0077.00029_Uyên Bùi (type done) + thaole92 đã soát xong

9/5/16
0077.00029_Uyên Bùi (type done) + thaole92 đã soát xong
  • :rose:
    Như bao thi nhân khác, Vũ hoàng Chương cũng đem tình yêu vào thơ của mình rất nhiều, những nguồn hy vọng yêu thương ở đó, tác giả đã nuôi sống bằng tinh thần tuyệt đối, ông không hề giấu giếm khi thổ lộ tình yêu của mình.

    Đây, ta hãy bắt đầu vào thiên tình hận của họ Vũ.

    Từ cái thuở ban đầu người trai khám phá ra vẻ đẹp xinh mởn chứa đựng trên cơ thể đang độ nhựa đời như men dậy :

    Anh biết em từ độ

    Em mới tuổi mười hai

    Anh yêu em từ thuở

    Em còn tóc xõa vai.


    Vượt qua phút bỡ ngỡ đầu tiên, thế rồi họ quen nhau. Khi bắt đầu nhắp chén men tình, người ta còn quên việc trời đất đang xoay chuyển thì nhớ sao ra ranh giới thời gian nào đã ghi lại mối tình đầu, vì vẻ đẹp cơ hình và ái tình thấm đượm một cách lờ mờ, tiệm tiến ; nó lan tỏa nhẹ nhàng, dịu ngọt rồi đến độ ngất ngây. Họ chỉ nhớ mang máng là đã lâu lắm rồi :

    Lâu rồi không nhớ bao nhiêu năm

    Từ độ trông nhau hết lạ lùng,

    Từ hôm bên nhau thôi ngượng ngùng,

    Từ buổi xa nhau mà nhớ nhung.

    Em đã nao lòng anh mê man,

    Đôi mắt đầu môi tình chứa chan.

    Đêm thường mơ đêm, ngày đợi ngày,

    Nhưng không hề nói cho nhau hay.


    Họ yêu trong thầm lặng. Họ còn đang giằng co chờ đợi « đối phương » chiến bại thốt lên tiếng nói trước tiên là đã « yêu ». Nhưng không, lòng họ kiêu hãnh lắm ! Thời gian qua. Đã sáu năm rồi mà cuộc « tương tranh » vẫn chưa dứt khoát :

    Tháng ngày đi mau quá

    Chốc đã sáu năm trời

    Tình anh vẫn chưa hiểu

    « Chưa » là « không » em ơi

    Em vẫn tin anh lắm


    Em vẫn mến anh nhiều

    Nhưng em tin em mến

    Đâu phải là em yêu

    Trái tim hờ hững ấy

    Đâu thổn thức vì anh

    Anh cũng không hề chịu

    Van xin một ái tình.


    Không van xin ! Được rồi, nhưng ngọn trào lòng cứ dâng lên mãi. Ta hãy lắng nghe Vũ hoàng Chương kể lại hương vị dịu ngọt của ái tình :

    Mến kín thương thầm em với anh

    Không hay yêu nhau từ bao giờ.

    Chập chờn bến Thực hay nguồn Mơ

    Hay chính bâng khuâng là ái tình.

    Yêu mà còn nghi lòng người yêu,

    Đến cả chưa tin mình đương yêu.

    Hương tình – ôi dịu nhẹ bao nhiêu !


    Trong một buổi chiều nắng nhạt, khi họ đắm đuối trong nguồn yêu, ngày giờ không còn nghĩa lý gì cả vì họ đã kiêu hãnh là chúa tể của thời gian :

    Nắng ngả còn chưa tin là chiều,

    Lá đổ còn chưa là mùa thu,

    Còn đợi trời phai chờ sương mù

    Cãi lòng lưu luyến chưa là yêu.


    Thế thường trong tình yêu, có mấy ai tránh được đôi lúc hờn giỗi nhau. Vũ hoàng Chương cũng không thoát khỏi thông lệ ấy. Nhưng thương hại thay, họ Vũ lại phải hứng chịu một hậu quả quá bi đát. Nó là nỗi đau đớn xé lòng, một tuyệt vọng não nuột, mà cũng là một điển hình cho thế thái nhân tình, giúp Vũ hoàng Chương nhận chân được nghĩa yêu, nghĩa đời. Nó ảnh hưởng buồn đau dai dẳng trong đời sống tinh thần của thi nhân từ Thơ say, qua Mây, lan rộng đến Rừng phong và suốt cả Hoa đăng nữa. Đây, ta hãy xem thiên tình sử bắt đầu rạn vỡ :

    Tối qua em ngồi học,

    Lơ đãng nhìn đi đâu.

    Dưới đèn anh thoáng nhận

    Nét mặt em rầu rầu.


    ‒ Em buồn ? anh gặng hỏi

    Mấy lần, em chẳng nói.

    Rồi anh không biết vì sao


    Đẩy ghế đứng lên em giận giỗi.


    Rũ tung làn tóc, rún đôi vai


    Em vùng vằng

    Ôm bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào vở

    Sang phòng bên


    Không học nữa,

    Không cho ai vào nữa,

    Cũng không thèm nghe nữa,

    Lời thiết tha anh van gọi mái ngoài.


    Cũng tưởng câu chuyện như làn gió thoảng gợn mặt hồ thu rồi tình thu lại lai láng. Nào ngờ, sự kiện là phản ứng của nguyên do khi ái tình biến dạng. Rồi mối tình đầu ấy kết thúc bằng sự ra đi lấy chồng của nàng, để lại thi nhân một linh hồn dật dờ sống dở, chết dở. Niềm đau đớn cấu xé tâm can, rạch nát cõi lòng của tấm chân tình son sắt đã mười năm nuôi dưỡng tấc lòng yêu, nay bỗng nhiên choáng váng như bị tiếng sét đánh lật nhào từ chiếc ngai vàng tình ái rớt xuống cùng thẳm của đau thương. Mối tuyệt vọng này có lần Vũ hoàng Chương thổ lộ với thi sĩ Bàng bá Lân bằng một giọng chua xót :

    « Khi mình định bỏ học ra làm việc sở Hỏa-xa thì « người ta » không phản đối. Đến lúc mình đi làm rồi thì « người ta » lại tuyên bố là không thích người làm ga ! Và « người ta » đi lấy chồng làm ông huyện. »

    Thế là :

    Giấc uyên ương liền cánh,

    Mộng trăm năm lứa đôi

    Êm đềm như tiếng hát

    Đã tan rồi, em ơi !...


    Ái tình đã phủi áo ra đi, lòng thi nhân trống trải, rét mướt như đang sống ở một tinh cầu giá lạnh. Những kỷ niệm yêu đương bấy lâu được coi như nguồn nhiệt lượng sưởi ấm tim lòng, giờ có còn sót chăng cũng chỉ mấy cánh thư vô nghĩa. Thi nhân nhìn thư mà ngậm ngùi cho thân thế :

    Hỡi năm tháng hãy đưa đường giấc điệp

    Yêu mê thế để mang sầu trọn kiếp

    Tình mười năm còn lại chút này đây

    Lá thư tình xưa nhớ lúc trao tay

    Còn e ấp thuở duyên vừa mới bén


    hay :

    Yêu một khắc để mang sầu trọn kiếp

    Tình mười năm còn lại mấy tờ thư

    Mộng bâng quơ hò hẹn cũng là hư

    Niềm son sắt ngậm ngùi duyên mỏng mảnh.

    Đọc lại những dòng thơ, thi nhân vẫn còn nghe phảng phất hương tình :

    Màu mực tươi xanh ngát ý mong chờ

    Tình hé nụ bừng thơm trong nếp giấy.


    Nhưng, hỡi ôi !

    Ôi thân mến nhắc làm chi thuở ấy

    Đêm nay đây hồn xế nẻo thu tàn

    Khóc chia lìa ai níu gọi than van

    Ta chỉ biết nằm nghe tình hấp hối


    Giờ thì còn đâu nữa. Cánh chim đã tung trời xa thẳm, để lại không gian một khoảng trống mênh mông :

    Yêu sai lỡ để mang sầu trọn kiếp

    Tình mười năm còn lại chút này thôi

    Lá thư xưa màu mực úa phai rồi

    Duyên hẳn thắm ở phương trời đâu đó.


    Khi tình chết, không ai không đau khổ khóc than. Vũ hoàng Chương cũng thế, tình yêu đến với thi nhân, nhưng lại ra đi quá sớm. Người con gái mới ngày nào cùng nhau nặng lời thề thốt, nguyện xây mộng trăm năm, nay nàng đã lạnh lùng cất bước sang ngang. Nàng đi thực, nhưng hình ảnh người yêu không thể xóa nhòa trong tâm tưởng thi nhân. Ngày nàng lên xe hoa là một ngày đầy kỷ niệm ‒ những kỷ niệm xót xa ‒ ngày ấy là ngày thi nhân phủ lên nấm mồ để chôn vùi khối u tình tuyệt vọng, ngày 12 tháng 6, thi nhân khóc :

    Tháng sáu mười hai ‒ từ đấy nhé

    Chung đôi ‒ từ đấy nhé lìa đôi


    hay :

    Mười năm thôi thế mộng tan tành

    Mười năm trăng cũ ai nguyền ước

    Tố của Hoàng ơi Tố của anh.


    Men khói đêm nay sầu dựng mộ

    Bia đề tháng sáu ghi mười hai

    Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc

    Tố của Hoàng nay Tố của ai.


    Trong phút chốc, ái tình xưa bừng dậy, nhưng nay đã tiêu tan ; lòng thi nhân tức tửi, nghẹn ngào, nỗi tiếc thương, sầu, khổ dồi dập một hồn đau đến tê dại, điên cuồng; ngàn đời không bao giờ quên lãng giây phút này :

    Tay gõ vào bia mười ngón Rập

    Mười năm theo máu hận trào rơi

    Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp

    Khúc Cổ Bồn Ca gõ hát chơi


    Kiều Thu hề Tố em ơi

    Ta đang đốt lửa tơi bời Mái Tây

    Hàm Ca nhịp gõ khói bay

    Hồ Xừ Xang Xế bàn tay điên cuồng


    Kiều Thu hề trọn kiếp thương

    Sầu cao ngùn ngụt mấy đường tơ khô

    Xừ Xang Xế Xự Xang Hồ

    Bàn tay nhịp gõ điên rồ khói lên.


    Hết than khóc, rên rỉ, kêu thương, rồi lại mỉa mai hờn trách khi linh hồn quá sa đọa trong ngục tù u tối của đau thương :

    Thôi hết nhé thỏa đi nguồn rạo rực

    Từ cung Trăng rơi ngã xuống trần gian

    Ta sắp uống bùn nhơ và Sự Thực

    Sẽ mai đây dày xéo Giấc Mơ tàn.


    Canh khuya hầu tàn, mà tình buồn còn vương vấn, nhưng cũng phải chia tay :

    Ta nhổ thuyền đây từ giã em

    Ái ân mồ đắp phía sau rèm

    Mênh mông đâu đó ngoài vô tận

    Một cánh thuyền say lạc hướng đêm.


    Như ta thấy, Vũ hoàng Chương phơi bày tấm chân tình thiết thạch trong mối tình đầu, thi nhân đã uống cạn giọt yêu đương, dù cho tình ai kia có phụ bạc. Những kỷ niệm êm đềm xưa, nay đã đi sâu vào dĩ vãng. Bao nguồn thương mến chỉ còn trơ một sự thật phũ phàng. Khổ đau vì tình yêu dang dở, Vũ hoàng Chương làm thật nhiều thơ để khóc than mối tình như hoa mộng, nhưng tình nghĩa đành giãy chết một chiều xưa. Xót thương cho tình yêu, nhưng cũng chán chường cho cuộc đời đổi trắng thay đen, cố quên nhưng không làm sao quên được, người thi nhân của chúng ta bèn tìm một lối giải thoát, và không ngần ngại lao mình trong men rượu đắng cay :

    Thuyền anh đi thôi nhé

    Xa nhau dần xa nhau

    Tôi về trên lưng rượu

    Đến đâu thì đến đâu


    Và người ta thấy thi nhân, vì thương tiếc mối tình xưa, đã âm thầm khóc, giọt lệ lã chã tuôn rơi như muốn hòa tan trong cốc rượu đắng cay, uống cho tê liệt giác quan để quên đi một thời si dại :

    Xin dốc hết nồng cay cho đến cặn

    Uống cho mê và uống nữa cho điên

    Rồi dang tay theo chậm gót nàng Men

    Về tắm ở suối Mơ nguồn Tuyệt Đối


    Hãy trộn lẫn trong men ngàn giọt lệ

    Thi nhân ơi họa sĩ hỡi cầm gia

    Để nỗi u buồn thầm kín bao la

    Lắng trong cốc với chàng si dại dột.


    Tiến thêm một bước, thi nhân vừa muốn mượn nhiệt độ của hơi men để khuây sầu, vừa muốn quay cuồng theo nhịp chân của giai nhân. Đây, ta hãy xem hình ảnh thi nhân bên bờ sa ngã :

    Hồn ngã lâu rồi nhưng chân còn dẻo

    Lòng chót nghiêng mà bước vẫn du dương

    Lòng nghiêng tràn hết yêu đương

    Bước chân còn nhịp nghê thường lẳng lơ

    Ánh đèn tha thướt

    Lưng mềm não nuột dáng tơ

    Hàng chân lả lướt

    Đê mê hồ gửi cánh tay hờ

    Âm ba gờn gợn nhỏ

    Ánh sáng phai phai dần.

    Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân

    Lui đôi vai, tiến đôi chân

    Riết đôi tay, ngả đôi thân

    Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió.

    Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ.

    Hãy thêm say còn đó rượu chờ ta

    Cổ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa

    Tay mềm mại bước còn chưa chuếnh choáng…


    (Mời say)

    Say sưa như thế nhưng vẫn thấy chưa quên được nỗi niềm đau xót, thi nhân còn muốn tăng thêm một độ :

    Say cho lơi lả ánh đèn

    Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt.

    Rượu, rượu nữa và quên, quên hết…

    Ta quá say rồi;

    Sắc ngã màu trôi,

    Gian phòng không đứng vững.

    Có ai ghì hư ảnh sát kề môi ?

    Chân rã rời,

    Quay cuồng chi được nữa.

    Gối mỏi gần rơi,

    Trong men cháy giác quan vừa bén lửa.

    Say không còn biết chi đời.


    thế là thi-nhân định dùng men rượu để đốt cháy nỗi thống khổ còn sót lại trong tâm tư, cố quên đi để dứt khoát với dĩ vãng, nhưng nào có được :

    Nhưng em ơi !

    Đất trời nghiêng ngửa,

    Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ.

    Đất trời nghiêng ngửa,

    Thành Sầu không sụp đổ em ơi !


    vì thi nhân đã lầm, men có nồng, rượu có cay, cơ thể tuy mỏi nhừ nhưng nỗi buồn không dung thứ, niềm đau thương không nhường bước bao giờ, trái lại càng say bao nhiêu thì khổ đau nặng bấy nhiêu ; Vũ hoàng Chương than thở tuyệt vọng :

    Có ai say để quên sầu,

    Lòng ta lảo đảo càng sâu vết buồn.


    Có một lần, bên cạnh người đẹp, hình ảnh ái tình xưa sống dậy, thi nhân đã phơi bày nỗi lòng trong bài..

    Vườn tâm sự

    Một dĩ vãng tràn thơ và đẫm lệ

    Những u hoài chôn kín tận thâm tâm

    Anh dùng dắng mãi chiều nay mới kể

    Mặc dầu em thúc giục đã bao năm


    Vườn tâm sự sắc hương nào có thiếu

    Nhưng hương tàn trong nhị sắc trên hoa

    Đây đó ngủ âm thầm muôn cánh héo

    Nụ cười tươi tan tác phấn son nhòa


    Đây chiếc tổ chim không nhìn nhận nữa

    Để buồng rơm mục nát giá hơi may

    Kia ủ dột đôi ba mồ lá úa

    Ngổn ngang nằm thoi thóp dưới chân cây


    Hãy nín thở đi em và rón rén

    Kẻo bước chân xô giạt những hồn thơm

    E tiếng nói sẽ làm kinh động đến

    Của thời xưa niềm thương nhớ yêu đương


    Hãy đứng lại trầm ngâm bên mộ lá

    Hãy nâng niu từng cánh rụng đài sơ

    Nhưng chớ hỏi bướm vàng đâu vắng cả

    Cùng chim xanh thôi hót tự bao giờ


    Chớ căn vặn buồng rơm sao bỏ trống

    Mà uyên đi có hẹn trở về chăng

    Cũng đừng nhắc phiến gương hồ ảo mộng

    Còn hay thôi ngời tỏ dấu sao băng


    Hãy yên lặng nhưng trông tìm hãy khắp

    Hiểu cho xa mà cảm nữa cho sâu

    Rồi em sẽ thấy lòng thơ tràn ngập

    Sóng buồn thương xô đến tự đâu đâu


    Từng bước đã theo anh vào quá khứ

    Hãy theo anh từng bước lặng ra về

    Đó hết thảy em ơi đời tâm sự

    Vui gì đâu mà em cố đòi nghe


    Trời xuân quang đãng ngoài kia

    Giấu nhanh giọt lệ ra về thôi em

    Lần sau muốn lại vào xem

    Đừng quên khẽ tiếng và êm gót giày


    Bước chân lời nói thơ ngây

    Nếu làm xao động những ngày tháng qua

    Thì anh đóng cửa vườn hoa

    Thôi không kể nữa đâu mà nghe em


    Nhắc chuyện xưa như khơi động lại mối u tình mà ngày nào đã chôn sâu trong lòng dĩ vãng, giọt lệ sầu thương lại tuôn trào, niềm xót xa quặn thắt, thi nhân bỗng cảm như tình xưa quật mộ sống dậy đâu đây :

    ‒ Tiếng mùa thu ta lắng đã quen tai

    Nhưng gió tắt mà sao còn động cỏ

    Hoa lung lay vật vã nắm hương tàn

    Hay tiếng khóc dâng lên từ đáy mộ

    Của muôn đời chưa nín hận lìa tan.



    Tiếng nức nở trên vai nhường rỏ huyết

    Niềm oán hận càng nghe càng rõ rệt


    Ôi trăm đau nghìn tủi quá bi thương

    Chiều hôm nay ta viếng mộ một tình nương


    Và hình ảnh hiện lên càng rõ rệt hơn :

    ‒ Sao tiếng khóc còn dâng thê thiết mãi

    Bóng chiều buông đã lạnh kín tha ma

    Từ cõi âm còn vẳng đến lòng ta

    Niềm di hấn của ai người bạc mệnh

    Tay run rẩy nhưng không vì gió lạnh

    Bỗng để rơi trên cỏ nắm vàng hương


    và :

    Ta vừa thấy một linh hồn mỏng mảnh

    Níu vai ta đòi trả lại yêu đương.


    Bị vết thương đau dày vò mãi tâm tư, muốn quên không được, mà giải sầu cũng khôn khuây. Thi nhân buồn cho kiếp hiện sinh của mình, buồn đời không dành cho mình một sự đãi ngộ nào, cho dù thật ít. Đây, chúng ta hãy nghe họ Vũ than thở :

    Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa

    Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh.


    bởi thế thi nhân phó thác dòng đời :

    Bể vô tận sá gì phương hướng nữa.

    Thuyền ơi, thuyền ! theo gió hãy lênh đênh.


    Khổ đau, chán chường, cảm thấy mình quá bơ vơ, lạc lõng trên muôn nẻo chợ đời, thi nhân đã nhận định thân thế mình :

    Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ,

    Một đôi người u uất nỗi chơ vơ.


    chính vì « đầu thai lầm thế kỷ » cho nên :

    Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị.

    vậy thì còn tiếc rẻ mà chi, thôi đành nhắm mắt đưa chân, khi mà cuộc đời đầy rẫy bất hạnh thì ham muốn nữa mà chi và tác giả cầu xin :

    Thuyền ơi, thuyền ! xin ghé bến hoang sơ.

    Thi nhân muốn thuyền ghé bến hoang sơ nào đó để chôn chặt kiếp đời của mình, nhưng thực tế vẫn là thực tế : khi tỉnh ra rồi, thi nhân nhận thấy men rượu không phải là con đường giải thoát hữu hiệu.

    Nhà thơ chúng ta mới xoay ra đi tìm một liều thuốc nhiệm mầu hơn, một thứ phép lạ nào mới mong phá nổi thành sầu. Và cuối cùng người gặp một nàng tiên, nhưng lại là Nàng … Tiên Nâu ! Vậy mà được thi nhân đem hết lòng gắn bó.

    Như một tín đồ tuyên thệ nhập đạo dưới chân thần tượng, thi nhân nguyện với nàng Tiên Nâu dẹp bỏ nỗi tiếc thương qua và bắt đầu đắm đuối trong duyên mới :

    Quên

    Đã hẹn với em rồi không tưởng tiếc

    Quãng đời xưa không than khóc gì đâu

    Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc

    Sát gần đây, gần nữa cặp môi nâu.



    Đêm nay lạnh tìm em trên gác tối

    Trong tay em dâng cả tháng năm thừa

    Có lẽ đâu tâm linh còn chọn lối

    Để đi về cay đắng những thu xưa


    Trên nẻo ấy tơi bời em đã biết

    Những tình phai duyên úa mộng tan tành

    Trên nẻo ấy sẽ từ muôn đáy huyệt

    Ái ân xưa vùng dậy níu chân anh



    Không, em ạ, không còn can đảm nữa

    Không, nguồn yêu suối lệ cũng khô rồi

    Em hãy đốt giùm anh trong mắt lửa

    Chút ưu tư còn sót ở đôi môi



    Hãy buông lại gần đây làn tóc rối

    Sát gần đây, gần nữa cặp môi điên

    Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói

    Đưa hồn say về tận cuối trời quên.


    Từ khi tiếp xúc được với Nàng Tiên Nâu, quả như lời thi nhân nguyện, những vần thơ thay vì khóc than mối tình chết, chúng ta thấy thi nhân cung phụng sáng tác của mình vào chủ điểm của Nàng. Thi bản Chết nửa vời dưới đây ghi lại một linh hồn phiêu du trên cảnh huyền mộng, chơi vơi, thoát nhẹ khỏi vương vấn xót xa :

    Chết nửa vời

    Bước đã mỏi mà trông càng đã mỏi,

    Ta dừng chân nhắm mắt một đêm nay.

    Thả chiếc bách không chèo trên bể khói

    Mặc trôi về đâu đó nước non say.



    Kìa một cõi trăm hình muôn vạn tiếng,

    Đương dần phai, dần hiện, tắt rồi vang.

    Ta cố gọi những giác quan lười biếng,

    Để ghi cho hậu thế phút mơ màng.



    Nhưng vũ trụ hư huyền tuy rộng mở,

    Ta để mê cảm được chút gì đâu !

    Hồn với xác chỉ còn thoi thóp thở,

    Trong hai bàn tay sắt bọc nhung nâu.


    Và quyền phép của Nàng còn ảnh hưởng trọn vẹn trong Hơi tàn Đông Á, Nhớ quên nâu, và rải rắc trong nhiều thi bản.

    Đến Rừng phong sự đau khổ cơ hồ đã lắng dịu, tư tưởng của Vũ hoàng Chương bắt đầu chuyển sang ngả rẽ, hướng về một cái gì siêu thoát, hư vô :

    Trải mấy hoang mang tìm kiếm

    Lòng sao khát mãi chưa vừa ?

    Hai lẽ «Có, Không » mầu nhiệm

    Đêm đêm ta hỏi người xưa.

    Đuốc kim cổ, đây hồn ta thành kính

    Hội trầm luân cùng ý thức Huyền-vi.

    Ta về đâu ? Kìa Ngươi đến làm chi ?


    (Trích Bài ca siêu thoát)

    hay :

    Bào ảnh vọng lên từng dị điệu,

    Khuê Ngưu tỏa xuống khúc ân tình

    Hán Nguyễn hung suy là màu trôi hoạt họa,

    Gió ngủ trăng bay là nét đứng u minh

    Thúy Kiều ơi ! Đêm giác ngộ tương lai vào mộng huyễn,

    Nẻo hồi dương vang ngộp tiếng thần linh…


    (Trích Bài ca tận túy)

    hoặc :

    Nửa giấc chiêm bao tuổi vàng Nghiêu Thuấn,

    Ta nằm nghe đời xuống bước suy vi.

    Hồn kiếp trước riêng đây sầu xứ mãi,

    Khóc luân hồi chưa ráo lệ tang thương.

    Đêm xuân sang giữa vùng hoa cỏ dại,

    Gối lên thơ, còn mộng níu thiên đường…


    (Trích Bài ca thời loạn)

    Rồi đến Trời một phương, thi nhân đưa người đọc đến những chuyện bao la thế giới, vũ trụ huyền-vi của Tạo-vật :

    Cúi xuống dò thăm mạch địa từ :

    La bàn kim chết đứng.

    Thời-gian bước hững

    Ra ngoài Hiện-hữu rồi chăng ?

    Không gian cũng vặn mình :

    Cả ba chiều gẫy thăng bằng.

    Trượt qua « điểm uốn »

    Hệ Thái-dương vừa đổi dấu Âm…


    (Xuân mới)

    hay :

    Còn mưa, còn mưa, chưa ngớt đâu !

    Mưa trút bề cao vào bề sâu.

    Tư- duy chết đuối theo Tiềm-thức

    Mờ hết thiên tâm loãng địa đầu.


    (Vũ vô kiềm tỏa)

    Và chót đến là Nhị thập bát tú ; như chúng tôi trình bày ở phần đầu, tình, lời, và ý thơ phải cô đọng trong 4 câu 28 chữ.

    Về điểm này, trong Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại 1, ông Bàng bá Lân viết : « Phá bỏ khuôn sáo cũ (thể thơ tứ tuyệt, lời người soạn) để được tự do đi tìm những gì mới lạ, chán rồi lại giam mình vào trong những khuôn khổ bó buộc như xưa. Âu cũng là cái vòng luẩn quẩn muôn đời của người ta vậy. »

    Chúng tôi xin trích dẫn vài bài để các bạn ý niệm được về thể thơ này :

    Đô-thành hoa lệ

    Trời mất bao giờ có biết đâu !

    Người đi sung bái những ngôi lầu

    Văn minh từng phút lên cao mãi,

    Nhân phẩm càng chôn mãi xuống sâu.


    Sài-gòn 1960


    hay :

    Lửa cháy băng tan

    Sức Máy hàng trăm triệu tấn băng ;

    Tư duy chết cứng, bẹp Thăng-bằng.

    Thơ đâu ?... Hãy thắp vào Cây-sậy

    Ánh lửa mười phương Nhật-nguyệt-đăng !


    Sài-gòn 1960

    Thôi hết băn khoăn

    Dấu hỏi (?) vây quanh trọn kiếp người,

    Sên bò nát óc máu thầm rơi.

    Chiều nay một dấu than (!) buông dứt,

    Đinh đóng vào săng tiếng trả lời.


    (Tháng tám 1962)

    (Bài thơ Thôi hết băn khoăn được Vũ quân thích nhất trong thơ nhị thập bát tú, in trong tập Tâm tình người đẹp, sáng tác ngày 4-5-61 )

    Tháng 1 năm 1968, thi sĩ Vũ hoàng Chương cho phát hành tập thơ Bút nở hoa đàm do Vạn Hạnh xuất bản. Ngoài Bài ca dị hỏa làm từ năm 1944, còn lại đều là sáng tác phẩm từ 1950 về sau ; nhận xét, chúng tôi thấy khuynh hướng thơ thiên nặng về tôn giáo. Quý bạn có thể tìm hiểu tư tưởng của thi nhân trong phần thi tuyển. Giờ, chúng tôi xin giới thiệu Bút nở hoa đàm qua lời của Đại-đức Thích Đức-Nhận :

    « Chúng tôi không làm công việc giới thiệu tác giả, vì Vũ hoàng Chương thi sĩ, với tên ông và văn nghiệp của ông đã có chỗ đứng rất vững chắc trên thi đàn Việt-nam kể từ thòi tiền chiến cho đến hiện nay. Chúng tôi chỉ làm công việc nói về tập thơ Bút nở hoa đàm.

    Phải ghi nhận thi phẩm này là tập thơ được chọn lựa như một kết tinh màu sắc thiền môn.

    Nói vậy không có nghĩa Bút nở hoa đàm thiếu vắng những rung cảm, suy tư về thực tại Dân-tộc và Thế-giới. Mà phải nhận Bút nở hoa đàm là một công trình sáng tạo, trong đó thi nhân đã thể hiện bốn đặc thù chính : Đặc thù một, thi sĩ nói về « thân phận con người », sống trong một xã hội đầy cạm bẫy lường gạt, khóc tủi và vui gượng để quên đi thân phận đau thương :

    Cùng xót cùng thương nhau một kiếp

    Phù du, mau đổi nhục làm vinh.


    Chính vì chân nhận được kiếp người khổ đau bất hạnh nên Đặc thù hai của Bút nở hoa đàm là sự biểu hiện « tâm tư giải thoát » của thi sĩ. Ở đây, tâm tư ấy đã được thể chứng bằng phương pháo giáo lý Từ-bi Trí-tuệ :

    Mai đây lắng hết trần tâm,

    Một dòng trôi giữa hương trầm tiếng chuông.


    Nhưng dù sao thi sĩ vẫn còn là một thực thể hiện hữu giữa một Dân-tộc đầy khổ lụy ; lý tưởng của thi sĩ là Đạo giải thoát ; thân thế của thi sĩ lại đã cùng chìm nổi nhiều phen trong dòng vận động cam go của Dân-tộc. Thế nên Đặc thù thứ ba của Bút nở hoa đàm là « tiếng nói dân tộc » : Một dân tộc thi nhân đầy khóc loạn nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh phục hưng của mình :

    Dân tộc ta không thể nào thua

    Đạo phép ta đời đời xán lạn

    Dầu trải mấy qua phân ly tán

    Bị áp bức, phao vu, bội phản

    Nhưng vẫn còn Núi còn Sông còn chót vót mãi ngôi Chùa.


    Trong lòng một thế giới mở rộng, thi sĩ đã tuyên dương một Hy-vọng, hy vọng về thế giới không hận thù màu da chủng tộc, dân tộc, thành kiến :

    Trái tim nhân loại sa lầy

    Men kỳ thị máu pha bùn đã sặc.

    Bao thành kiến với bao nguyên tắc

    Ào xuống, chen nhau một chuyến đò.


    Nếu cứ lao đầu vào những vụ tranh chấp giằng xé thì :

    Địa cầu mai mốt không nhân loại…

    Bởi đó trong đặc thù thứ tư này, thi sĩ đã nói lên một ước vọng hết sức chân thành của những « con người tình cảm », những con người muôn đời của nhân loại miên trường :

    Ôi ! mở lòng thương ra bốn biển,

    Xương khô, thịt héo cũng hồi sinh !


    Ngoài bốn đặc thù trên của Bút nở hoa đàm chúng ta còn nhận thấy thi sĩ đã dùng « Lửa » làm chất liệu xây dựng tác phẩm : Từ Trái đất ban sơ nầy khối lửa y nguyên, đến Ánh lửa mười phương Nhật-Nguyệt-Đăng. Rồi Lửa trong lòng người ; Nối tiếp nghìn thu Lửa đoạn trường. Lửa còn là một biểu hiện của giống nòi Việt-nam, giống nòi Hỏa-đức ; Từng viên gạch chưa quên đã nung lò Hỏa-đức. Và đây « Thông điệp lửa » từ thân tâm Việt-nam truyền ra giữa thời đại đổ nát, để thức dậy giữa niềm Tin hầu như sắp tắt nơi con người :

    Ôi ! ngọn lửa huyền vi !

    Thế giới ba ngàn phút giây ngơ ngác

    Từ cõi vô minh

    Hướng về Cực-lạc.

    Vần điệu của thi nhân chỉ còn là rơm rác

    Và chỉ nguyện được là rơm rác

    Thơ cháy lên theo với lời kinh

    Tụng cho nhân loại hòa bình

    Trước sau bền vững tình huynh đệ này.


    Lửa Việt đã cháy bốn ngàn năm và còn Nối-tiếp, nguyện dâng lên cho nhân loại thoát kiếp thương đau :

    Dòng máu Lửa-thiêng sôi lên trong ngực

    Vững một niềm Tin ngàn tay giúp sức

    Bèo bọt sông Mê tìm ra Lẽ-thực

    Phá vỡ cô đơn thoát ly áp bức

    Ruột thịt hòa vui trên đường chính trực.


    Thi nhân muôn đời bao giờ cũng là nguồn rung cảm ước muốn trung thực của con người khát vọng được sống tốt đẹp, và vươn lên không cùng.

    Bút nở hoa đàm đã phản ánh trọn vẹn ý nghĩa đó. »

    (Trích lời tựa của T. T Thích Đức Nhuận)

    Để kết luận, chúng tôi nhận thấy thơ Vũ hoàng Chương mang nặng tính chất của một quá khứ đau buồn thường xuyên ám ảnh, và giày võ mãi tâm tư nên thi nhân đã sống rất nhiều với nội tâm. Tiếng thơ của họ Vũ là những tiếng thở dài triền miên, nỗi niềm chua xót như bị ứ đọng trong tư tưởng thi nhân.

    Than cho số phận, hoài nghi thân thế mình là kẻ « đầu thai lầm thế kỷ » thi nhân đã mượn chung rượu, làn khói để khuây sầu.

    Nhưng liệu thi nhân có được mãn nguyện không ?

    Hay chỉ là những tia lửa bập bùng rồi tắt hẳn !

    Qua những Thơ say, Mây, Rừng phong, Hoa đăng, Cảm thôngTrời một phương, có lẽ thi nhân đã trút cạn nỗi niềm, tinh thần trở nên thanh thoát, tư tưởng được cô đọng trong những dòng thơ Nhị thập bát tú rồi đến Bút nở hoa đàm chúng tôi tưởng rằng Vũ quân đã định được nghĩa đời và tìm được lẽ sống thanh cao.

    (Ấn bản kỳ nhì, 18-7-1968)

    Thi tuyển

    U tình

    Anh biết em từ độ

    Em mới tuổi mười hai.

    Anh yêu em từ thuở

    Em còn tóc xõa vai.


    Tháng ngày đi mau quá,

    Chốc đã sáu năm trời.

    Tình anh vẫn chưa hiểu

    « Chưa » là « không » em ơi !


    Em vẫn tin anh lắm,

    Em vẫn mến anh nhiều,

    Nhưng em tin em mến

    Đâu phải là em yêu.


    Trái tim hờ hững ấy.

    Đâu thổn thức vì anh.

    Anh cũng không hề chịu

    Van xin một ái tình.


    Cho nên dòng lệ tủi

    Thấm ướt những trang đời,

    Xóa nhòa hy vọng cũ,

    Hoen ố cả ngày mai.


    Lòng anh dần uống cạn

    Đến giọt cuối yêu đương.

    Chỉ còn của dĩ vãng

    Một dư vị chán chường.
  • Đang tải...