1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0077.00025_thuhang1319 (type done) + thaole92 đã soát xong

May 7, 2016
0077.00025_thuhang1319 (type done) + thaole92 đã soát xong
  • #0077.0025

    Đánh máy: thuhang1319


    Đêm giao thừa tắm biển

    Bể với ta là tình Xuân vạn đại,

    Trời hoa niên năm mới vẫn năm xưa.

    Ta đêm nay lạc nẻo hồn hoang dại,

    Mơ trùng dương vũ nhạc hội say sưa.


    Cởi áo bụi, ngực trần, chân nhẹ bước,

    Ta lao mình trong sóng động lao xao.

    Trên mặt bể, vẫy vùng ta với nước,

    Dưới màn trời lấp lánh ánh muôn sao.


    Bỗng hiện lên, từ thâm cung rộn rã,

    Ồ ! Thướt tha Vệ-nữ nõn nà duyên !

    Nàng lướt sóng, diễm kiều và ẻo lả,

    Đưa hai tay mừng đón khách tân niên.


    Nàng khiêu vũ với ta trên sóng nhạc,

    Ôm quay cuồng theo điệu nhạc âm ba.

    Khúc hoà tấu tưng bừng đêm hoan lạc,

    Bọt thuỷ triều ào ạt nở muôn hoa.


    Từng lớp lớp ba đào từ khơi thẳm

    Lô xô vào nô nức hội liên hoan.

    Nàng với ta bơi nhào trong bể tắm,

    Nghịch đùa nhau say đắm tiếng cười vang.


    Nàng bỗng chốc biến biến mình trong ngân thuỷ,

    Ta lặn tìm, gọi khắp “ Mỹ nhân ơi ! “

    Nàng lại hiện ra dáng hình tuyệt mỹ,

    Nét ngọc ngà uốn lượn giữa chơi vơi.


    Gió trổi dậy, chập chờn hai chiếc bóng

    Trôi bềnh bồng trên đợt sóng cheo leo,

    Nàng với ta bơi đua vào bến mộng,

    Ta đuổi nàng trên bãi cát hoang liêu.


    Tiếng cười dội cả khu trời rực rỡ,

    Nàng sa chân, vấp một mảnh sao rơi.

    Ta cùng ngã trên thân mình Ngọc-nữ,

    Nàng với ta ôm xiết chặt đôi môi.


    Biển hồi hộp nhịp hoà cùng hơi thở,

    Đêm giao thừa ngào ngạt gió hương say.

    Nàng khẽ bảo :

    - “ Người yêu em muôn thuở !

    Về Thi-sơn, sao lạc lối đêm nay ?


    Thôi đừng hỏi, hỡi nàng Thơ diễm lệ !

    Ta mang đầy huyết lệ, mạch suy tư,

    Mong hàn bớt những vết sầu thế hệ,

    Mà than ôi, thơ mộng chỉ phù hư !


    Hàn gắn được những vết thương nhân loại,

    Có ái tình là nghệ thuật cao siêu,

    Sầu thế hệ vẫn là sầu vạn đại.

    Chỉ Tình-yêu là gắn lại tình yêu.


    Ta sống giữa loài người tham bạo quá,

    Làm được chi với một mảnh tim đơn ?

    Bao nhiêu kẻ lộng hành ngôi vương bá,

    Bao nhiêu người quì sụp để xin ơn.


    Ai giàu có cậy kim tiền thế lực,

    Ai cúi lòn giành giựt bả phù vinh.

    Muôn triệu kẻ sống bần hàn cơ cực,

    Muôn triệu người cam khổ kiếp ba sinh !


    Chia phe đảng tranh quyền, tham lợi lộc,

    Ai căm thù, cướp bóc, rủa nguyền nhau.

    Ai là chúa, ai là người nô bộc,

    Ai vui cười, ai khóc lóc rên đau:


    Ta biết vậy chỉ ghi vài nét bút

    Để muôn đời những vết hận bi thương.

    Nhưng chán nản, có những giờ những phút

    Muốn đắm hồn trong “ khúc nhạc trùng dương “.


    Giờ Giao-thừa xa xa tràng pháo nổ,

    Lửa lập loè bên cửa bể Nha-trang.

    Gà sực gáy nửa đêm như mớ ngủ,

    Chuông chùa ngân từng tiếng dội không gian.


    Bỗng Vệ-nữ nắm tay tôi ngồi dậy,

    Đợt sóng vừa bò đến vuốt chân tôi.

    Nàng cúi xuống hôn tôi, rồi vụt chạy,

    Lướt ngọn triều, mờ mịt tít xa khơi.


    Tôi bơi theo ra giữa vùng bể rộng,

    Nàng biến đâu ? Ôi quạnh quẽ mông lung.

    Nàng đã lặn trong ba đào xáo động ?..

    Nàng đã về trong Thuỷ-điện thâm cung ?..


    Tôi còn đứng ngẩn ngơ trong ánh bạc,

    Vừng Thái-dương hé mở cửa Tân-niên.

    Sóng bình minh dâng đầy mâm Hoa-nhạc,

    Ngát hương sầu phảng phất mộng giao duyên !

    (Trên bãi bể Nha-trang đêm Giao thừa 1951)


    Hoa lệ


    Tôi không biết ngày nay tôi mấy tuổi,

    Mấy đoạn trường trôi nổi kiếp hư sinh.

    Giống như xưa chàng Do-thái phiêu linh

    Vác Thập-ác đi hoài trong đêm tối,

    Tôi cũng bị đoạ đày, trời bắt tội

    Mang trong tim một khối nặng Tình-thương.

    Bóng lữ hành đây đó khắp tha phương.

    Gieo trong gió, trong sương, đầy ngấn lệ.

    Nhưng tuy đã trải qua hai thế hệ,

    Bước phong trần còn đượm nét niên hoa.

    Mạch sầu Xuân còn réo rắt chan hoà

    Cùng cây cỏ vấn vương tình ưu ái.

    Còn Xuân mãi, tôi vẫn còn Xuân mãi.

    Trong tim tôi lồng lộng một trời Xuân.

    Xuân thanh trinh bát ngát đẹp vô ngần,

    Xuân huyền diệu dệt toàn Hoa với Lệ.

    Mộng huyền ảo não nùng hơn thực tế.

    Tìm Tình-yêu để chỉ gặp Đau-thương.

    Kết duyên Xuân, như để nối hận trường.

    Xây hạnh phúc; đắp bức tường ảo vọng !

    Xuân đẹp nhất không thêu bằng tơ mộng,

    Không rung lên những nhạc điệu huyền mơ.

    Xuân rạt rào trong tĩnh mịch suy tư,

    Trong nước mắt âm thầm rơi mỗi giọt…

    Những thiếu nữ đêm Xuân nằm trằn trọc,

    Buồn cô đơn, tủi phận, khóc hờn duyên ;

    Những chàng trai thất nghiệp, túi không tiền,

    Đi thất thểu chiều Xuân trên vỉa phố,

    Xuân là đấy, Bạn ơi ! Xuân đau khổ,

    Xuân nghẹn ngào trong cổ, ứ trong tim…

    Những đoàn người trí thức , dáng dịu hiền

    Gương mặt sáng, đôi mắt ngời rực rỡ,

    Phải lam lũ làm quanh năm khổ sở,

    Không đủ nuôi cha, mẹ, vợ, con, em.

    Những công nhân quần áo rách, cũ mèm,

    Mấy ngày Tết có đâu nem với gỏi ?

    Ở túp lá bị mưa dầm nắng dọi,

    Ăn cà, dưa, nhiều bữa đói không cơm.

    Kẻ đi xin, như những xác không hồn,

    Nằm hấp hối đêm Giao-thừa góc phố.

    Xuân là đấy, Bạn ơi, Xuân đau khổ

    Xuân âm thầm của vô số sinh linh !

    Xuân đìu hiu của muôn vạn gia đình,

    Xuân tang tóc của những nàng quả phụ.

    Xuân lạnh lẽo trên những mồ vô chủ.

    Những vong linh các Tử-sĩ anh hùng.

    Đem máu xương đền nợ cho Non-sông,

    Không hương khói sưởi oan hồn chín suối !

    Xuân là đấy, Bạn ơi ! Xuân buồi tủi

    Xuân liên hoan nước mắt với mồ hôi

    Xuân hoa đăng của khói lửa bùi ngùi,

    Xuân khiêu vũ,

    Giữa kịch trường Thiên-Vạn-Hận…!

    Xuân là đấy, bẽ bàng ! Xuân bất tận.

    Mạch Xuân trào trên nét bút say sưa.

    Hương Xuân nay còn ngào ngạt Xuân xưa.

    Nửa thế kỷ vẫn một mùa Xuân ấy !

    (Hoang vu 1950)

    *

    Phổ Thông mười năm cảm nghĩ (I)

    Mười năm, chỉ mới bước đầu thôi,

    Nghiệp chướng đành mang hết nợ đời.

    Buồn chán nhan tâm toan bỏ mặc,

    Ngậm ngùi bút hận khó buông trôi.

    Trời già muốn dỡn, ừ cho dỡn,

    Sức trẻ còn bơi, vẫn cứ bơi.

    Lánh bọn văn nô, phường xảo trá,

    Gắng thành nhiệm vụ chín mười mươi.

    1) Bài thơ trên đây Nguyễn Vỹ cảm tác nhân ngày kỷ niệm Phổ Thông tạp chí năm thứ 10 (5-11-1967)


    —™


    Thơ trào phúng

    Hoa hồng Việt-nam

    Một tờ báo có đăng tin các bác sĩ Phi-luật-tân vừa tuyên bố một số quân nhân Phi đã bị gái điếm Việt-nam truyền cho một chứng bịnh cực kỳ nguy hiểm. Các bác sĩ Phi đặt tên chứng bịnh ấy là : “ Hoa hồng Việt-nam ”. Huyền giận quá, viết nguệch ngoạc vài câu gởi gấp cho ông bệnh nhân Phi-luật-tân mắc chứng ác ôn và các cô gái điếm :

    “ Hoa hồng Việt-nam ! ”

    “ Hoa hồng Việt-nam ! ”

    Này các cô ơi, “ Hoa hồng Việt-nam ” là cái giống hoa gì.

    Mà bạn Đồng-minh Ma-ní bịt mũi, trố mắt, xầm xì hoảng hốt kêu rên ?

    “ Hoa hồng Việt-nam”, ai trồng, ai cấy, ai gieo ?

    Ai vun, ai bới, ai tưới, ai xới, ai tâng tiu hồi nào ?

    “ Hoa hồng Việt-nam ” lấy giống từ đâu ?

    Giống Mỹ, giống Úc, giống Tây Âu hay Nhựt-bổn, Đại-hàn ?

    “ Hoa hồng Việt-nam ” phải chăng là “ hoa ” Huệ “ hoa ” Lan ?

    “ Hoa ” Sương, “ hoa ” Tuyết, “ hoa ” Yến, “ hoa ” Loan, hoa điếm, hoa đàng.

    “ Hoa ” Đô-la, hoa Bạc, chín mười ngàn một hoa ?

    Xưa nay sao không có giống hoa ấy ở vườn nhà,

    Giờ đây nó mọc trên các toà nhà bin-đinh ?

    Trong các đống bùn sình,

    Trong các ngõ hẻm, nhà lá, hôi rình mùi “hoa” ?

    “ Hoa hồng Việt-nam” ối mẹ ! ối cha !

    Nó là cái giống hoa gì ?

    Nước Nam mình đâu có giống hoa ghê tởm kỳ lạ, Bà Nội ơi !

    Giống hoa độc địa, ai nhập cảng vào đất Việt của tôi ?

    Rồi ai vu cho Việt-nam tôi sản xuất,

    Úi chao ôi, tui hận, tui tức,

    Tui bứt rứt,

    Tui hậm hực,

    Tui ậm ực,

    Tui uất,

    Tui uất lắm,

    Ớ trời ơi là trời :

    ( Báo Tin sớm số 809 ngày 14-8-1967)

    *


    Hài nhi lai Mẽo vứt trôi sông …

    Báo Tin Sớm số thứ hai 4 – 9,

    Đăng một tin ở Ấp Tân-sanh,

    Một hài nhi lai Mẽo sơ sanh,

    Bị vứt bỏ, trôi bập bềnh trên sông rạch.

    Tội xác bé máu me chưa sạch,

    Một đùm nhau chưa cắt, dính tùm lum !

    Đồng bào ta trông thấy xót thương giùm,

    Vớt xác bé đem trao cùng bệnh viện.

    Rồi bác sĩ khán nghiệm.

    Rồi cảnh sát truy tầm.

    Ai người mẹ nhẫn tâm làm tội ác ?

    Riêng Diệu-Huyền nghĩ : mấy ông Cảnh sát

    Truy tầm ai ? Lục soát kiếm đâu ra ?

    Hỏi biết ai nhân chứng trước quan toà ?

    Chiến tranh đó mới chính là thủ phạm.


    Nói ra, càng hôi hám,

    Việt-nam có chán vạn đứa con lai ?

    Hăm mấy năm chinh chiến quá lâu dài,

    Muôn, ức, triệu, trẻ lạc loài, vô tổ quốc !

    Nào lai Mỹ, lai Phi, lai Tàu, lai Úc,

    Lai Đại-hàn, lai Thái, lúc nhúc lai… và lai.

    Đứa mũi cao, đứa mũi xẹp,

    Đứa mình ngắn, đứa mình dài,

    Đứa tóc đỏ lai rai,

    Đứa tóc quăn xoây xoấy ;

    Đứa trắng nõn trắng non,

    Đứa đen thui như củi cháy !

    Đứa oe oe dưới mái tôn.

    Đứa rơi rớt trong cầu thang máy.

    Muôn, ức, vạn, đứa hài nhi ấy,

    Khắp nước Nam từ vĩ tuyến 17 đến Cà-mau,

    Dân quốc tế đủ các sắc, các màu,

    Mượn đất Việt để chôn nhau cắt rún,

    Chúng đang sống hàng bà làng, hổ lốn,

    Vì Chiến-tranh, cha của chúng, là tên.

    Và Chiến-tranh là thủ phạm, cho nên…

    “ Thôi, bỏ đi tám “ nói càng thêm tức giận !…

    (Tạp chí Phổ thông số 200 ngày 1-10-1967)

    *

    Diệu-Huyền không hoan nghênh ông Thiệu câu cá

    Sau hôm đắc cử Tổng-thống, các báo Việt và ngoại ngữ, có đăng hình Trung-tướng Thiệu đi câu cá trên bãi biển Vũng-tàu, vui mừng câu được con cá thật to.

    Huyền cười : “ Ông Thiệu đi câu,

    Cá ăn đứt nhợ, vênh râu ngồi bờ“.

    Hoá ra ông Thiệu phất cờ

    Về dinh Tổng-thống, thắng mười ông kia.

    Bây giờ nhẵn nhụi râu ria,

    Ông Thiệu đắc cử đã “ xuya ” một trào.

    Ổng bay ra biển Vũng-tàu,

    Câu xem thời vận : một xâu cá kềnh.

    Thế là vận số ông hên,

    Trời cho ông được, ông lên cầm đầu

    Miền Nam một giãi đất màu,

    Giang sơn gấm vóc, đất giàu, dân đông.

    Nhưng mà, ông hỡi là ông,

    Việc ông câu cá, Huyền không tán thành.

    Cá với nước là duyên lành,

    Các sống trong nước, tung hoành cá bơi.

    Thả mồi bắt cá, ông chơi,

    Để thân cá chết ông ơi, sao đành !

    Cá nằm trên thớt hôi tanh,

    Tội cho thân cá, khổ tình xiết bao !

    Thà rằng “ ông Liễu đi câu

    Cá ăn đứt nhợ vênh râu ngồi bờ “

    Chứ ông gióng trống phất cờ

    Ra oai gìn giữ cõi bờ giang san.

    Nỡ nào ông lại giết oan

    Con tôm, con tép, con nang, con còng,

    Gái Huyền tha thiết xin ông

    Thương loài cá biển, cá sông, chim ngàn.

    Chớ câu, chớ bắn, phũ phàng,

    Kẻ sinh oán hận ngập tràn nước non.

    Những loài cọp bố, hùm con,

    Những loài mãnh thú, ác ôn hung tà,

    Những loài cá mập, cá xà,

    Những loài rúc rỉa, đục nhà khoét hang

    Những loài rắn rít hổ mang,

    Những loài chó sói, sài lang, chuột chù

    Những loài sâu mọt kếch xù,

    Những loài ruồi muỗi bay vù khắp nơi,

    Thì ông cứ giết ông ơi,

    Giết sao cho hết tanh hôi cửa nhà,

    Giết sao cho sạch sơn hà.

    Thì tôi mới phục ông là đáng khen.

    Diệu-Huyền phận gái dốt hèn.

    Không sức mấy, cũng hết mình hoan hô

    Chứ bây giờ,

    Dù ông câu được món lời to,

    100 con cá chẻm, 1000 lô cá kiềm.

    Hay là ông cỡi ngựa kim

    Lên rừng bắn được đôi chim Đại-bàng

    Thì tôi chẳng dám khen càng

    Thương chim, thương cá, phũ phàng, ông ơi !

    (Tạp chí Phổ thông số 200 ngày 1-10-1967)

    *

    Dâng đức Khổng-tử

    (Sài - gòn : Tổng hội Khổng học Việt - nam cho phối hợp với Bộ Văn - hoá tổ chức Khánh – đản Khổng-tử vào hồi 10 giờ sáng thứ năm 28-9 tại Viện Quốc-gia Âm-nhạc, 12 đường Nguyễn Du Sài-gòn )

    Diệu-Huyền cúi lạy Đức Khổng-tử

    Ngài tha cho con tội “ yêu thư yêu ngôn ”

    Như niềm “ lễ nghĩa” con vẫn giữ,

    Rất kính phục Ngài là bậc Thánh-nhơn

    Triết lý của Ngài bao la trời biển

    Đạo đức của Ngài đoan chính thanh liêm

    Thanh thế của Ngài ngàn thu vinh hiển,

    Uy danh của Ngài vạn đại tôn nghiêm

    Nay ngày Thánh-đản

    Tệ nữ Diệu-Huyền

    Dâng ngài điều trần một bản

    Dĩ thực tế vi tiên

    Huyền cúi đầu, hề, kính cụ Khổng Khâu,

    Thế hệ hai mươi, hề, thời đại hoả tiễn,

    Đợt sống mới, hề, loạn xị xà ngầu,

    Thụ thụ rất thân, hề, nam nữ biểu diễn

    Tam cang ngũ thường, hề, gió cuốn mất tiêu

    Quân thần tan nát, hề, huống chi phụ tử

    Phu phụ rời rạc, hề, như bọt như bèo,

    Tứ đức tam tòng, hề, kể chi khai tử

    Gái “ mini jupe ”, hề, “ đề-con-lờ-tê “

    Hở ngực hở đùi, hề, cho đàn ông ngắm,

    Cỡi xe Honda, hề, chạy bay văng tê,

    “ Xì líp, xu chieng “ hề; nhảy ra biển tắm

    “ Xi-ti-uây” (C.T.Y.) hề, cho không tình yêu,

    Gái bán Bar, hề, đeo theo ngoại kiều,

    Cười toe toét, hề, đú đa đú đởn,

    “ Ô-kê Sa-lem” hề, tự đắc hiu hiu,

    Gái 14, 15 hề, trốn nhà theo trai,

    Trai 16,17 hề bất tuân phụ mẫu

    Học trò cao bồi, hề, cầm dao đâm thầy

    Bằng hữu chi giao, hề, như mã cẩu.

    Hành chánh, hề, ăn hối lộ lu bù.

    Ứng cử Tổng-thống, hề, cổ động láo toét,

    Lừa bịp dân chúng, hề, tưởng đâu dân ngu

    Ham uy quyền, hề, để đục khoét,

    Cộng-sản lợi dụng, hề, xã hội rối ren,

    Tình hình xôi thịt, hề, thối nát, ôi thối nát,

    Tuyên truyền phá rối, hề, chánh trị leng beng,

    Gây khủng bố, hề, lựu đạn tàn sát.


    Thế cho nên,


    Huyền lạy Ngài Khổng-tử,

    Ước mong Ngài tái sinh,

    Để Ngài tề gia trị quốc thử,

    Cho thiên hạ hoà bình.

    Hoạ may có Ngài chỉnh huấn,

    Cứu quốc cứu dân.

    Mới mong đời Nghiêu, Thuấn

    Hoà bình, hạnh phúc, vân vân… !

    (Tạp chí Phổ thông số 201 ngày 15-10-1967)

    *

    Bà hoả viếng Bộ Văn hoá Giáo-dục

    “ 3 giờ chiều ngày 29-9, thình lình có lửa phát cháy dữ dội tại từng lầu 4 của Bộ Văn-hoá Giáo-dục ở số 7, đường Thống-nhất. Một lúc sau, đội Cứu hoả đến đàn áp được ngọn lửa…”

    Nghe tin trên đây đăng trong các nhật báo Sài-gòn


    Diệu-Huyền tức giận mắng bà Hoả :

    Bá ngọ bà thần Hoả

    Dám đốt Bộ Văn-hoá,

    Hả ?

    Để ông Tổng Uỷ-viên

    Hết hồn … sợ tá hoả !

    Hả ?

    Đốt đâu không giỏi đốt

    Lại đốt Bộ Văn-hoá,

    Hả ?

    Nơi óc não tài hoa,

    Toàn Thi-hào, Thi-bá,

    Hả ?

    Nơi tụ họp tao nhã

    Của các đại ký giả

    Của các đại văn nhân

    Và các đại học giả,

    Sao dám đốt ra tro,

    Láo thế, bà Thần Hoả,

    Hả ?

    Bốn ngàn năm văn hoá

    Lừng lẫy Đông-nam Á

    Có người Tổng Uỷ-viên

    Tài cao như Hy-mã,

    Trí rộng như biển cả,

    Hả ?

    Đại diện nước Việt-nam,

    Thật là đại danh giá,

    Hả ?

    Vậy mà dám đốt càn,

    Xạc-cờ-rê-cu-son cái bà Hoả !

    Hả ?

    (Tạp chí Phổ Thông số 201 ngày 15-10-1967)

    *


    Vài nét phác hoạ về Tao-đàn Bạch Nga

    của

    Nguyễn Vỹ

    Để các bạn có một ít ý niệm về Trường thơ Bạch Nga, chúng tôi xin trình bày sơ lược sau đây :

    1) Người chủ xướng : Nguyễn Vỹ.

    2) Xuất xứ : Đêm Trung-thu năm Bính-tý (30-9-36), trên một gác trọ ở Khâm-thiên (Hà-nội), Nguyễn Vỹ, Trương - Tửu, Mộng – Sơn thành lập Tao đàn Bạch Nga, một trường thơ có tính chất và nghệ thuật khác với thơ lúc bấy giờ.

    3) Biểu hiệu tượng trưng : Lấy hình một loài thuỷ điểu, Pháp gọi Le Cygne (thiên nga). Để tránh lầm lẫn Hắc Nga, Bạch Nga, nhóm quyết định lấy tên Bạch Nga (loại toàn trắng).

    4) Ý nghĩa biểu hiệu : Tượng trưng cho Thi-văn thuần tuý, tinh khiết như màu trắng của nó, uyển chuyển như dáng điệu của nó.

    5) Tinh thần của Thơ : Chuộng sự tự nhiên cảm xúc mà phát xuất từ tâm hồn thi nhân, như dòng suối trong vắt từ mạch nguồn tinh khiết chảy ra. Từ những tình cảm tha thiết, thầm kín của nội tâm, chuyển qua các phù trầm của số kiếp con người, của toàn thể nhân loại, và vươn lên hoà hợp với vẻ thanh tao huyền bí của vũ trụ.

    6) Hình thức và nhạc điệu Thơ : Hạn định từ 2 chữ đến 12 chữ. Lấy điển hình như bài : Tiếng sáo đêm khuya, Đêm giao thừa tắm biển, Cám ơn Ngài, Gửi Trương-Tửu trong tập thơ Hoang vu.

    (Trích trong Tuyên ngôn của Tao-đàn Bạch Nga làm tại Sài-gòn, mùa thu 1962)


    —™




    T.T.KH.

    ĐÃ lâu lắm rồi, suốt khoảng thời gian 30 năm qua, từ năm 1937, trên thi đàn Việt Nam đột nhiên xuất hiện một thi nhân làm chấn động dư luận không ít, người ấy mang bút hiệu T. T. Kh.

    Đột hiện rồi đột biến, người ta không biết T. T. Kh là ai ?

    Khốn nỗi, T. T. Kh. chỉ lưu lại có bốn bài thơ mà lại là những bài thơ tình lâm ly, chứa đựng nỗi niềm u ẩn của một cô gái đang dậy lòng yêu với một chàng nghệ sĩ, nhưng vì sự khắt khe của gia đình phong kiến, nàng phải xa cách người yêu để đi lấy một ông chồng luống tuổi. Mộng đẹp dở dang, mượn mấy dòng thơ, nàng kêu lên những tiếng bi thương gợi cảm.

    Thế là thiên hạ đổ xô đi tìm người con gái đáng thương ấy. Nhiều khách yêu thơ đa tình nhôn nhao lên cho rằng T. T. Kh. là người yêu của mình, rồi lên tiếng đáp lại xôn xao ; ngoài Thâm Tâm, còn có Nguyễn-Bính (xin tham khảo bào Giòng dư lệ trong phần thi tuyển Nguyễn-Bính, thi nhân đã cảm hứng viết nên để tặng T. T. Kh. sau khi đọc Bài thơ thứ nhất), J. Leiba cũng thổn thức không kém và bao nhiêu người thích mơ màng cái hình bóng chơi vơi ấy đã gây ra một trường náo động.

    Từ dạo ấy đến nay, T. T. Kh. đã làm cho nhiều người thắc mắc về thân thế của nàng. Người ta chỉ biết mường tượng về nàng với tên T. T. Kh. có người cho rằng đó là Trần Thị Khánh, lại có người bảo rằng T. T. Kh. tên thật là : Thâm-Tâm Khánh.

    Sở dĩ có tên Thâm-Tâm-Khánh vì một số khách yêu thơ luận cứ vào những bài thơ của Thâm-Tâm như các bài : Gửi T .T. Kh, Dang dở, Màu máu ty-gôn v.v… (xin xem phần nói về Thâm-Tâm) nhất là bài Gửi T. T. Kh, Thâm-Tâm nhắc đến tên một người con gái là Khánh, và cũng vì lẽ đó nên người ta cho rằng T. T. Kh là Khánh.

    Chúng tôi xin trích ra đây một vài đoạn thơ trong bài Gửi T.T.Kh. để các bạn hiểu thêm :

    Miệng chồng Khánh gắn trên môi,

    Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ.

    hoặc :

    Góp hai thứ tóc đôi đầu,

    Sao còn đan nối những câu tâm tình,

    Khánh ơi ! Còn hỏi gì anh

    Lá rơi đã hết màu xanh màu vàng.

    Chính bài thơ này, nhiều người đã căn cứ vào những câu của thi sĩ Thâm-Tâm nhắc đến mà người ta gán cho T. T. Kh. là Thâm-Tâm-Khánh.

    Trở lại với phần đầu, chúng tôi xin trình bày sự xuất hiện của T. T. Kh trong làng thơ tiền chiến.

    Vào ngày 27 tháng 9 năm 1937, trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy số 174 xuất bản tại Hà-nội có đăng một tiểu thuyết tựa đề : Hoa ty-gôn, tác-giả là ông Thanh-Châu. Nội dung kể lại mối tình ngang trái giữa một chàng nghệ sĩ và nàng thiếu nữ. Câu chuyện gợi lại mối xúc cảm đến tình xưa của người thiếu phụ từng yêu một người và đã trao lời gắn bó dưới dàn hoa ti-gôn. Nhưng rồi chàng trai ra đi ; nàng ở lại nhận một cuộc hôn nhân gượng ép. Tiếng lòng của nàng được ghi lại thành tiếng thơn hư để giải toả niềm tâm sự.

    Sau báo phát hành chẳng bao lâu, toà soạn nhận được của người thiếu phụ trạc 20 tuổi, hình dáng bé nhỏ, vẻ thuỳ mị, nét mặt u buồn, mang đến một phong bì dán kín gửi cho ông chủ bút, trong ấy chỉ gọn có bài Hai sắc hoa ty-gôn dưới ký tên T. T. Kh.

    Khi thiếu phụ đi rồi, toà soạn xem thơ nhận thấy thi phẩm ghi lại tình cảm đáng thương tâm, nhưng người ta chỉ nhớ lờ mờ hình ảnh thiếu phụ. Có thể nói đây là lần thứ nhất thiếu phụ xuất hiện và cũng là lần cuối cùng. Rồi từ đó, khoá chặt tung tích của “ người con gái vườn Thanh ”.

    Trong bài Hai sắc hoa ty-gôn tác giả đã thuật lại một câu chuyện tình tan vỡ giữa nàng và chàng nghệ sĩ trót đã yêu nhau, song hoàn cảnh trái ngang, nàng phải gạt nước mắt nên duyên cùng người khác – một ông chồng luống tuổi – để rồi tan nát tâm tư mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của một thời quá khứ mà giờ đây không bao giờ nàng gặp lại.

    Về lai lịch ông chồng luống tuổi của T. T. Kh, trong thiên hồi ký của ông Anh-Đào đăng trong Nhân loại bộ mới số 108 tháng 7 năm 1958, cho chúng ta biết như sau :

    “ Giờ đây, trở lại với T. T. Kh. một điều mà chúng ta cũng nên biết rõ là người chồng bất đắc dĩ của T. T. Kh. là Nghiêm (ông Thanh-Châu trong Tiểu thuyết tuần san số 82 ngày 12-3-1964 đã quả quyết chồng T. T. Kh tên Nghiêm, LNS) nên trong thơ có một vài chữ Nghiêm làm ta cần chú ý. Nàng dùng chữ thật là… táo bạo, nhưng lại rất đứng đắn. Ta không còn có thể đổi tiếng nào hơn và đúng đắn với
  • Loading...