0077.00027_satsukiphan (type done) + thaole92 đã soát xong

7/5/16
0077.00027_satsukiphan (type done) + thaole92 đã soát xong
  • :rose:
    - Người đẹp (truyện ngắn, Tiểu thuyết thứ bảy số 440, 21-11-1942)

    - Bông lan trần mộng (T.T.T.B. số 440, 441, 442, 1942)

    - Tặng người yêu thơ (truyện ngắn, T.T.T.B. số 451, 6-3-1943)

    - Vương một chút thương ai (truyện ngắn, T.T.T.B. số 456, 10-11-1943)

    - Hiếu khách (truyện ngắn, T.T.T.B. số 7, 12–1944) v.v…

    Thơ của ông rất nhiều, thường đăng trên các báo hay tạp chí mà không thấy xuất bản thành bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào.

    Về điệu thơ, ai cũng công nhận rằng thơ của Thâm–Tâm có một âm điệu trầm buồn giống như Nguyễn – Bính, ông thường kể lể những chuyện tình man mác, bâng khuâng. Tuy nhiên trong cái buồn thương nuối tiếc đó, Thâm–Tâm pha lẫn một giọng điệu rắn rỏi chứ không như một Xuân-Diệu lãng mạn, tình tứ, hay một Huy–Cận yếu đuối, đa sầu.

    Trong cuộc đời của thi sĩ Thâm–Tâm có một vấn đề trọng đại mà kẻ yêu thơ không sao quên được, đó là cuộc tình duyên nửa hư nửa thực của Thâm–Tâm và nữ sĩ T.T.Kh., tác–giả bài thơ Hai sắc hoa ty – gôn.

    Câu chuyện tình của hai nhà thơ một nam một nữ đã tạo thành một giai thoại thi ca kỳ thú và cũng nhờ đấy mà nền thi ca Việt–nam tiếp nhận được những bài thơ tình trác tuyệt còn vang dội mãi về sau.

    Mà hễ nhắc đến Thâm–Tâm thì người ta lại nhớ ngay đến T.T.Kh. Suốt khoảng thời gian cực thịnh của nền thi ca tiền chiến Thâm–Tâm và T.T.Kh đã là đầu đề cho dư luận và trở thành một “Vụ án Tao – đàn” mà mãi đến nay người ta vẫn không biết gì sáng tỏ hơn về câu chuyện tình bí ẩn của Thâm–Tâm và T.T.Kh.

    Đến đây chúng tôi xin mạn phép đóng ngoặc về thi sĩ Thâm–Tâm và T.T.Kh. Vấn đề này sẽ được đề cập tỉ mỉ hơn ở phần khảo luận.

    Thâm–Tâm chính thức góp mặt vào làng thơ tiền chiến từ năm 1938. Sau khi chiến tranh Việt–Pháp bùng nổ, Thâm–Tâm cũng như bao nhiêu người Việt yêu nước khác. theo tiếng gọi của quê hương, ông gia nhập kháng chiến. Đến khi chiến tranh chấm dứt, cùng chung số phận với các văn thi sĩ khác, ông bị ở lại bên kia phần đất mẹ, từ đó Nguyễn tuấn Trình đành gác bút thôi kể lể chuyện yêu thương, mà còn có chăng cũng chỉ là những tiếng nức nở nghẹn ngào !

    Theo tin gần đây được biết, thi sĩ Thâm–Tâm đã chết bên bờ sông Đuống ở đất Bắc. Như vậy phải kể là một sự mất mác không nhỏ đối với nền thi ca đất nước.


    VÀO khoảng năm 1938, khi phong trào thơ mới đang hồi cực thịnh, một thi nhân trẻ âm thầm đi vào làng thơ với những bước không rập rình, nhộn nhịp như những nhà thơ khác; thi nhân mang tâm trạng của một khách lữ hành cô độc, đang đi trên đoạn đường tình dang dở : chàng thi nhân ấy là Thâm–Tâm Nguyễn tuấn Trình.

    Rồi một sự kiện ngẫu nhiên đã đưa chàng thi nhân khiêm nhượng trở thành đề tài sôi nổi cho một giai đoạn thi ca lúc bấy giờ mà hai nhân vật chính là : thi sĩ Thanh–Tâm và nữ sĩ T.T.Kh.

    Thực vậy, thi nghiệp của Thâm–Tâm đã dính liền với mấy vần thơ của người con gái vườn Thanh (xin xem phần T.T.Kh. ở trước).

    Từ dạo những bài thơ của T.T.Kh xuất hiện trên báo Tiểu thuyết thứ bảy và những bài thơ trả lời của Thâm–Tâm, rồi lại những bài thơ tiếp nối của T.T.Kh. đã khiến tên tuổi của T.T.Kh. cũng như Thâm–Tâm nổi tiếng và vang vọng mãi dư âm.

    Trong giai đoạn này có nhiều luồng dư luận khác biệt đối với hai nhân vật mang bút hiệu Thâm–Tâm và T.T.Kh.

    Có người cho rằng chính Thâm–Tâm là người tình của T.T.Kh.; lại có người bảo T.T.Kh. là Thâm–Tâm muốn mượn câu chuyện tình dang dở của nhân vật trong truyện ngắn Hoa ty–gôn của ông Thanh–Châu mà dựng nên nhân vật T.T.Kh. ; cũng lại có người cho rằng Thâm-Tâm không phải là T.T.Kh. mà cũng không phải là nhân tình nhân ngãi gì của T.T.Kh. cả.

    Bởi những dư luận trái ngược nhau nên có sự bàn tán sôi nổi về câu chuyện tình giữa hai người.

    Thật ra câu chuyện tình dang dở này không có gì ly kỳ cho lắm để phải tốn hao bao nhiêu giấy mực. Nó chỉ là câu chuyện một cô gái yêu chàng nghệ sĩ mà không được toại nguyện, sau phải lấy một ông chồng luống tuổi rồi làm thơ than khóc cho kiếp hoa của mình. Chỉ thế thôi ! Một câu chuyện xảy ra cũng như trăm ngàn câu chuyện tình khác, nhưng cái điểm then chốt đã khiến xáo động dư luận là sự ẩn tính của T.T.Kh., và T.T.Kh. đã khóc than như để trút bớt nỗi niềm đau khổ trên những dòng thơ, mà lại là những dòng bi thiết, gợi cảm.

    Ba mươi năm trôi qua, thời gian đằng đẳng ấy không đủ xóa đi một nghi vấn trong câu chuyện tình mang nhiều bí ẩn và ngang trái đau thương.


    Giờ đây chúng ta hãy thoát khỏi ràng buộc của những chứng minh có tính cách sử liệu để đi sâu vào thế giới tâm tình của Thâm–Tâm.

    Nếu có cái bất ngờ đã giúp người ta phát minh những tiến bộ khoa học, thì ở địa hạt thi ca cũng có nguyên do đột khởi đã tạo ra thi tài.

    Người ta nói, trước khi để chân vào làng thơ, Thâm–Tâm chỉ là một họa sĩ trình bày các báo, viết đôi chuyện ngắn tâm tình nhỏ nhặt.Thế rồi, vì một bài thơ than khóc của người thiếu phụ T.T.Kh. đã kích thích hồn thơ nhà họa sĩ xúc động mạnh, tiếng lòng bỗng bật lên thành tiếng thơ rung cảm, vén màn cho câu chuyện tình lâm ly, bi thiết.

    Vượt khỏi thời kỳ chập chững của người thơ, những thi bản đầu tay của Thâm–Tâm ngang nhiên như những sáng tác lớn. Nó là tặng phẩm ân huệ của nàng Thơ đã chiếu cố người họa sĩ tài hoa trong một lúc xuất thần cấu tạo những vần thơ đau thương dễ mến, thoát thai từ câu chuyện tình như được dốc cạn tự đáy lòng, hòa hợp với sự lựa chọn âm thanh, hội tụ đủ yếu tố căn bản đòi hỏi của thi ca. Thâm–Tâm mới chỉ cất một bước chân đầu là đã trở thành thi sĩ.


    Nhân đọc bài thơ Hai sắc hoa ty–gôn của T.T.Kh. thi nhân nhớ lại mùa thu năm nào tim lòng đã trao trọn vẹn cho người con gái vườn Thanh và từ đó thi nhân nuôi mộng yêu đương. Đến nay, bỗng nhiên nhận được tin sét đánh :

    Nếu biết rằng tôi đã có chồng,

    Trời ơi ! người ấy có buồn không ?

    (Hai sắc hoa ty–gôn – T.T.Kh.)

    Chỉ buồn thôi à ? – Sao không bảo là đã “giết người” ? Sự xúc động đột ngột đã khiến thi nhân như thấy cả một vũ trụ sụp đố:

    K..: hỡi ! người yêu của tôi ơi !

    Nào ngờ em giết chết một đời !

    Dưới mồ đau khổ anh ghi nhớ,

    Hình ảnh em hoài, mãi thế thôi.

    “ Em có nhớ ngày nào anh chỉ cánh hoa ty-gôn mà…

    Bảo rằng : Hoa dáng như tim vỡ,

    Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi !

    “ thì em vô tư lự gieo vào lòng anh niềm tin vững chắc ở “ ái tình :

    Cho nên cười đáp: “ Màu hoa trắng

    Là chút lòng trong chẳng biến suy. ”

    (Hai sắc hoa ty – gôn – T.T.Kh.)

    Nhớ lại hồi nào cả hai đã lấy hoa ty–gôn làm chứng vật cho lời nguyện ước trăm năm của đôi mái đầu xanh. Riêng thi nhân thì :

    Quên làm sao được thuở ban đầu,

    Một cánh ty–gôn dạ khắc sâu.

    Một cánh hoa xưa màu hy vọng

    nhưng :

    Nay còn dư ảnh trái tim đau.

    Thế rồi, ngày nay, ai kia đã “ phụ lời nguyện ước ”, gởi trả cánh hoa xưa, màu sắc đã tàn phai. Nhìn hoa mà máu tim như rơi từng giọt :

    Người ta trả lại cánh hoa tàn,

    Thôi thế tình duyên cũng dở dang.

    Màu máu ty–gôn đà biến sắc,

    Tim người yêu cũ phủ màu tang.

    Nhìn lại đời mình bằng cặp mắt thất vọng vì sự thua thiệt trong tình yêu, thi nhân đã dệt nên những lời thống thiết :

    Khi biết lòng anh như đã chết,

    Mây thôi hồng và lá cũng thôi xanh.

    Màu hoa tươi cũng héo ở trên cành,

    Và vũ trụ thảy một màu đen tối.

    rồi hồi tưởng kỷ niệm xưa :

    Anh cố giữ lòng anh không bối rối,

    Để mơ màng tưởng nhớ phút giây xưa.

    Em cùng anh sánh gót dưới bóng dừa,

    Một đêm trăng sáng trên đường đá đỏ.


    Em nói những gì ? Anh còn nhớ rõ,

    Nhưng làm sao ? Ai hiểu tại làm sao ?

    Chim muốn bay, cũng giữ chẳng được nào,

    Tình đã chết có mong gì sống lại.

    Thi nhân đã chỉ thốt lên lời kêu đau của một linh hồn thống khổ :

    Anh biết làm sao được hở trời !

    Dứt tình không nỡ, nhớ không thôi

    Thôi em hãy giữ cành hoa úa,

    Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời.

    Thật hay ! nhưng cũng vô cùng thảm não. Thở than cho mảnh tình nay không còn nữa. Tình ái đã thay dạng đổi hình, những kỷ niệm giờ đây còn chăng cũng chỉ là mộng ảo.

    Rồi thi nhân cố thu can đảm để chấp nhận sự ra đi của người yêu, tuy cũng có cái gì lưu luyến :

    Anh không trách chi em điều ngang trái,

    Anh không buồn số kiếp quá mong manh !

    Có gì đâu khi bướm muốn xa cành,

    Anh cứ tiếc cái gì xưa đã chết.

    Thi nhân biết lắm ! biết tình của mình rồi đây “ con bướm sẽ xa cành ” nên đã mượn đôi dòng thơ để than cho mộng tình tan vỡ :

    Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết,

    Anh càng buồn, càng muốn kết thành thơ.

    Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ,

    Đây là bài thơ chót kính dâng tặng bạn.

    Và như đã quyết định điều gì quan trọng, thi nhân vội viết thêm :

    Và thành chúc đời em luôn tươi sáng,

    Như mộng kiều đầm ấm tuổi xuân xanh,

    Như hương trinh bát ngát ý dịu lành,

    Hòa nhạc mới triều dâng tơ Hạnh–phúc:

    Gạt bỏ tình xưa, lòng người trai bỗng dưng bừng sống mạnh. Người quyết ý tái tạo cuộc đời, phủ nhận những ngày qua :

    Chiều nay lạnh, có nhiều sương rơi quá,

    Nhưng lòng anh đã bình thản lại rồi.

    Hết đau buồn và cảm thấy sục sôi

    Niềm uất hận của một thời lạc lối.

    Lạc lối vì đã đem đời trai “ cung phụng sóng mắt huyền ”. Thi nhân tự thú :

    Lấy nghệ thuật làm trò hề múa rối,

    Đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền.

    Để khẩn cầu xin một nụ cười duyên ;

    Nàng kiều nữ chốn lầu hoa thầm kín.

    Có người cho rằng cái buồn của Thâm–Tâm là cái buồn của khách tình si khi tình yêu tan vỡ. Điều này chưa hẳn là đúng, vì mặc dù thơ Thâm–Tâm chứa đựng tình buồn, nhưng khi Thâm–Tâm đã làm một khúc quanh quan trọng trong dòng đời ; bỗng nhiên khách yêu thơ như đón nhận được một luồng gió mới từ chất thơ hùng tráng của người thi sĩ đa tình lúc đã bừng tỉnh mộng yêu đương. Thi bản Tống biệt hành đã nói lên ý chí chuyển hướng ấy :

    Cuộc ly biệt nào ngờ vừa đúng lúc,

    Lòng bâng khuâng, bối rối trước khúc quanh ;

    Đi không đành, mà ở cũng không đành,

    Muôn chim Việt hãy về thành Nam cũ.

    rồi người thi nhân của chúng ta bắt chước Thái tử Yên–Đan đưa chàng tráng sĩ Kinh–Kha sang bờ sông Dịch :

    Bắc phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn

    Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.

    (Gió đưa sông Dịch lạnh lùng,

    Ra đi chiến sĩ quyết không trở về.)

    Cuộc tiễn đưa của Thâm–Tâm ta thấy nhiều hứa hẹn hơn :

    Đưa người, ta không đưa sang sông,

    Sao có tiếng song ở trong lòng?

    Bóng chiều không thắm, không vàng vọt.

    Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.

    Đưa người ta chỉ đưa người ấy,

    Một giã gia đình, một dửng dung.

    Ly khách, ly khách, con đường nhỏ

    Chí lớn chưa về bàn tay không.

    Thì không bao giờ nói trở lại,

    Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

    …………………………………….

    Người đi, ờ nhỉ ! người đi thực !

    Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

    Chị thà coi như là hạt bụi;

    Em thà coi như hơi rượu say.

    Bài thờ Tống biệt hành trên của Thâm–Tâm đã được giới yêu thơ tiếp đón như những gì mới lạ và nhận thấy một sự thay đổi trong ý thơ và một biến chuyển tâm hồn của thi sĩ Thâm–Tâm.

    Khác với những bài thơ Gửi T.T.Kh, Màu máu ty–gôn, Dang dở v.v… khóc than cho câu chuyện tình tầm thường. Ở đây, ngược lại, Thâm–Tâm trút bỏ cái vỏ ủy mị cố hữu, đổi giọng điệu rắn rỏi, cương quyết để nói lên cái chí khí của người trai trong thời chinh chiến.

    Người con trai chỉ biết có nhiệm vụ, có tương lai, có sự nghiệp mà gạt bỏ tất cả mọi thứ tình yêu đang vướng bận sau lưng, cất cao giọng hào hùng :

    Thăng–long đất lớn chí tung hoành,

    Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh.

    Một lứa chung tình từ tứ chiến,

    Hội nhau vầy một tiệc quần anh.

    Hội nhau giờ đây cũng đã muộn lắm rồi, bởi vì :

    Trong khi ấy thanh niên không bịn rịn,

    Giã gia đình, trường học để ra đi.

    Họa xâm lăng đe dọa ở biên thùy,

    Kèn gọi lính giục lòng trai cứu quốc.

    Thâm–Tâm tin tưởng sẽ thành công và nhất định phải thành công, vì :

    Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch,

    Ta ghét hoài câu nhất khứ hề !

    Thật vô cùng khẳng khái, giọng thơ rắn rỏi ấy đủ chứng tỏ Thâm–Tâm không phải là một thi nhân chỉ làm thơ ẻo lả mà thôi, ngược lại ông còn là một nhà thơ hùng tráng có tài nữa.

    Chúng tôi mượn mấy dòng sau này để thay lời kết luận về thi sĩ Thâm-Tâm vậy.

    (Ấn bản kỳ nhì 7 – 1968)




    Thi tuyển

    Màu máu ty–gôn

    Gửi T.T.Kh…

    tác giả bài thơ “ Hai sắc hoa ty -gôn ”



    Người ta trả lại cánh hoa tàn,

    Thôi thế duyên tình cũng dở dang !

    Màu máu ty–gôn đà biến sắc.

    Tim người yêu cũ phủ màu tang !


    K… hỡi ! người yêu của tôi ơi !

    Nào ngờ em giết chết một đời !

    Dưới mồ đau khổ anh ghi nhớ

    Hình ảnh em hoài, mãi thế thôi.


    Quên làm sao được thuở ban đầu,

    Một cánh ty–gôn dạ khắc sâu !

    Một cánh hoa xưa màu hy vọng !

    Nay còn dư ảnh trái tim đau.


    Anh biết làm sao được hỡi trời !

    Dứt tình bao nỡ, nhớ không thôi !

    Thôi em hãy giữ cành hoa úa,

    Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời !

    *

    Gửi T.T.Kh

    Các anh hãy uống thật say,

    Cho tôi uống những cốc đầy rồi im.

    Giờ hình như quá nửa đêm,

    Lòng đau mang lại cái tin cuối mùa.

    Hơi đàn buồn như trời mưa,

    Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi.

    Giờ hình như ở ngoài trời,

    Tiếng xe đã nghiếng rã rời ra đi.

    *

    Hồn tôi lơ mờ sương khuya,

    Bởi chưng tôi viết bài thi trả lời.

    Vâng, tôi biết có một người,

    Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng.

    Để hôm sau khóc trong lòng,

    Vâng, tôi vẫn biết cánh đồng thời gian.

    Hôm nay rụng hết lá vàng,

    Và tôi lỡ chuyến chiều tàn về không.

    Tiếng xe trong vết bụi hồng,

    Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ.

    Tiếng xe trong xác pháo xưa,

    Nàng đi có mấy bài thơ trở về,

    Tiếng xe mở lối vu quy

    Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời !

    Miệng chồng, Khánh gắn trên môi.

    Hình anh, mắt Khánh sáng ngời còn mơ,

    Từ ngày đàn chia đường tơ,

    Sao tôi không biết hững hờ nàng đan.

    Kéo dài một chiếc áo len,

    Tơ càng đứt mối, nàng càng nối dây.

    Nàng còn gỡ mãi trên tay,

    Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.

    Góp hai thứ tóc đôi đầu,

    Sao còn đan nối những câu tâm tình ?

    Khánh ơi ! Còn hỏi gì anh ?

    Lá rơi đã hết màu xanh màu vàng.

    Chỉ kêu những tiếng thu tàn,

    Tình anh đã chết anh càng muốn xa.

    Chiều tan, chiều tắt, chiều tà,

    Ngày mai, ngày mốt, vẫn là ngày nay.

    Em quên mất lối chim bay,

    Và em đã chán trông mây trông mờ.

    Đoàn viên từng phút, từng giờ,

    Sống yên lặng thế em chờ gì hơn,

    Từng năm từng đứa con son,

    Mỉm cười vá kín vết thương lại lành.

    Khánh ơi ! còn hỏi gì anh ?

    Xưa tình đã vỡ, nay tình lại nguyên.

    Em về đan mối tơ duyên,

    Vào tà áo mới, đừng tìm duyên xưa.

    Bao nhiêu giọt lệ còn thừa,

    Hãy dành mà khóc những giờ vị vong.

    Bao nhiêu những cánh hoa hồng

    Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng, hồn cha.

    Nhắc làm chi chuyện đôi ta,

    Cuộc đời anh đã phong ba dập vùi…

    *

    Hãy vui lên, hỡi các anh,

    Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về

    Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe,

    Tiếng mùa lá chết đã xê dịch nhiều.

    Giờ hình như gió thổi nhiều,

    Những loài “ hoa máu ” đã gieo nốt đời.

    Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi,

    Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh.

    Sá chi những chuyện tâm–tình,

    Đau lòng đem chứa trong bình rượu cay !

    (Tiểu thuyết thứ bảy, số 307, 4 – 5 – 1940)

    *

    Dang dở

    Tặng T.T.Kh

    Khi biết lòng anh như đã chết,

    Mây thôi hồng, và lá cũng thôi xanh.

    Màu hoa tươi cũng héo ở trên cành

    Và vũ trụ thảy một màu đen tối.


    Anh cố giữ lòng anh không bối rối

    Để mơ màng tưởng nhớ phút giây xưa.

    Em cùng anh sánh gót dưới bóng dừa,

    Một đêm trăng sáng trên đường đá đỏ.


    Em nói những gì ? Anh còn nhớ rõ,

    Nhưng làm sao ? Ai hiểu tại làm sao ?

    Chim muốn bay, cũng giữ chẳng được nào,

    Tình đã chết, có mong gì sống lại !


    Anh không trách chi em điều ngang trái,

    Anh không buồn số kiếp quá mong manh !

    Có gì đâu khi bướm muốn xa cành,

    Anh cứ tiếc cái gì xưa đã chết.


    Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết,

    Anh càng buồn, càng muốn kết thành thơ ;

    Mộng đang xanh, mông hóa bơ phờ,

    Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn.


    Và thành chúc đời em luôn tươi sáng,

    Như mộng kiều đầm ấm tuổi xuân xanh,

    Như hương trinh bát ngát ý dịu lành

    Hòa nhạc mới triều dâng tơ Hạnh–phúc.


    Cuộc ly biệt ngờ đâu vừa đúng lúc,

    Lòng bâng khuâng, bối rối trước khúc quanh ;

    Đi không đành, mà ở cũng không đành,

    Muôn chim Việt hãy về thành Nam cũ.


    Chiều nay lạnh, có nhiều sương rơi quá,

    Nhưng lòng anh đã bình thản lại rồi.

    Hết đau buồn và cảm thấy sục sôi

    Niềm uất hận của một thời lạc lối.


    Lấy nghệ thuật làm trò hề múa rối

    Đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền.

    Để khẩn cầu xin một nụ cười duyên ;

    Nàng kiều nữ chốn lầu hoa thầm kín.


    Trong khi ấy, thanh niên không bịn rịn,

    Giã gia đình, trường học để ra đi.

    Họa xâm lăng đe dọa ở biên thùy,

    Kèn gọi lính giục lòng trai cứu quốc.


    Thôi em nhé ! từ đây anh cất bước,

    Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vui.

    Đừng buồn thương, nhớ, tiếc, hoặc ngậm ngùi,

    Muôn việc thảy đều do nơi số kiếp.

    *


    Tống biệt hành

    Đưa người ta không đưa sang sông,

    Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

    Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

    Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?

    Đưa người, ta chỉ đưa người ấy

    Một giã gia đình, một dửng dưng.

    - Ly khách ! Ly khách ! Con đường nhỏ.

    Chí lớn chưa về bàn tay không,

    Thì không bao giờ nói trở lại !

    Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.


    Ta biết người buồn chiều hôm trước,

    Bây giờ mùa hạ, sen nở nốt,

    Một chị, hai chị cũng như sen,

    Khuyên nốt em trai dòng lệ xót.

    Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay :

    Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay,

    Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc

    Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…


    Người đi ? Ừ nhỉ ! Người đi thực !

    Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

    Chị thà coi như là hạt bụi,

    Em thà coi như hơi rượu cay.


    Mây thu đầu núi, gió lên trăng,

    Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.

    Lỵ khách ven trời nghe muốn khóc,

    Tiếng Đời xô động, tiếng hờn câm.

    (Tiểu thuyết thứ bảy, 1940)

    *

    Vọng nhân hành

    Thăng–long đất lớn chí tung hoành,

    Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh.

    Một lứa chung tình từ tứ chiếng,

    Hội nhau vầy một tiệc quần anh.

    Mày gươm nét mác chữ nhân già,

    Hàm bạnh hình đồi, lưng cỗi đa.

    Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt,

    Chưa ngất men trời hả rượu cha.

    Rau đất cá sông gào chẳng đủ

    Nổi bùng giữa tiệc trận phong ba,

    Rằng: “ Đương gió bụi thì tơi tả.

    Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta ! ”


    Thơ ngâm dở giọng, thời chưa thuận.

    Tan tiệc quần anh, người nuốt giận,

    Chim nhạn, chim hồng rét mướt bay,

    Vuốt cọp, chân voi còn lận đận.

    Thằng thí cho nhàm sức võ sinh,

    Thằng bó văn chương đôi gối hận

    Thằng thư trói buộc, thằng giã quê.

    Thằng phấn son nhơ… chửa một về !

    Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch.

    Ta ghét hoài câu “ nhất khứ hề ”.


    Ngoài phố mưa bay : xuân bốc rượu,

    Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê,

    - “ Ới ơi bạn tóc ngoài trôi giạt,

    Chẳng đọc thơ ta, tất cũng về.

    (Tiểu thuyết thứ bảy, số 2, 7–1944)

    *

    Hoa gạo

    Non tím, vì tan hết nắng tà ;

    Đường buồn, bởi phố vắng người qua.

    Lòng ai bầm tím, ai buồn tối,

    Cũng tại rừng đời lạc lối ra.


    Hoa gạo hôm nay rụng với chiều,

    Để cành khô xác nứt như kêu.

    Từng cây một rách nào ai vá,

    Ai vá lành cây đã rách nhiều ?


    Tôi ngỡ nàng đi lượm cánh hoa,

    Biếu nàng với cả một bài ca.

    Nhưng hồn thi sĩ, hồn tư tưởng,

    Nhuộm máu trong tôi đỏ chói lòa !


    Ngó giọt hoa kia ngã xuống đường;

    Chao ơi ! Tôi sợ ở nhà thương.

    Bao nhiêu miệng thổ bao nhiêu huyết,

    Khi những lòng đau ngã xuống giường.

    (Tiểu thuyết thứ bảy, số 305, 20–4–1940)

    *

    Chết

    Lâu quá chừng ư độ bảy ngày,

    Mả người bạc mệnh cỏ chưa xây,

    Lòng thân nhân đã nguôi thương tiếc,

    Thưa cả hương thờ nhãng khói bay.


    Mấy đứa em thơ miệng đã cười,

    Ngày ngày đi nghịch cánh hoa tươi.

    Ai đâu nỡ hỏi sao nguồn lệ

    Khóc chị hôm nào đã vội thôi ?


    Mả lạnh không hoa hết cả hương,

    Hành nhân lạnh nhạt thiếu lòng thương.

    Dăm người tuổi tác qua thăm viếng

    Một buổi rồi quên mất độ đường.


    Cơm cúng thưa dâng bữa khuyết đầy,

    Bụi mờ linh vị… Đến chiều nay,

    Bỗng dưng dì ghẻ buồn vô cớ,

    Thầm tính thời gian bấm đốt tay.


    Rồi thản nhiên sai hóa bát nhang

    Và thiêu bài vị - kẻo màu tang

    Càng lâu càng xúi cho gia vận.

    - Từ đó mồ ai rặt cỏ vàng.

    *

    Một mảnh tình (?)

    Đôi lứa phương tâm, một mảnh tình.

    Như trăng, vàng mở vẹn gương trinh

    Chén sen ráo miệng, thề pha lụy ;

    Quạt trúc trao tay, ước lỗi hình.


    Gió trái luống gào duyên cựu mộng,

    Dây oan chi riết chí kim sinh !

    Say ngùi, ta đốt tương tư thảo,

    Bóng khói qua mây, lại nhớ mình...

    (Trích trong truyện Lá quạt hoa quỳ, Tiểu thuyết thứ bảy số 416, ngày 6-6-1942)

    *


    Ngậm ngùi cố sự

    Lảo đảo năm năm lệ mấy hàng,

    Ngậm ngùi cố sự, bóng lưu quang.

    Cuối thu, mưa nát lòng dâu biển,

    Ngày muộn, chuông đau chuyện đá vàng.

    Chán ngán nhân tình, sầu ngất ngất,

    Già teo thân thế, hận mang mang…

    Hẹn cùng trời đất mòn xuôi ngược,

    Chí lớn không đầy nửa tấc gang.

    (Tiểu thuyết thứ bảy)

    *

    Vạn lý trường thành (I)

    Trăng thấm nghìn đêm lệ chửa khô,

    Nghìn muôn vợ trẻ nhớ trai phu.

    Đầy kinh, sương muộn mang tang tóc,

    Chia khắp lòng dân oán tỏa mờ…


    Mưa rửa nghìn đêm máu chửa phai,

    Nghìn muôn trai tráng sống còn ai ?

    Trăm thân già héo, trăm triều xế,

    Lặng kiếm hồn con xuất ải dài..


    Những xóm thanh bình khói bếp thưa ;

    Miếng chiều thay sớm, mớm con thơ,

    Nàng dâu gầy võ nuôi thân lão,

    Nhịn đói chờ lương kẻ thú phu.


    Có những sơn thôn hết cả trai.

    Già thường quán dịch lễ Khâm–sai.

    Dăm người già trẻ ca vương ý,

    Cười để thầm chôn tiếng khóc dài.


    Hỡi ôi ! Huyết hãn triệu lê dân,

    Chất lại ngoài biên một triệu lần,

    Xây trọn Trường–thành muôn dặm vững,

    Thì muôn trường hận đắp càng căm !


    1) Đây là bài thơ trình bày quan niệm nhân đạo, yêu chuộng hòa bình và chống bất công áp bức.

    Ở đây, dấy vết một kỳ công

    Của quốc vương này cắt núi sông.

    Với quốc vương kia thời buổi đó,

    Ngai vàng đúc bởi máu Trinh–trung.


    Cửa ải xa xa, cửa ải gần,

    Chiều soi bóng nhạt, đám tàn dân.

    Trong đời sống sót còn than oán,

    Kiếp vạn cô hồn kiếp vạn xuân.


    Nghìn thu đi vụt có nghìn tang,

    Chia với thành xưa dấu vết tàn…

    Ngoại khách ngậm ngùi tìm cố cảnh ;

    Mấy tầng đổ nát mấy tầng hoang !

    Đất đá không bền để kỷ công,

    Đến giờ thiêu hủy với non sông.

    Họa ra, còn sót mươi nền gạch,

    Hát với Càn–khôn nắm bụi lòng !


    Ta hỏi : nghìn xưa, đem máu xương

    Đắp Trường–thành để vững ngai vương.

    Nhà Tần cũng mất ? và sau đó,

    Vô dụng, thành kiên cũng đoạn trường !

    Và cả Trung–hoa vỡ tựa bình.

    Đến giờ quốc hận máu còn tanh.

    Mà nguồn huyết lệ sao nhân loại,

    Tưới mãi không ngừng vạn chiến tranh.

    *

    Chào Hương–sơn

    Thôi chào tất cả non Hương !

    Thôi chào, ôi, tiếng tầm thường mà đau !

    Một phen tri kỷ cùng nhau,

    Khói sương trời đã nhuốm màu thời gian.
  • Đang tải...