ Hỷ-Khương, Tuệ Mai v.v…Tao đàn có mở một giải thưởng gọi là “Giải Tao đàn Bạch Nga 1964”, có ba nhà thơ trẻ trúng giải trong đó có hai sinh viên Đại – học, cử nhân Triết-học và Văn chương. Rất tiếc, tình hình chiến tranh mỗi ngày mỗi căng thẳng, và gây khá nhiều xáo trộn trong đời sống của dân-tộc, nên Tao đàn tạm ngưng hoạt động từ 1966.

    “ Chúng ta lại nhận thấy rằng Nguyễn Vỹ chịu ảnh hưởng hai văn hóa, hai làn tư tưởng Đông và Tây nên Nguyễn Vỹ đã làm được cả các lối thơ Đường, thơ cổ điển và thơ mới. Trong loại sau này, điều đáng chú ý là Vỹ như muốn đưa ra một thể mớ, có tác dụng xúc cảm, có âm điệu du dương, hợp tình để gợi tình và tả chân mạnh hơn. Thể mới ấy được thấy trong các bài thơ: Sương rơi, Mưa rào, Tiếng chuông chùa, v.v…

    “ Về ý thơ, Nguyễn Vỹ quả thật đã có nhiều ý tưởng, nhiều câu văn rất táo bạo (Hai người điên; Hai con chó; Trăng, chó, từ; Đêm trinh, v.v…) nhưng theo ý riêng tôi, những ý tưởng, những câu văn táo bạo ấy vẫn là những lời độc đáo đưa Nguyễn Vỹ ra khỏi lối thường tình và cổ điển của các nhà thơ và cũng tỏ cho ta thấy rằng Vỹ là con người có nội tâm cứng rắn, thành thật, dám biểu lộ tâm tư mình bằng những hình ảnh thiết thực do lòng mình suy tưởng.” (Thiết-Mai)

    Thật vậy, lời phê bình trên của ông Thiết-Mai tương hợp phần lớn với khuynh hướng thi ca của Nguyễn Vỹ.

    Ngoài những bài thơ trào phúng về thế sự còn mang tính chất mỉa đời (trong tập Thơ lên ruột), chúng tôi nhận thấy trong Hoang vu tiếng thơ của Nguyễn Vỹ những lúc sau này như trút bớt đi nỗi căm hờn, phẫn uất, giọng thơ không còn gay gắt, ý thơ trở nên thâm trầm, tình thơ thiên nặng về quê hương, đất nước; đôi bài len lỏi vào địa hạt tôn giáo, tư tưởng bắt ngấm mùi đạo. Phải chăng đây là cái tâm lý chung của người đời hay dọn sẵn một khoảng đất trống cho tâm linh khi cái thân xác vật chất của mình sắp bị hủy diệt. Nguyễn Vỹ nói:

    Nếu ta biết một khu trời Vạn-hạnh

    Trăng không tàn mà hoa cũng không trôi…

    (Đêm sầu về)


    Hay:

    Trước sau cũng quyết một lần đi!

    Đi để hồn thơ nhẹ thoát ly!

    Ly cảnh hư không đời giả tạo,

    Tạo tâm thanh khiết bóng Từ-bi

    (Mộng thoát ly)

    Qua bao nhiêu phong ba bão táp của cuộc đời, tâm thần trở lại bình thản, Nguyễn Vỹ thích sống với cái hình nhi thượng, rồi phủ nhận:

    Không, tôi không phải con người bất mã.

    Nhục và Vinh tôi có đủ cả rồi.

    Thượng-đế đã cho tôi giàu muôn vạn,

    Đầy một kho ánh sáng trong hồn tôi.

    Trong Hoang vu, Nguyễn Vỹ chứng tỏ là một kẻ còn yêu đời, tuy cũng đã chán ngán với cảnh đổi thay của thế sự, của tiền tài, danh vọng làm con người mất hẳn lương tri và trở nên giả dối, điêu ngoa, vậy thì:

    Ngài bắc chi một nhịp cầu danh vọng,

    Kéo tôi chi trong phù ảnh lâu đài?

    Hay:

    Đừng bảo tôi hát những lời ca ngợi

    Các tượng thần chói lọi ánh tà huy,

    Đừng chỉ tôi đâu là đường danh lợi,

    Cảm ơn Ngài, danh lợi để mà chi?

    Bởi vì:

    Tôi không muốn gánh kho vàng thơ mộng

    Đem chợ đời đổi lấy món cân đai,

    Đừng nhử tôi ngựa, xe, tàn, võng, lọng.

    Ai công hầu khanh tướng, mặc ai ai.

    Đừng bắt tôi mang hia, choàng áo rộng.

    Và khom lưng lấy các chúa trên ngai!

    Lời thơ thật khảng khái của một con người bất khuất, còn tha thiết với quê hương, Nguyễn Vỹ thêm:

    Tôi không phải đã “cạn bầu nhiệt huyết”,

    Tấm thân hèn chưa rạn nứt phong sương.

    Bao năm xưa đọa đày tỏng luy tiết,

    Há bây giờ hờ hững với quê hương.

    Một thảm trạng nghèo đói vì bất công, vì chiến họa được bày ra dưới mắt khiến thi nhân bất chợt kêu lên:

    Một đêm lạnh lê kiếp buồn phiêu khách

    Giữa Sài-gòn tịch mịch gió âm u.

    Tôi đã thấy một người cha đói rách

    Ôm con ngồi trong xó tối hoang vu.

    …………………………………..

    Người run rẩy như lá cây run rẩy,

    Tiếng người rên trong tiếng gió vi vu.

    Rồi cũng một đêm buồn của mùa Xuân đầy tang tóc; xa xa vẳng nghe tiếng súng cầm canh, lòng thi nhân bỗng dậy lên niềm cảm xúc:

    Tiếng súng đêm xuân

    Đêm phẳng lặng, tôi đang nằm thao thức,

    Phòng vắng tanh, lòng cũng vắng mênh mông.

    Bỗng bên sông loạt tiếng súng bắn vang rền,

    Như những mảnh tỉnh Xuân tan tác đổ.

    Kêu chan chát đạn vèo, liên tiếp nổ,

    Lửa lập lòe như những ánh ma trơi.

    Kế tiếp nhau ngã gục những bóng người

    Lẫn tiếng súng, tiếng kêu gào: “Giết, Giết!”

    Ai say máu, chém đâm nhau ác liệt?

    Tâm hồn tôi mỏng mảnh nát tan hoang,

    Hai ngấn lệ ứa tràn đôi mí mắt.

    Trời đất hỡi, lại bao nhiêu xác chết!

    Máu căm thù, ghi mãi hận giang san?

    Bao vết thương non nước vẫn chưa hàn,

    Xuân tái tạo, phũ phàng, ai hấp hối?...

    Tiếng ai oán, ai gào trong đêm tối?

    Lời trối trăn ai gởi gió sương khuya?

    Ai thân yêu, nhắn nhủ lúc chia lìa,

    Đang quằn quại rỉ rên bên vũng máu!

    Trời u trệ, đìu hiu sao Bắc-đẩu,

    Mây chập chồng xây đắp ải sầu tang

    Đêm không trăng, bưng bít cả trần hoàn,

    Gà mớ gáy, kinh hoàng trong yểm mộng…

    Súng đua nổ ầm ầm rồi im bẵng

    Hạt mưa xuân nằng nặng rớt trên hiên…

    Ai có nghe trong đêm thẳm vô biên

    Tiếng gió mới gọi hồn non nước cũ?...

    Ai có thấy muôn vạn mồ vô chủ?

    Đoàn thanh niên đang tiến tới ngày mai

    Đang hân hoan rèn đúc chí anh tài

    Bỗng ngã gục, không một lời vĩnh biệt!

    Mỗi xác chết, một linh hồn nước Việt,

    Mỗi nấm mồ, là một mảnh tim ta.

    Xuân muôn màu ngào ngạt nở muôn hoa

    Là mạch máu chan hòa trong mạch đất!

    Mỗi nhánh lá, một hồn thiêng phảng phất,

    Mỗi tim hoa, nước mắt đọng thành sương.

    Cả non sông là một hận xuân trường,

    Của thế hệ loạn cuồng trai đất Việt!

    Ôi buồn lắm! Lòng ta buồn da diết!

    Ta xót thương những số kiếp tài ba,

    Nợ phong trần đã vướn tuổi niên hoa

    Còn thử thách đá vàng thêm Quốc-hận!

    Một lớp trẻ chôn vùi ngoài chiến trận,

    Đã đem xương đem máu đắp xây mồ.

    Một lớp sau còn sống sót, bơ vơ,

    Khóc cũng dở, mà cười càng thêm dở!

    *


    Đêm xuân nay, nước mắt trào nức nở,

    Nghe vang rền tiếng súng nổ bên sông.

    Gà gáy khuya, tỉnh giấc mộng hãi hùng,

    Tôi mở cửa, gió lồng, ơn ớn lạnh.

    Mưa rỉ rả, thắm tê lòng cô quạnh,

    Tôi ra đi như một đứa lạc loài,

    Bước âm thầm không muốn biết ngày mai.

    (Nha-trang đêm xuân 1961, Hoang vu)


    Đọc xong bài thơ, người yêu thơ không khỏi bùi ngùi vì quê cha đất mẹ lại một lần đổ lệ khóc thương cho những mái đầu xanh tuổi trẻ. Nguyễn Vỹ đã viết lên bài thơ với tất cả sự tủi hờn của dân tộc.

    Trong Hoang vu, ngoài tư tưởng và tâm tình đã ký thác, chúng ta còn nhận thấy một cá tính của Nguyễn Vỹ hay tìm đến những cái gì khác lạ.

    Sương rơi còn là bài thơ trong trường phái Bạch Nga:

    Sương rơi

    Sương rơi

    Nặng trĩu

    Trên cành

    Dương liễu.

    Nhưng hơi

    Gió bấc Rồi hạt

    Lạnh lùng Sương trong

    Hiu hắt, Tan tác Rơi sương

    Thấm vào, Trong lòng, Cành dươn.,

    Em ơi, Tả tơi. Liễu ngã

    Trong lòng Em ơi. Gió mưa

    Hạt sương Từng giọt Tơi tả

    Thành một Thánh thót Từng giọt

    Vết thương. Từng giọt Thánh thót,

    Điêu tàn Từng giọt

    Trên nấm Tơi bời

    Mồ hoang! Mưa rơi,

    Gió rơi

    Lá rơi,

    Em ơi !

    (Văn học tạp chí, 1935)

    Đến những bài thơ như Hoàng hôn, Tiếng chuông chùa, Mưa rào… sau đây, Nguyễn Vỹ muốn tạo cho mình một điệu nhạc riêng. Nhưng phải nói là những bài thơ mới lạ này có nặng về thể thơ tân kỳ mang tính chất tượng hình, thượng thanh nhiều hơn là chứa đựng tư tưởng.

    Bài Hoàng hôn dưới đây, tác giả trình bày một đàn cò trắng đang vội vã bay về tổ trên nền trời của một buổi chiều vàng sắp tắt.

    Hoàng hôn

    Một đàn

    Cò con

    Trắng nõn

    Trắng non

    Bay về

    Sườn non

    Gió giục,

    Mây dồn,

    Tiếng gọi

    Hoàng hôn

    Buồn bã

    Nỉ non

    Từ giã

    Cô thôn…

    Còn con

    Cò con

    Trắng nõn

    Nào kia,

    Lạc bầy,

    Lại bay

    Vào mây,

    Ô kìa!

    (1950, Hoang vu)

    Và đây, bài Tiếng chuông chùa, qua thể thơ, tác giả cho ta thấy một buổi chiều buồn, tiếng chuông chùa ngân lên từng hồi trong bầu không khí êm lặng, dư âm vang động nơi nơi, gợi cho kẻ tha phương cảm thấy lòng bâng khuâng thương nhớ:

    Tiếng chuông chùa

    Bốn phương trời

    Sương sa,

    Tiếng chuông chùa

    Ngân nga…

    Trời lặng êm,

    Nghe rêm

    Tiếng chuông

    Rơi,

    Thảnh thơi

    Êm đềm…

    Hồi chuông

    Rơi

    Bon!

    Bon!

    Trong sương mơi,

    Véo von…

    Hồi chuông

    Trôi

    Êm ru.

    Vô âm u

    Hồn tôi…

    Hồi chuông

    Vang bốn phương…

    Mùi trầm hương

    Vang trong sương

    Lòng tôi…

    Nghe tiếng chuông

    Trong,

    Trong

    Hồi hộp

    Bâng khuâng…

    Hồn lâng lâng

    Lên vút

    Cao xanh

    Thanh,

    Thanh…

    Tiếng chuông chùa

    Khoan thai,

    Kêu ai,

    Lòng nhớ thương

    Quê hương…

    Tiếng chuông chùa

    Khoan thai,

    Kêu ai,

    Lòng thê lương





    Trong sương…

    (Hoang vu)

    Ngoài những lối trên, Nguyễn Vỹ còn trình bày một thể thơ đặc biệt có dáng hình thoi: bài Mưa rào. Từ câu đầu một chữ, rồi hai, ba, bốn chữ v.v… tăng trưởng đến một cao độ, rồi bắt đầu giảm lần số chữ trong câu cho đến câu cuối còn một chữ để miêu tả một cơn mưa thoạt đầu lác đác vài giọt, rồi đổ ào như trút, rồi thưa, thưa dần đến còn một giọt và tạnh hẳn.

    Mưa rào

    Mưa

    Lưa thưa

    Vài ba giọt…

    Ai khóc tả tơi,

    Giọt lệ tình đau xót?...

    Nhưng mây mù mịt, gió đưa

    Cây lá rụng xào xạc giữa trưa.

    Mưa đổ xuống ào ạt, mưa, mưa, mưa!

    Thời gian trôi tan tác theo tiếng mưa cười!

    Không gian dập vùi tan nát theo thác mưa trôi,

    Đàn em thơ nhào ra đường, giỡn hớt chạy dầm mưa!

    Cỏ hoa mừng nên vận hội, ngả nghiêng tắm gội say sưa!

    Nhưng ta không vui, không mừng. Lòng không ca, không hát!

    Ta đưa tay ra trời, xin going mưa thấm mát.

    Tưới vết thương lòng héo hắt tự năm xưa!

    Nhưng, ô kìa! Mưa rụng chóng tàn chưa!

    Trời xanh xanh, mây bay tan tác.

    Ai còn ươm hạt mưa đào,

    Lóng lánh trong tim Hoa?

    Ai ươm mơ sầu,

    Ôi mong manh,

    Trong tim

    Ta!

    (Sài-gòn, một chiều hè 1959)

    Để kết thúc, chúng ta thấy Nguyễn Vỹ là một nhà thơ có thực tài. Ông dám trình bày một cách trung thực tư tưởng của mình, nói lên nỗi uất ức, bất công của kiếp người. Nguyễn Vỹ có cái nhìn thường xuyên vào thực trạng xã hội, theo dõi những màu sắc biến đổi của nhịp sống dân tộc đã chịu nhiều thảm họa; hòa lẫn vào đấy tình thương yêu đồng loại, tiếng thơ của Nguyễn Vỹ là tiếng nói chân thành phát xuất tự con người còn nghĩ đến quê hương.

    (Ấn bản kỳ nhì, 25-6-1968)





















    Thi tuyển

    Gửi Trương- Tửu

    Nay ta thèm rượu nhớ mong ai…

    Một mình nhắp nhém, chẳng buồn say!

    Trước kia hai thằng hết một nậm,

    Trò chuyện dong dài, mặt đỏ sẫm,

    Nay một mình ta một be con.

    Cạn rượu rồi thơ mới véo von!


    Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác,

    Mà vẫn coi tiền như cỏ rác.

    Kiếm được đồng nào đem tiêu hoang.

    Rủ nhau chè chén nói huênh hoang.

    Xáo lộn văn chương với chả cá,

    Chửi Đông, chửi Tây, chửi tất cả,

    Rồi ngủ một đêm mộng với mê.

    Sáng dậy nhìn nhau cười hê hê!


    Bây giờ thời thế vẫn thấy khó,

    Nhà văn An-nam khổ như chó!

    Mỗi lần cầm bút viết văn chương,

    Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương

    Rồi nhìn chúng mình hì hục viết

    Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết,

    Mà thương cho tôi, thương cho anh

    Đã rụng bao nhiêu mái tóc xanh.

    Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng?

    Tôi làm Trạng-nguyên anh Tể-tướng,

    Rồi anh bên Võ tôi bên Văn,

    Múa bút tung gươm hả một phen?

    Cho bõ căm hờn cái xã hội

    Mà anh thường kêu mục, nát, thối?

    Cho người làm ruộng, kẻ làm công.

    Đều được an vui hớn hở lòng?

    Bao giờ chúng mình gạch một chữ

    Làm cho đảo điên pho Lịch-sử!

    Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa

    Hất mồ nhổm dậy cười say sưa

    Để xem hai chàng trai quắc thước

    Quét sạch quân thù trên Đất Nước?

    Để cho toàn thể dân Việt-nam

    Đều được Tự-do muôn muôn năm?

    Để cho muôn muôn đời dân tộc

    Hết đói rét, lầm than tang tóc?

    Chứ như bây giờ là trò chơi!

    Làm báo làm bung chán mớ đời!

    Anh đi che tàn một lũ ngốc

    Triết lý con từu, văn chương cóc!

    Còn tôi bưng thúng theo đàn bà,

    Ra chợ bán văn, ngày tháng qua!

    Cho nên tôi buồn không biết mấy!

    Đời còn nhố nhăng, ta chịu vậy!

    Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa,

    Bực chí, thành say mấy cũng vừa.

    Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ!

    Chơi nước cờ cao gặp vận bĩ!

    Rồi đâm ra điên, đâm vẩn vơ,

    Rốt cuộc chỉ còn… mộng với mơ!

    Viết rồi hãy còn say

    (Phụ nữ)

    Hương giang dạ khúc

    (Bài nầy đăng trong Đông tây

    tuần báo Hà-nội, ký bút hiệu Lệ-Chi)

    Hơi gió hiu hiu của ban đêm

    Ru hồn ta trong cơn tê tái.

    Nước sông Hương lặng lẽ êm đềm

    Ru chiếc thuyền ta bơi êm ái.


    Thuyền ta thiu thỉu ngủ, lênh đênh.

    Theo nhịp mái chèo bơi êm ái,

    Tâm hồn ta rên rỉ, buồn tênh.

    Theo cơn sóng trần duyên tê tái


    Hồn ta bơi lướt qua, buồn tênh

    Trên lớp sóng trần duyên tê tái,

    Và trong cõi lòng ta mông mênh,

    Trăng rủ một cơn buồn êm ái

    Tâm hồn ta rên rỉ, buồn tênh

    Ru vết thương lòng ta, êm ái,

    Thuyền ta trên mặt nước, lênh đênh,

    Ru tâm hồn ta thêm tê tái.

    (Huế 1036, Hoang vu)

    Hai con chó

    Chuồng ngục tối om, kìa bốn xó,

    Bốn thằng bơ bơ như bốn chó!

    Chẳng được nói năng, chẳng được cười,

    Hai chân chồm hổm, ngồi co ró.


    Lưng rít mồ hôi, không dám cọ.

    Ngứa ngáy tay chân không rậy rọ.

    Rệp bò lên cổ, leo lên đầu,

    Muỗi bay khiêu vũ, kêu ó ó.


    Một tên lính Nhật ngồi ngay đó;

    Nét mặt hầm hầm, tròn mắt lỏ!

    Đeo chiếc gươm dài, cầm roi da,

    Thỉnh thoảng quất lên bốn đầu sỏ.

    Hắn uống rượu gì màu đỏ đỏ,

    Như uống máu tươi trong cái sọ?

    Kìa nó gật gù, đầu ngả nghiêng,

    Máu nhều quanh môi từng giọt nhỏ!


    Hai mắt đỏ hoe xoay tròn, ngó

    Thằng tù lim dim trong một xó,

    Hắn sả ba roi lên đỉnh đầu,

    Thằng rù rụt vai, mặt mếu mó!


    Một thằng tù khác ngồi nhăn nhó,

    Tay run cầm cập, răng gõ mõ,

    Sốt rét lên cơn, không dám nằm,

    Đầu cúi lạy…lạy… như xin xỏ.


    Thằng tù thứ ba ngồi nhóc mỏ,

    Da mặt xanh lè, mắt tho lỏ.

    Hắn bị tra điện hồi đầu hôm,

    Giờ như cái xác con ma xó!





    :rose:
  • Đang tải...