1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0077.00036_nhnhien (type done) + thaole92 soát xong

15/5/16
0077.00036_nhnhien (type done) + thaole92 soát xong
  • Mẹ bao la chạy chia nghìn ngả, này núi, này rừng, này đồng, này ruộng, lại còn linh tinh muôn vạn vú đồi nữa, làm sao đủ sữa căng lên ? Lệnh đã truyền, đất lãnh lấy công đầu. Đất nghìn năm, đất triệu năm, đậm đà chắc chắn, càng già càng dai. Máu cũ biến mới, sục sục quang tuyến, mạch chạy đầm đìa. Máu đen kế máu đỏ, nhựa nâu đến ngã ba cùng với nhựa xanh; những con đường xéo lẫn nhau, chở chất chua, chất ngọt, chất mát, chất nồng, theo rễ muôn cây, lên cho mặt trời hòa hợp. Trên mặt đất vẫn chưa lộ gì cả, nhưng dưới nhà hầm, biết bao là vội vàng ! Thì giờ trễ rồi ! Thời gian tính từng phút một, ngón tay nghiêm nghị không bao giờ đếm nhầm. Cho nên Đất mẹ làm việc không nghỉ. Không lẽ năm nay lại trễ hơn mọi năm !

    Ánh Sáng vâng lệnh thứ hai, có cô em Sức Nóng đi kèm. Nàng tiên quyền cao phép cả, chẳng ai dám đương ! Khi hứng thú nồng nàn, ánh sáng lấn át cả không gian, ôm chồm vũ trụ, đè bẹp bóng tối dưới triệu móng chân. Mi của ánh sáng thật dài, tia của ánh sáng thật đượm. Ánh sáng bắn tin truyền hịch, đưa lệnh khắp hang cùng núi hẻm, bảo rằng : sắp sửa tin vui !

    Ánh sáng nhún nhẩy tươi cười, không chút lo lắng ! Tài lực của nàng nhiệm mầu nhanh chóng ; nàng có thể giấu mình suốt tháng, vờ như không hay gì cả; nhưng mánh khóe tinh anh sao ! Nàng làm việc ngấm ngầm. Chỉ một ngày, chỉ một sớm mai nàng đến, là cả bầu không đã treo ngọc, giăng tơ, cả mặt đất đã trải vóc gấm, thêu thùa trong gió, lăng líu qua cây. Ánh sáng đứng một chỗ mà ở khắp nơi, con mắt điện quang thấu suốt muôn trùng, chăm nom từng nụ mầm non, từng vỏ sâu bọ. Nàng ôm những thân cây giá lạnh, sưởi những luống đất ẩm iu. Nàng lách vào kẽ lá, cho màu thanh non biến thành lục đậm. Cho nên những cội tùng già yếu, nàng cũng gõ mãi ngoài vỏ, đến nỗi một ngày kia bật ra mầm xanh.

    Và Ánh Sáng ngồi kéo muôn triệu chỉ vàng, tiếp theo muôn triệu chỉ vàng, cuộn tròn vào bánh xe hay mắc ngang khung cửi, giấu diếm khắp nơi. Để đến lúc cần dùng, sợi ngày vàng sẽ lộ ra chi chít.

    Công thứ ba, Nước nhận lấy phần. Nước đi theo Ánh Sáng làm cặp uyên ương kỳ dị. Rẽ nhau một lần, là đồng khô cỏ cháy. Nước mát êm cho nắng tựa vào.

    Nước cũng chảy chia nghìn ngả, chạy vào làm máu cho đất, chạy ra làm lời cho suối, độn thổ, đằng vân. Ánh sáng loãng xoãng trong mình. Âm điệu róc rách giữa lòng. Nước lấy ôn nhu vỗ về loãng xoãng trong mình. Âm điệu róc rách giữa lòng. Nước lấy ôn nhu vỗ về nuôi nấng cho muôn vật phát sinh. Mà cái liếc mắt đưa dài nghìn lý.

    Nàng chen vào búp hoa này, lẫn vào nhánh cây kia. Trái uống nàng vào bụng, mây giữ nàng trong mình. Nụ hút nàng vào tim ; cây kiếm nàng làm nhựa. Ôi nước ngọt ngào, mát mẻ, thảnh thơi !

    *

    Công thứ tư không ai tranh, nên về phần Gió. Phải xem dáng điệu nàng thu gọn, mới biết nàng khéo giấu sức phá hoại của mình. Chỉ còn là một làn phớt qua. Áo nàng tha thiết phiêu phiêu. Hồn nàng xuất trần. Nàng lên tinh tú. Gió bay, gió lượn, gió phất phơ như hơi thở ân tình. Gió đưa duyên bướm, gió làm mối lái cho hoa. Gió múa điệu lẳng lơ, nói lời cợt ghẹo. Vạn vật nghe gió mà rợn tình.

    Gió phẩy móng tay búng muôn đầu lá ; gió rào rào rúng động ngàn cây. Âm nhạc theo nàng mà vào không gian ; nàng là những sợi dây sắt cầm lượn bay ; không khí tự say, vang tiếng tơ đồng.

    Miền xa lại gần. Gió mới tỏ tình, hương đà theo hút. Gió có cần vội vã đâu ; chỉ thoáng lên xe đi thúc giục các chồi, các nụ. Đến hôm ấy, gió chỉ việc dịu dàng bay chơi, là cuốn theo muôn lòng đắm say.

    *

    Lệnh được vâng.

    Tất cả đều làm việc. Tất cả giao hòa, giúp sức lẫn nhau. Tất cả cũng đều một niềm yêu thương quảng đại ; tất cả cũng đồng một ý trau chuốt điểm trang.

    Ngày ấy, lệnh đốt tiếng pháo đầu. Muôn tiên đã nấp sau màn. Chim chóc cũng lên đầy cổ họng. Mặt trời xé làn sương mỏng, xé màng mơ mộng còn ủ ấp non sông. Nhạc vang reo, hương nồng tỏa ; công chúa Xuân-Nương hiện hình !

    Sương đeo một triệu hoa tai cho nàng nàng cười một nghìn điệu hoa, nàng mặc chín triệu lá non ; má nàng điểm đôi chút sương hồng, tóc nàng gió xuân lỏa tỏa. Muôn lời của vũ trụ đồng tấm tắc khen nàng công chúa con chung.

    Xuân-Nương ! Xuân-Nương ! hội mừng nàng, hội của nàng sẽ lâu chín mười ngày, gấp thêm chín mươi đêm vui suốt sáng. Nàng ra đời ! Nàng lại về ! Nàng không mỏi tái sinh!

    Trời ơi, Xuân-Nương cười. Trông thấy công chúa, Phụ hoàng đôi mắt sáng ngời đáp lại bà nụ cười thái dương.

    Âm nhạc khởi lên. Chín mươi ngày đêm bắt đầu bằng một buổi sớm.

    (Trích Trường ca – Xuân Diệu).

    *

    Đóa hồng nhung

    Có những cặp môi đáp hẳn vào mặt ta, không để ta kịp đề phòng ; hai cánh thắm mà không tô son, mềm mà lại giòn, hai cánh thịt tươi nhuần, dày mà nhẹ, đầy nhựa mà không thô ; hai khóe môi rất mạnh, rồi hai lúm đồng tiền như hai ngôi sao ; và hai hàm răng trắng nõn, làm cái nhụy kinh hồng !

    Đóa hôn ngan ngát màu hơn hớn,

    Là đóa hồng nhung vườn mơn trớn.


    Đóa hồng trêu ngươi, ong chết vì mật, bướm chết vì màu ; đóa hồng say sưa, lòng ngắm mà ngây ! Vườn mơn bát ngát không biết đâu là bờ, chỉ có đóa hôn là hoa nở. Gió trong vườn mơn rợn ngợp, nước trong vườn mơn mát rượi như ngâm ; nhưng hoa trong vườn mơn thì hoa ghen thua đượm, rượu hờn kém men, yến diên là vị, xạ lan ấy mùi.

    Trong đêm nhung, hoa trống cách vời hoa mái, gọi nhau bằng chút mềm bối rối trong không khí, chỉ gần nhau bằng mảnh phấn hương. Còn những đóa hoa của mặt người, ứng nhau thì được đến tầm nhau, gắn thành đóa hoa cảm giác. Thời gian đương đi qua, đôi cặp môi người đóng dấu vào nhau để lấy một phút giây cực lạc, cùng khắn ép một quãng nhỏ không gian ; và từ ấy, trong kỷ niệm trăm năm, còn mãi một điểm hồng.

    Điểm hồng trong trí nhớ, làn điện tê buốt ở đầu môi.

    Đóa hôn như hoa lan, thích tỏa hương nơi im lặng ; đóa hôn như hoa quỳnh, thích nở vừa lúc đêm thanh. Phải cho đất ngủ dưới lời ru của muôn trời, sao xanh nhấp nháy cầm canh, vũ trụ mơ màng như lại sơ khai, bấy giờ đóa hôn đẹp nhất mới nở. Đóa hôn đẹp nở thì người lặng, máu ngừng, hồn điếng vì yêu : chứ đâu có phải như những cái hôn nở ngày, nở trưa, nở xó chợ đầu đường, là cái thứ hoa tạp nham vật dục ! Hồn không đẹp đẽ, thì ngửi được đóa hồng nhung hay sao ! Hồng cũng là sắc hồng của tâm, nhung còn là vẻ nhung của hồn, có dễ bạ ai cũng hái được bất kỳ ở đâu ! Mà khi được hái đóa hôn, thì đất trời cũng sẽ ngừng lại cho ta sung sướng, chúa đời như bà mẹ thương mến các con, hương rừng qua mũi, suối ngọt vào lòng ; tình ái muôn nghìn năm, lấy môi đóng triện !

    Là đóa hồng nhung vườn mơn trớn…

    Đóa hồng gớm ghê, thiêng liêng, mê mẩn, nở sắc từ màu hồng đậm đến màu tím nhạt, trải qua màu xanh xạ, màu vàng buồn !

    Người con trai mới lớn lên, không phân biệt cạn kẽ. Có cái hôn ấm, thơm, và giòn, nhai được thành tiếng ; ấm như vừa dang nắng, thơm như cây mới ra hương. Có cái hôn nhẹ, nhẹ quá, lâng lâng đi như chỉ đụng vào bóng trăng, vừa động tới đã tan dường tuyết đọng. Có cái hôn ngọt ngào, như êm ái khát ngàn năm ; có cái hôn mê ly, như đã chết một kiếp.

    Có cái hôn mơ màng : để môi nghỉ tê tái trên môi, và hồn tự nhiên vẩn vơ ở đâu trong những truyện thần tiên. Có cái hôn chờ đợi lâu hàng năm, đến khi được thì sức ào đến quá mạnh, tưởng hồn văng ra ngoài đầu. Có cái hôn tủi tủi, nước mắt sắp rơi, môi có thể òa ra khóc được ; hôn mà bận nhớ cái sầu người yêu dấu đã chất nặng vào lòng ta.

    Nhưng hồn tê điếng hay hồn quặn cong, những cái hôn khoái lạc không bao giờ bì được cái hôn yêu đương ; cái hôn khi thân thể đã dậy rồi sao bằng cái hôn trăm vị lẫn chen, nửa ta ngậm ngùi, nửa ta sướng vui, nửa ta oán thán !

    *

    Cái hôn thiêng liêng làm vậy, sao xưa người Á-đông ta không biết tới ? Lẽ nào !

    Nghe nói có Đắc-Kỷ, nghe nói có Tây-Thi. Những môi đời xưa không nối nhau ư ? Vô tình mà bỏ quên ư ? Cớ sao cái hôn lại thất truyền ? Đến nỗi sau này chúng ta mới khám phá ra cái của quí thất lạc giữa lơ lãng, cái kho vàng chìm mất trong biển tháng ngày.

    Tiếc cho những môi nhỏ xinh xinh, tô màu cánh sen, nói ra những tiếng uốn éo thanh tao ; tiếc cho những môi xưa, chết đi mà chưa được dùng ! Những đóa môi nghìn đời ấy đã như hoa lan trong rừng, không ai biết rằng chúng thơm ; vô lý thực ! lẽ nào người tình nhân đời xưa lại bỏ sót đóa hồng nhung to nhất trong vườn mơn trớn ?

    Các em môi xưa, muôn nghìn ức triệu cánh môi, bé bỏng đáng yêu, dịu dàng mảnh khảnh ! hôn các em, khác nào hôn các hoa. Cánh môi chắc là nhẹ nhàng, vừa động tới đã run rẩy như tan ; song le thỉnh thoảng hoa cũng biết cắn… Khách tầm xuân ngụ gì mà không thấy các em hơ hớ, khiến cho các em có thể đẹp mà không có thể ngon ; chỉ có được sắc màu mà không được có hương vị. Bao nhiêu môi hồng đã mất đi như thế ! Phí mất bao nhiêu miệng thắm, uổng công trình tạo hóa lắm thay ! khác nao mặc trai dưới biển, quên ngọc trên rừng, làm nhụy môi chưa ai hút ra, mật răng không người nếm tới. Thế rồi tàn héo ; rã rời ở trong tấm sáng !

    Người con trai lòng rạo những thèm thuồng, chắc đã hơn một lần nghĩ đến những trăm triệu môi non bỏ phí dưới đáy thời giờ, và như vậy trong mấy mươi thế kỷ. Ta muốn có một đạo bùa phục sinh những đóa môi xưa, sống lại đây, với màu tươi, sắc ướt, vẻ ngọt, mùi thơm, cho con trai đời xúm lại mà hôn, rồi bấy giờ sẽ tan tành, như thế cho khỏi ân hận !

    (Trích Trường ca – Xuân Diệu)

    *

    Tâm sự của cái giường hư

    1.– Tôi là một cái giường hư bỏ trong nhà chứa đồ cũ. Tôi buồn lắm. Cái nhà nhỏ như một cái hộp lớn, tồi tàn dơ bẩn, bụi đâu cứ rơi chầm chậm xuống mình tôi. Và mạng nhện ! Chúng giăng qua sườn tôi tự do quá.

    Nhất là không ai bén mảng. Lâu lắm họa chăng một người đầy tớ mở cửa để đẩy vào một cái ghế rách hay một cái đèn tồi, rồi vội vàng đóng ngay, dáng khinh khỉnh vì sợ bụi. Trời ơi, chịu sao nổi cảnh hiu quạnh dường nầy ! Dầu gãy, dầu hư, tôi vẫn mong được loài người đụng chạm. Tôi xưa kia đã từng nâng da, đỡ thịt, đã nhận sự sống của loài người lây qua mình tôi. Mà bây giờ không có sự gần gũi của loài người. Thực cô đơn vắng vẻ !

    2.– Tôi vào nhà này đã lâu lắm. Mười bốn năm !

    Tính thử xem, việc đời biết bao thay đổi. Mười bốn năm trời đời của tôi chẳng mấy chốc mà già với đời của người. Mọi vật đều thay bậc đổi ngôi, sự dâu bể của cuộc đời cho đến gỗ cũng phải chịu.

    Xưa kia, tôi đẹp, tôi mới. Bây giờ tôi cũ, tôi xấu, tôi hư. Nhưng hình dáng thuở trước tân thời, bây giờ lại cổ hủ. Tôi đã thấy những chiếc chiếu dần dà rách, những cái gối dần dà mềm nhũn, những cái chăn dần dà mòn thủng, những cái màn hư hỏng từng miếng một, để lọt muỗi vào. Chiếu, chăn, màn, gối lần lượt tiếp nhau vào cõi tan nát. Cái giường ở lại làm sân khấu cho sự đổi thay.

    Hai người chủ càng năm càng phát đạt, sự giàu sang đến rất đều nhịp, lòng người bởi thế cũng đều nhịp mà tùy thời.

    Người ta thấy mười lần bắt tôi đổi chỗ, mang từ phòng nầy sang phòng khác, đặt hết lối dọc đến lối ngang. Ban đầu tôi là chỗ nằm của ông chủ, bà chủ. Rồi sang năm sau, một cái giường nguy nga tráng lệ đến làm bật hẳn sự hèn kém của tôi. Tôi thành chỗ nằm của những người khách đến ở vài ngày. Rồi được thành chỗ nằm của bọn trẻ con, mình chúng nhẹ song những cách tàn phá của chúng thì rất nặng. Chúng trèo lên mình tôi, và đi guốc lên, và nhảy nhót, đùng đùng và đánh lộn nhau ầm ĩ.

    Tôi càng cũ đi, sự hư hỏng càng đến gấp, cũng như một người càng già, những sự yếu đuối càng rủ nhau ùa đến thật nhanh. Đoạn sau nầy mỗi tháng đem lại một sự xiêu vẹo ; mỗi ngày một sự mòn mỏi, rồi bỗng chốc hiện ra nào mộng hư, nào chốt gãy, nào là ván thủng, chần què. Rồi tôi run lên như một kẻ già, gỗ kêu răng rắc như một ông cụ rũ xương ; tôi lòng không yếu đuối, mọt ăn đến tôi cọt kẹt suốt đêm ngày…

    Từ nhà trên tôi đã xuống nhà giữa, rồi tôi lại xuống nhà dưới, rồi cuối cùng tôi xuống nhà bếp, hứng lấy khói bụi, mồ hóng, làm chỗ ngủ cho đầy tớ. Rồi thì đầy tớ cũng không thèm tôi nữa: tôi thì quá già, họ thì giàu thêm.

    Cuối cùng họ đẩy tôi vào đây, tôi sẩy vào đây. Khi họ mang tôi lên vai, vứt ra khỏi cuộc đời, bao nhiêu xương xóc của tôi đã kêu to lên một lần cuối cùng và tôi biết rằng tôi đã hết.

    3.–… Bụi trên mái rơi xuống hay chỉ là bụi của tháng ngày dần dà lấp chôn mọi vật ? Cái giường không còn mong gì nữa : xưa nay cái giường để cho thiên hạ nằm, bây giờ đến lượt nó, cái giường, muốn nằm. Nằm nghỉ trên cái gì đây ? Lửa đâu ? Lửa đâu ? Sao không thiêu đốt mình ta cho ta được thành ra khói, ra hơi, để bay lên trời thẳm, để chuyển lưu trong kiếp luân hồi.

    (Phấn thông vàng)

    *

    LNS. Dưới đây là văn nghị luận của Xuân Diệu :

    Quan niệm văn chương sáng tác

    của XUÂN DIỆU

    Trong văn chương ta, hiện nay có cái phong trào phục hưng sự “ dịch ”.

    Dịch văn các nước là sự cần cho chúng ta. Đã là cần, thì đáng lẽ đến năm nay, 1944, hầu hết các tác phẩm chính của văn hào trên trái đất đã dịch cả rồi. Sự ấy cần ngay từ bốn năm chục năm nay là ít.

    Tạp chí Nam Phong lúc sinh thời, cũng đã ra công dịch. Nay ta thấy dịch như thế còn chưa đủ, thì ta cứ dịch thêm. Nhưng tôi rất ngạc nhiên, là cái sự dịch văn, đáng lý là lúc nào cũng chỉ ở hạng nhì, hạng ba trong văn chương, nay muốn lên đứng vào bậc nhất, và trên các mặt báo, văn dịch xuất hiện có vẻ hiên ngang ! Cho đến nỗi, em của nó là văn mượn, văn bắt chước, văn thuộc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào cũng được vinh diệu như hồi các cụ xưa còn sống.

    Sân khấu văn chương kéo màn lên, thì văn dịch hay là văn mượn ra hoa tay múa chân, còn văn của ta thì nhượng bộ ! Công chúng thì chịu phần thụ động. Chẳng qua cũng một chữ “ thời ”.

    Cái thời từ 1933 đến 1940, thì người nước ta để đầu tiên cái văn sáng tác của nước ta. Chúng ta trầm trồ những bông hoa của vườn chúng ta gây dựng. Cho nên văn dịch phải xao lãng, và văn mượn, văn thuộc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào thì chúng ta xua đi như xua kẻ nhắc lười ! Văn Âu văn Mỹ hay đã đành, nhưng ta cứ trọng văn sáng tác của ta. Tất cả đều vào thứ hạng, đều mờ nhạt trước sự sáng tạo.

    *

    Nay thì văn dịch muốn lấn át hẳn văn Sinh. Văn mượn muốn giành cái ngôi ưu đãi của văn viết cho đến cả văn kim của Tàu mà cũng muốn đóng cái vai đàn anh văn kim của ta.

    Viết bài này, tôi muốn dựng lại cái thang giá trị, muốn lập lại các ngôi thứ, muốn dành bậc nhất cho văn sáng tạo. Tôi muốn nhắc cho công chúng nhớ rằng chỉ có những văn ở đầu óc ta nghĩ ra, còn mang vết máu tủy của ta, mới là đáng kể. Tất cả những cái khác chỉ có giá trị của những tài liệu. Những văn mượn, văn dịch chỉ là những món phân để vun bón cho những lá, những hoa của văn nước nhà. Trong sự sáng tác, óc của ta có thể chịu ảnh hưởng của văn ngoại quốc, nhưng chịu ảnh hưởng mà đã tiếu hóa đi, thì cũng như ta hút hoa người để làm mật mình, và sự bắt chước không phải là sự nô lệ.

    Chúng ta tha hồ dịch, dịch tất cả văn hay ngoại quốc, thu thập rất nhiều của lạ, nhưng trí sáng suốt của ta không lầm lẫn bao giờ, không xao lãng sự sáng tạo của chúng ta.

    Sự sáng tác có chăng là chỉ mờ ám đi ít lâu mà thôi ! Rồi những cây bút trẻ, những cây bút tìm tòi, những văn tài tự lập sẽ lại phải giữ phần vinh dự.

    *

    Nay chúng ta cho những thơ văn học đòi một cái giá trị hơn là nó có. Dưới cái cớ giả mạo là quay về chốn cũ, chúng ta quay hẳn về cái sáo, cái quá thời, cái đã bỏ, cái chết. Thậm chí nay người ta còn dọa in ra những tiểu thuyết tình hận dịch của Từ-Trẫm Á, cái nhà văn sướt mướt và ho lao của Tàu, thì không biết người ta tưởng thời này là thời Tuyết-Hồng Lệ Sử hay sao ? Xin tha cho nền văn học Việt-Nam sự tôi đòi một nhà văn chẳng hay ho gì của ngoại quốc.

    Có thế mà thôi đâu, ngày nay lại còn có kẻ dám hãnh diện với cái tài bắt chước của họ nữa. Tài đó chỉ tóm lại được hai điều : thuộc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào và khéo tay. Tất cả gồm trong sự chơi chữ. Chính cái thứ tài ấy, than ôi ! đã xui nên trong văn học ta, nhan nhản những câu đối, chan chát những bài thơ thủ vĩ ngâm, song điệp, vĩ tam thanh, và thuận nghịch đọc ; nhan nhản những cái khéo chân khéo tay của bác thợ, cái nhào lộn của con hát xiếc, mà rất ít cái văn tài thực, cái tư tưởng lạ, cái tình tứ sâu xa !

    Cái khéo tay thuộc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào ấy bằng sao được một câu sáng tác ra từ miệng một chị gánh thuê hay một bác cày ruộng, hay một câu ca dao tự nhiên mà ta nhận thấy cả cái thiên tài của xứ sở. Huống chi so với cái văn dầu có chịu ảnh hưởng của người chăng nữa, mà thực là đầy tâm tư, máu óc của mình thì cái văn giả Đường, giả Tống có kể vào đâu ?

    Bạn thanh niên chúng ta không nên ăn cắp “ trời bến Phong-kiều ” hay “thu sông Xích Bích ” như những người lớp trước nữa mà phải đào, phải cuốc ở cái miếng đất riêng biệt của chính tâm hồn mình, để đem cái không khí sáng tạo cho văn chương Việt-Nam.

    XUÂN DIỆU

    (Trích tạp chí Tri tân)


    ---

    BÀNG BÁ LÂN

    BÀNG BÁ LÂN sinh năm 1912 tại Phú-lạng-thương (Bắc phần), nhưng chính quán của ông làng Đôn-thư, huyện Bình-lục, tỉnh Hà-nam (Bắc phần).

    Ông từng cộng tác với nhiều nhật báo, tuần san, bán nguyệt san tại Hà-nội và Sài-gòn như các báo :
    Đàn bà năm 1939, báo Hạnh phúc, Tia-sángVăn nghệ năm 1955. Năm 1959, ông viết trên bán nguyệt san Tân phong trong mục thơ, sau đó là bán nguyệt san Phổ thông của nhà thơ Nguyễn Vỹ trong mục Những áng thơ hay.

    Ngoài việc sáng tác thơ, hiện nay ông còn là một giáo sư Việt-văn tên tuổi tại nhiều trường trung học ở Thủ-đô.

    Thi sĩ Bàng bá Lân là một nhà thơ đồng quê nổi tiếng, thường ghi lại những nếp sinh hoạt của người dân miền thôn dã. Một buổi chiều mùa hạ, cảnh hoàng hôn vào cuối thu, một miền đất Cà-mau trù phú, một đế đô Hà-nội mến yêu v.v… là đề tài chính của thi sĩ nên được giới yêu thơ tặng cho danh hiệu là “ nhà thơ đồng áng ” ; thiết tưởng không có gì quá đáng.

    Các tác phẩm của ông được chào đời trước và sau đệ nhị thế chiến như sau :


    - Tiếng thông reo, xuất bản năm 1934 Thanh-hóa tùng-thư ấn hành tại Hà-nội.

    - Xưa, hợp soạn cùng nữ sĩ Anh-Thơ, Sông Thương xuất bản tại Hà-nội năm 1941.

    - Tiếng sáo diều, xuất bản năm 1939-1945.

    - Thơ Bàng bá Lân, do nhà xuất bản Nguyễn hiến Lê ấn hành năm 1957 tại Sài-gòn.

    - Tiếng võng đưa, cũng do nhà xuất bản Nguyễn hiến Lê ấn hành năm 1957 tại Sài-gòn.

    Ngoài ra, ông còn cho xuất-bản hai quyển bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào Kỷ niệm văn, thi sĩ hiện đại. Nội dung tập bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào này viết theo thể ký ức, ghi lại những kỷ niệm của ông cùng các văn nghệ sĩ.

    Gần đây, ông cho in một số bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào giáo khoa Việt-văn cho các lớp đệ Thất, Lục, Ngũ, Tứ viết theo thể giảng văn. Từ đó đến nay, người ta không thấy tác phẩm nào thêm nữa có lẽ thi-sĩ không còn rỗi rãi như trước cũng nên.

    *

    Chúng tôi sắp giới thiệu với quý bạn một tiếng thơ xuất sắc nhất trong khuynh hướng đồng quê : Bàng bá Lân. Lẽ dĩ nhiên, chúng tôi sẽ có đôi lời khen ngợi, không phải vì khách sáo mà vì chân giá trị của người thơ.

    Đọc thơ đồng quê của Bàng bá Lân mà quý bạn để cảm quan rung động theo như nhịp điệu của những vần thơ trữ tình, ắt quý bạn sẽ cho chúng tôi là công kênh thái quá. Nhưng làm sao bây giờ ? Chúng tôi không thể phủ nhận những nét nhìn quá tế nhị và quá sống trong những câu thơ tả cái tịch mịch của buổi trưa hè. Hãy đọc :

    Trong nhà lá tối tăm lặng lẽ

    Tiếng ngáy đều nhè nhẹ bay ra

    Võng đay chậm chạp khẽ đưa

    Ru hai bà cháu say sưa mộng dài…

    Cháu bỗng cựa, rẫy hoài khóc đói,

    Tỉnh giấc mơ, bà vội hát lên :

    “ Ạ ời…” mấy tiếng. Rồi im.

    Nhện tường ôm trứng nằm yên mơ màng.

    Ruồi bay thong thả nhẹ nhàng

    Muỗi vo ve khóc bên màn thiết tha.


    Trong cái lặng lẽ chìm ngập, Bàng bá Lân đã cho gợn lên đôi chao động ; từ tiếng rẫy khóc của cháu bé, bà vội “ ạ ời ” đôi tiếng rồi im bặt. Ruồi muỗi là sinh vật nhỏ bé gây được tiếng động là bao đối với cái không gian to rộng, thế mà chúng cũng thận trọng nhẹ nhàng bay, hoặc chỉ vo ve khóc thầm như tôn trọng cái tịch mịch của buổi trưa hè. Ta thấy chỉ con nhện là giữ được tinh thần tuyệt đối vì chính nó cũng đang mơ màng say sưa giữa cảnh êm ả vắng lặng.

    Nhện tường ôm trứng nằm yên mơ màng.

    Bài Vườn cũ nào đâu, cô hái dâu cho ta thấy cảnh đời biến đổi sau khi tác giả chỉ đôi năm xa vắng làng xưa ;nay thẫn thờ về chốn quê, ngạc nhiên trước nếp sống cũ bị hủy tan, len lỏi đâu đây những nét xa lạ của sinh hoạt mới; cả tiếng chuông cũng kêu khác hẳn xưa. Với một câu hỏi nhuộm màu triết lý về nhân sinh và vũ trụ quan :

    - Hỡi cô yếm thắm hái dâu ơi !

    Người cũ này đây, sắc cũ phai !

    Tuổi trẻ đã qua, xuân đã hết,

    Người xưa, thôi ! đã khác xưa rồi !


    Tôi mải đọc tập thơ Bàng bá Lân, từng trang rồi từng trang, tôi thấy đâu đâu cũng phảng phất một ít hồn dân tộc, đã khiến tâm hồn tôi lắng đọng, thanh thản như vừa được gột rửa cát bụi của vật chất phồn hoa khi hồi đầu về đồng nội.

    Dấn mình vào thế giới Thơ Bàng bá Lân tôi cảm giác như thâm nhập được kho tàng tập tục cổ truyền của dân tộc, cái nếp sống nghìn đời của dân quê. Mỗi bài thơ là một hình ảnh gợi lại cho ta niềm bâng khuâng tưởng nhớ cái giản dị, mộc mạc, chất phát của người quê ; họ lam lụ, quần quật trên ruộng lúa bờ dâu ; bản chất thuần túy của họ chưa bị hình thức sinh hoạt mới biến đổi.

    Đó là cái nét độc đáo của Bàng bá Lân, và cũng chỉ Bàng bá Lân mới đi sâu vào tâm hồn, vào cuộc sống cổ truyền của dân tộc. Cho nên ta không lạ gì những lời phê bình của văn thi sĩ đương thời khi tập thơ đầu Tiếng thông reo của Bàng bá Lân xuất hiện. Thế-Lữ đã có những lời sau đây :

    “Tác giả thực có tâm hồn thơ. Ông biết nhìn những cảnh thường có ở trước mắt mọi người, nhưng chỉ có người làm thơ là chú ý tới. Ông biết ghi những nét ánh trăng lóng lánh trong nước chậu thau rửa mặt, biết thấy cái buồn ngao ngán tịch mịch của lớp nhà tranh bên khóm chuối, bên rặng cau lúc trưa hè. Ông tìm vẽ những cảnh êm đềm : bà dừng kim khâu, cháu thôi nghịch đến bên bà, con mèo vờn cuộn chỉ, con vện nằm ngoài hiên…

    …Ông thấy lòng rung động khi nghe tiếng ve mùa hạ kêu gào, làm rung rinh ánh nắng gay gắt, làm thở dài làn gió trong cành sấu móc rêu…

    …Lời thơ tha thiết, êm ái và thành thực, dẫu tôi chẳng phải là thi sĩ (1) mà cũng thấy lòng rung động một cách nhẹ nhàng…

    Lê-Ta

    (Phong hóa, 25-2-1935)


    -----
    (1) Thi sĩ nói đùa, chứ ai không biết Lê-Ta là thi sĩ Thế-Lữ.

    Thêm nữa:

    “Tiếng thông reo đượm một mối sầu bâng khuâng, kín đáo, dịu dàng, một vẻ buồn lành mạnh và điềm đạm.

    Nàng Thơ của Bàng bá Lân không phải – như ta rắp tưởng – người ông yêu dấu mà là cánh đồng quê với lũy tre xanh.

    Bàng bá Lân có thể tự hào là nhà thơ Việt-nam thứ nhất biết hưởng thú quê…

    Tóm lại, Tiếng thông reo là một tập thơ hay, có nhiều hình ảnh thiệt đẹp… ”

    Nguyễn nhược Pháp

    (Annam noveau, 11-4-1935)

    Đâu đã hết:

    “ Đồng quê xứ Bắc đã gây cảm hứng cho nhiều nhà thơ. Nhưng mỗi nhà thơ xúc cảm một cách riêng…

    Thơ Bàng bá Lân Bức tranh quê (1) đều là những bông hoa khả ái từ xa mới đưa về, nhưng bông hoa Bàng bá Lân ra chiều đã thuộc thủy thổ hơn. Cho nên sắc hương nó cũng khác.

    …, tả cảnh trưa hè trong một gian nhà tranh tịch mịch, người viết :


    Bụi nằm lâu chán xà nhà

    Nhẹ nhàng rơi phủ bàn thờ buồn thiu.


    Mười bốn chữ, chữ nào cũng mang nặng một chút hồn ! Thiết tưởng người ta không thể đi sâu vào cảnh vật xứ quê hơn nữa… ”

    Hoài-Thanh và Hoài-Chân

    (Thi nhân Việt-nam)


    -----
    (1) Thi phẩm của Anh-Thơ do Đời Nay xuất bản.

    BÀNG BÁ LÂN chính thức đóng góp vào nền văn học nước nhà bằng tác phẩm Tiếng thông reo, xuất bản 1934.

    Bàng bá Lân là một nhà thơ đồng quê. Nếu về phái nữ có Anh-Thơ là một cây bút đại diện cho lối thơ trên thì Bàng bá Lân là một nhà thơ nam giới lỗi lạc về lối thơ tả tình và tả cảnh đồng quê độc đáo.

    Thật thế, từ khi phong trào thơ mới thịnh hành cho đến khi đại chiến thứ hai bùng nổ trên mảnh đất này, trong phạm vi thi ca đất nước, chưa có một thi nhân nào làm thơ về phong tục, đồng quê và tả cảnh xuất sắc như Bàng bá Lân.

    Bàng bá Lân là một thi nhân tiền phong mở đầu cho lối thơ đồng quê, sau Bàng bá Lân, Đoàn văn Cừ đã nối tiếp lối thơ ấy qua thi-phẩm Ngày nay nhưng nhà thơ họ Đoàn vẫn không hơn được những nét đặc sắc của Bàng bá Lân.

    Bàng bá Lân đi vào thế-giới của hồn quê bằng giọng thơ ngọt ngào, êm dịu và ý thơ thật hàm súc. Các thi phẩm của nhà thơ đất Bắc-giang như Tiếng thông reo, Xưa, Tiếng sáo diều, Thơ Bàng bá Lân, Tiếng võng đưa đã xác nhận tài nghệ của họ Bàng trong lĩnh vực thi ca đồng quê và phong tục một cách vững chắc. Họ Bàng làm thơ theo đúng cảm nghĩ của mình mà không gọt giũa từng chữ, từng câu như Vũ hoàng Chương, cũng không dùng điển tích cầu kỳ như Quách Tấn, lời thơ của họ Bàng thật hiền lành – một bản tính của người nông thôn – chất phác, nhẹ nhàng nhưng không vì đó mà khiến cho thơ của họ Bàng bị lạt lẽo. Trái lại, Bàng bá Lân đã tạo cho thơ mình một âm thanh, một suy tưởng riêng biệt. Thơ của Bàng bá Lân là một lối thơ cổ được thay đổi theo âm điệu để thành thơ mới. Tư tưởng của Bàng bá Lân không lãng mạn ; dù là tả tình cũng vẫn giữ được nét kín đáo – một bản tính của người phương Đông. Có đôi lúc, đọc thơ của Bàng bá Lân ta cứ tưởng như đọc lại những vần thơ của một thi nhân nào thời xưa cũ.

    Như trên vừa nói, Bàng bá Lân không chủ trương tán dương tình yêu nồng cháy, dồn dập, cho nên cũng như Anh-Thơ, tác giả Tiếng võng đưa không được những người trẻ ưa thích, tên tuổi của ông vì thế ít được giới phê bình văn học nhắc nhở. Tuy nhiên, dù sao chúng ta cũng phải nhận rằng Bàng bá Lân vẫn là một thi nhân giàu khả-năng và thiện chí đối với nền thi ca dân tộc.

    Trong lời Tựa của tập thơ Tiếng võng đưa, ông Lê văn Siêu đã viết về Bàng bá Lân như sau :

    “ Giữa sự tràn ngập của văn minh cơ khí vào xã hội ta, giữa những đèn pha xe hơi như đôi mắt của những con vật lạnh lùng nhào tới để như muốn nghiền nát ta ra, giữa những tiếng máy chạy đều đều của một thành phố kỹ nghệ, ta vẫn còn trông thấy hình bóng người mẹ Việt-nam bồng con nằm trên võng, và ta vẫn còn nghe văng vẳng tiếng võng ấy kẽo kẹt để làm nhịp cho tiếng hát ru.

    Cái cò mà đi ăn đêm,

    Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao


    ……

    “ Tiếng võng đưa kẽo kẹt ấy, vẫn là tiếng ngân dài của năm ngàn năm lịch sử trong lòng người con dân đất Việt.

    “ Tiếng võng đưa ấy của Bàng bá Lân, ngày hôm nay lại vang lên giữa cái rầm rầm của máy móc, cái ồn ào của chợ búa và giữa cái xôn xao của lòng người đương bị dao động bởi mọi luồng sóng văn minh trên thế giới.

    “Bàng bá Lân, giữa cơn mưa gió não nùng, đã đưa cánh tay khẳng khiu ra chống đỡ cây cột nhà đương bị lung lay bởi bao những hơi thơ xa lạ.

    “ Anh không bí hiểm, không siêu nhiên, không lập dị, không bảo thủ, không xu thời, không hiện thực, không tả chân, không tượng trưng… anh chỉ thản nhiên, nhẹ nhàng, nhũn nhặn trong đồng ruộng ngoài cái chộn rộn của đương thời.”

    Thật vậy, Bàng bá Lân là nhà thơ có nhiệt tình với dân tộc. Ba chữ Tiếng võng đưa đề tựa cho tập của thi nhân đã cho ta hình dung một trẻ thơ nằm trên chiếc võng đang tìm một giấc ngủ yên lành nơi miền thôn dã. Thi nhân đã gợi cho ta một rung động mãnh liệt khi tưởng nghĩ đến cái đơn vị căn bản của dân tộc từ lúc phôi thai.

    Có lẽ không ai đã một lần không thấy :

    Nắng lửa rung rinh,

    Xóm tre lặng lẽ.

    Tiếng võng nhà ai ru trẻ

    Nặng nề chậm chạp đong đưa.


    ……

    Ta say sưa

    Nghe tiếng võng đưa

    Ru hồn mơ

    Trong lời thơ

    Dân tộc

    Mơ màng lắng nghe tiếng khóc

    Của thời măng sữa xa xôi.


    Hướng thơ của Bàng bá Lân nhắm vào nông thôn, tư tưởng của thi nhân bắt nguồn tự dân tộc. Từ hình ảnh của một buổi chợ chiều Đông tiêu điều, một tiếng chuông chùa xa xa ngân lên như khóc một ngày tàn, đến những buổi đầu xuân êm ấm hay bất chợt bắt gặp :

    Chiều quê trong lúa xanh non,

    Vẫn cô yếm thắm xinh ròn ngây thơ…


    Những hình ảnh đẹp ngàn đời ấy đã kết hợp thành tiếng thơ của thi sĩ họ Bàng.

    Nếu một Chế Lan-Viên mang nặng mối sầu vong quốc, người chỉ thích mùa thu :

    Ô hay, tôi lại nhớ thu rồi…

    Mùa thu rớm máu rơi từng chút

    Trong lá bàng thu ngập đỏ trời.



    Đường về thu trước xa lăm lắm

    Mà kẻ đi về chỉ một tôi.


    (Điêu tàn – Chế Lan-Viên)

    Và ghét mùa xuân :

    Tôi có chờ đâu, có đợi đâu !

    Đem chi Xuân lại gợi thêm sầu ?

    - Với tôi tất cả như vô nghĩa

    Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau.


    (Điêu tàn – Chế Lan-Viên)

    thì trái lại Bàng bá Lân yêu cả bốn mùa :

    Ta yêu mưa bốn mùa,

    Nghe nhạc trùng rên rỉ.

    Giun khóc chân tường, dế than dưới cỏ,

    Nhạc sầu dâng buồn bã suốt năm canh.

    Ta thích, đêm mưa, nằm sát cửa sau mành

    Nghe gió rít từng hồi qua kẽ hở,

    Nghe gió đập tầu tiêu, mưa nức nở…

    Nghe hồn mưa than thở với hồn ta !


    Thậm chí mùa Đông của người cũng yêu :

    Ta yêu mưa Đông

    Mưa phùn câm lặng.


    Mưa xóa mờ rặng cây trên đường vắng,

    Mưa đem trời nằng nặng xuống gần ta.


    Có lẽ các bạn cũng tự hỏi : Tình yêu gì mà lắm thế ? Xin thưa : - Với một tâm hồn mang nặng tình quê ; cảnh trí bốn mùa tuy có đơn sơ, đạm bạc nhưng nó mãi diễn biến trên đất mẹ.

    Tình yêu quê của Bàng bá Lân bàng bạc nơi nơi trong đồng nội. Từ những đàn cò trắng bay trong ráng chiều, cây đa tròn xoe tán bên cạnh mái đình, cho đến những tiếng sáo diều vi vu, những câu hò của miền thôn dã, hay nụ cười hồn nhiên của cô thôn nữ v.v… Tất cả hình ảnh êm đềm, đẹp đẽ của quê hương được thi nhân ghi lại trong bài Quê tôi sau đây :


    :rose:
  • Đang tải...