1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0077.00037_thaytumap (type done) + thaole92 soát xong

15/5/16
0077.00037_thaytumap (type done) + thaole92 soát xong
  • Quê tôi

    Quê tôi có lúa, có dâu,

    Có đàn cò trắng, có câu huê tình.

    Có cây đa, có mái đình,

    Có bầy thôn nữ xinh xinh dịu dàng.

    Mùa thu có những hội làng,

    Có cây đu buổi xuân sang dập dìu.

    Gió vi vu tiếng sáo diều,

    Ru hồn mục tử chiều chiều trên dê.

    Chợ làng có lắm quà quê ;

    Bánh đa, bánh đúc, bánh kê, bánh dầy...

    Đầu thôn có túp quán gầy :

    Tình quê như bát nước đầy chè tươi.

    Ngõ tre khúc khích gió cười.


    Vườn quê thơm mát hương nhài hương cau

    Tháng tư chanh cốm gội đầu.

    Hương sen ngát cả vườn rau ao bèo.

    Tháng hai hoa bưởi rơi nhiều

    Ong ong, bướm bướm dập dìu tìm hoa.

    Khum khum giàn mướp ao nhà,

    Cầu tre lũ trẻ vui đùa tập bơi.

    Tiếng gà trưa lắng chơi vơi,

    Tiêng chim cu gáy: Buồn ôi là buồn !

    Ngày ngâu gió kép mưa đơn

    Mái tranh rỏ những lệ buồn vu vơ.

    Đêm dài, nhịp tiếng võng đưa

    Lời ru ời ợi ngàn xưa vọng về...


    *

    Nhớ nhung, sầu mắc lê thê,

    Xa xôi, nghe dậy hồn quê não nùng !


    (Miền Nam, tháng tám 1957)

    Bằng những vần điệu nhẹ nhàng, không gò bó, Bàng bá Lân có cái nhìn thấu suốt cảnh quê, chỉ trong 28 câu thơ, thi nhân đã cô đọng được toàn cảnh thanh bình của dân quê, rồi gởi vào đấy một ít hồn của mình. Cho nên ta thường thấy trong mỗi bài thơ của Bàng bá Lân đều có mang tính chất nội tâm và ngoại cảnh.

    Sở dĩ Bàng bá Lân có khác Anh-Thơ, là ở chỗ đó và cái hay của Bàng bá Lân cũng ở đó.

    Không phải chỉ riêng một bài thơ nào người ta mới thấy cái khởi sắc của Bàng bá Lân, trái lại, thi sĩ họ Bàng đã chứng tỏ tài nghệ của mình trong nhiều bài thơ, hay có thể nói bằng cả sự nghiệp văn chương của chính mình cũng thế ; trong mấy tập thơ của thi sĩ Bàng bá Lân cho ra mắt, người đọc ít thấy nhiều bài dưới mức trung bình.

    Có thể nói, Bàng bá Lân có khả năng sáng tác thơ rất đều tay. Tuy nhiên, cái hay, cái dở còn tùy theo người đọc, nếu thấy thích thì cho là hay, ngược lại, là dở. Còn sự thật đối với những ai có một nhận định tinh tế và khách quan về thi ca dân tộc, phải nhận rằng Bàng bá Lân là một nhà thơ có chân tài, nhất là trong loại thơ tả cảnh và sinh hoạt đồng quê.

    Để chứng minh cho nhận định vừa nêu, chứng tôi xin trích dẫn ra đây một ít văn thơ khác của ông thuộc loại đồng quê để làm điển hình về thực tài của tác giả Tiếng võng đưa.

    Ta hãy nghe thi nhân kể câu chuyện của đôi lứa xảy ra :

    Hẹn nhau bên bờ giếng

    Chờ nhau lúc rạng trăng

    ……

    Nhìn nhau mà chẳng nói

    Bốn mắt đọng trăng rằm.


    rồi lại hẹn nhau nữa. Nhưng có một đêm nàng không đến, nghe nói nàng đã đi theo một người đội khăn đen nào đó ở làng khác, khiến chàng đến nơi hẹn hò, buồn đăm đăm nhìn vào khoảng không, tự hỏi :

    Ai cúi mình trên giếng ?

    Ai thả gầu múc trăng ?

    Ai cười yêu nửa miệng ?

    Tan rồi mộng gối chăn!
    .......

    Giếng trăng, nơi hò hẹn

    Giếng trăng, nơi hẹn hò

    Từ xa xưa đến bây giờ

    Giếng làng ghi dấu bao trò hợp tan !


    Bàng bá Lân là nhà thơ nhiều tình cảm, đó là bản tính của thi nhân.

    Và đây, ta hãy nghe tâm tình cảm xúc của thi nhân đứng trước nỗi khổ cực cơ hàn của người dân quê được trải lên những dòng thơ rớm máu trong bài :

    Người trâu

    Trời xám thấp. Rặng tre già trút lá

    Đầy ngõ thôn hun hút gió chiều đông

    Sương mù bay phơi phới tỏa đầy đồng,

    Hơi lạnh cắn vào làn da cóng buốt

    Trong thửa ruộng chân đê tràn ngập nước.

    Đôi bóng người đang chậm bước đi đi…

    Người đàn ông cúi rạp bước lầm lì,

    Người vợ cố đẩy bừa theo sát gót.

    Họ là những nông phu nghèo bậc chót,

    Không có trâu nên người phải làm… trâu.

    Họ bừa ngầm một thửa ruộng chiêm sâu.

    Nước đến bụng, ôi, rét càng thêm rét !

    Áo rách tướp, hở ra từng mảng thịt

    Tím bầm đen trong gió lạnh căm căm.

    Hì hục làm, thỉnh thoảng lại dừng chân

    Véo và ném lên mặt đường từng vốc…

    — Nhác trông ngỡ là nắm bùn hay đất —

    Nhìn lại xem ! Ô, đống đỉa đen sì !...


    Ta rùng mình, quay mặt bước chân đi,

    Lòng tê tái một mối sầu u ám,

    Trời càng thấp. Tầng mây chì càng xám,

    Mưa phùn gieo ảm đạm khắp đồng quê.

    Gió chiều nay sao lạnh buốt, lê thê ?


    (Đôn thư, 1954)

    thật là những vần thơ tả chân linh động nói lên một thực trạng đau thương thống khổ của kiếp người gần như không còn là con người nữa.

    Nhưng đó chỉ là một cảnh thương tâm của đôi vợ chồng nghèo khổ mà thôi. Còn một cảnh tượng bi đát nhất trong lịch sử, đau đớn gấp trăm ngàn lần mà dân tộc Việt-nam ta phải gánh chịu : đó là nạn đói năm Ất-dậu. (1945)

    Vận dụng giác quan đến cao độ, hòa hợp với con tim tựa hồ tan vỡ, lý trí không còn len lỏi trong địa hạt này ; ở đây chỉ có thấy, nghe rung động một cách tế nhị, Bàng bá Lân đã ghi lại những hình ảnh đau thương của hàng loạt con người đang sờ soạng trước ngưỡng cửa Chết.

    Sự cơ cực của cảnh nghèo, sự tan vỡ của tình yêu, sự chán nản của con người bất đắc chí, v.v.. nó không còn nghĩa lý gì trước cảnh Đói. Nó chỉ là sự đau đớn có ranh giới, nếu đem so sánh với những cảnh:

    Khắp đường xa những xác đói rên nằm

    Trong nắng lửa, trong bụi lầm co quắp.

    Giữa đống rẻ chỉ còn đôi hố mắt

    Đọng chút hồn sắp tắt của thây ma.

    Những cánh tay gầy quờ quạng khua khoa

    Như muốn bắt những gì trong vô ảnh.

    Dưới mớ tóc rối bù và kết bánh,

    Một làn da đen xạm bọc xương đầu

    Răng nhe ra như những chiếc đầu lâu.

    Má hóp lại, răng hằn sâu gớm ghiẽc.

    Già, trẻ, gái, trai không còn phân biệt,

    Họ giống nhau như là những thây ma,

    Như những bộ xương còn dính chút da,

    Chưa chẽt đã bốc xa mùi tử khí !


    hay :

    Xác chồng chất lù lù như đống rác,

    Đó đây thò khô đét một bàn chân

    Hay cánh tay gầy tím ngắt teo răn

    Giơ chới với như níu làn không khí.


    hoặc :

    Họ ra đi, hy vọng có ngày về !

    Nhưng chẳng bao giờ về nữa, hỡi người quê.

    Dần lả gục khắp đầu đường xó chợ.


    Có nghĩa gì đâu những cảnh khổ đau thường xuyên của nhân loại đã khóc và khóc mãi đã khiến đức Thích-Ca sánh nước mắt của chúng sinh như bể cả.

    Ở đây (cảnh đói) trong tình trạng quá bi đát, những con người không còn kêu gào khóc lóc được nữa vì nước mắt họ đã khô, không đau đớn vì thân xác đã đói lả tê dại. Đến đây chúng tôi nhớ lại cảnh rùn rợn của chiến tranh khi trái bom nguyên tử đầu tiên rơi trên đất Nhật. Một bác sĩ Nhật còn sống sót và chứng kiẽn, đã thuật: «... Một thứ ánh sáng kỳ lạ loé lên, tiếpp theo là tiếng nổ, thành phố bỗng nhiên chìm vào cõi chết, một sự vắng lặng ghê rợn bao trùm, không một tiếng động. Tôi ngạc nhiên bỗng thấy một bóng người đi tới, xem lại mình mẩy đẫm máu, da thịt nát bét, nhưng vẫn đi... »

    Nhắc chuyện trên để các bạn hình dung con người khi đã chịu đến tột cùng của đau đớn, thân xác trở nên tê dại, giác quan không còn bén nhậy nữa. Họ (những người sắp chết vì đói) không còn đủ lệ để trào tuôn, chỉ còn đủ chút hơi tàn :

    Những thây đó cứ xỉu dần, tắt thở,

    Nằm còng queo, mắt vẫn mở trừng trừng.

    Tròng con ngươi còn đọng lệ rưng rưng,

    Miệng méo xệch như khóc còn dang dở


    Bằng một giọng thơ bi thảm, Bàng bá Lân ghi lại hình ảnh tang thương ấy trong suốt bài thơ gồm 100 câu mà khi đọc xong ta cảm thấy tâm hồn ta như bàng hoàng cơn ác mộng, cổ ta nghèn nghẹn như một niềm căm phẫn trào dâng.

    Phần trình bày ở trên là một khía cạnh độc đáo nhất của nhà thơ họ Bàng — loại thơ đồng quê. Đến đây chúng tôi xin nói đến phần khác: thi ca tình yêu.

    Về loại này, Bàng bá Lân không có nhiều, nếu không bảo đó chỉ là phụ thuộc trong đường lối sáng tác của tác giả Tiếng võng đưa. Tuy nhiên trong số ít đó, Bàng bá Lân cũng tỏ ra có một giọng thơ « mướt » khi tỏ tình yêu nhưng là thứ tình yêu nhẹ nhàng của người Á-đông. Theo ông chủ trương, trong thi ca tình cảm, tình yêu là một trạng thái thuộc tâm linh của hai kẻ yêu nhau, nhưng không bao giờ vượt quá cái phong tục cổ truyền là « nam nữ thọ thọ bất thân », cái tình yêu được bảo vệ trong vòng luân lý, dù yêu thương tha thiết cũng không bộc lộ sỗ sàng, nó phải là thứ « tình trong như đã mặt ngoài còn e ».

    Vì thế, những bàị thơ tình của Bàng bá Lân thường rất đẹp và có tính cách nội tâm nhiều hơn. Như một chàng trai đi yêu một cô con gáỉ nhưng không bao giờ dám nói thẳng, chỉ thốt những lời vu vơ :

    Ta về ta nhớ đêm qua…

    Nhớ ai, nhớ cả món quà Đồng-nai,

    Món quà ai gửi cho ai,

    Kèm theo thăm hỏi đôi lời thương thương.


    và yêu thương « người ấy » nhiều đến nỗi :

    Yêu em, yêu cả con đường

    Đưa ta về chốn ruộng vườn phì nhiêu :

    Cần-thơ, Rạch-giá, Bạc liêu…

    Rằng thương, rằng nhớ, rằng thương lạ lùng !


    yêu nhưng không dám nói để rồi cứ đặt câu hỏi thăm dò người yêu :

    Cô em má đỏ hồng hồng,

    Buôn xuôi bán ngược, có chồng hay chưa ?

    Xe đò ai đón ai đưa ?

    Mà em đi sớm về trưa một mình !


    Đây, ta hãy nghe Bàng bá Lân tả lại một cảnh đi tìm nhà người yêu, nó vất vả làm sao :

    Nhà em ngõ hẻm hang cùng,

    Lối đi ngóc ngách, số chồng lên nhau.

    Tìm em vừa khó vừa lâu,

    Số không thứ tự biết đâu mà lần !

    Bà con cô bác bình-dân,

    Phần nhiều lao-động đồng lần như nhau.


    (Ngõ hẻm)

    Thật là khó khăn, nhưng vì « yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội, cửu thập đèo cũng qua ».

    Ngoài địa hạt tình cảm trữ tình, đôi lúc Bàng bá Lân có một giọng nói ỡm ờ như Hồ Xuân-Hương :

    Rung rinh núm vú trên cành,

    Mỗi năm mỗi vụ dâng tình thủy chung.


    Em như cô gái yêu chồng,

    Tình em như sữa trong lòng thơm tho.


    (Trái vú sữa)

    Thật là chơi khăm, khi tác giả nói đến trải vú sữa mà lại nhân cách hóa là « em như cô gái yêu chồng », để rồi « tình em như sữa trong lòng thơm tho » thì quả là Bàng bá Lân có một giọng thơ ác độc đối với bọn đàn ông vậy.

    Sau khi Hiệp-định Genève phân chia đất nước, Bàng bá Lân di cư vào Nam. Cảnh lạ, quê xa, con người thơ tưởng đâu sẽ bỡ ngỡ, ngại ngùng, nào ngờ tâm hồn dân tộc của Bàng bá Lân bàng bạc khắp sông núi thân yêu này, cảm thông ngay tâm hồn hòa dịu và cởi mở của người miền Nam ; Bàng bá Lân trút nhẹ được mặc cảm lẻ loi, đã hứng thú sáng tác bài Tôi yêu để đánh dấu cái tình thắm thiết như đã gắn bó nhau từ muôn ngàn thế kỷ :

    Tôi yêu

    Tôi yêu tiếng Việt miền Nam,

    Yêu con sông rộng, yêu hàng dừa cao.

    Yêu xe thổ mộ xôn xao

    Trên đường khúc khuỷu đi vào miền quê.

    Tôi yêu đồng cỏ nắng se,

    Nhà rơm trống trải, chiếc ghe dập dềnh.

    Tôi yêu nắng lóa châu thành,

    Trận mưa ngắn ngủi gió lành hiu hiu.

    Nơi đây tôi mến thương nhiều,

    Miền Nam nước Việt mỹ miều, làm sao !

    Xa xôi hằng vẫn ước ao,

    Vào thăm vựa lúa xem sao, hỡi mình !


    Chừ đây tình đã gặp tình,

    Tưởng như trong đại gia đình đâu xa.


    Người xem tôi tựa người nhà.

    Người kêu thân mật tôi là: Thầy Hai !


    *

    Đồng bào Nam-Việt ơi !

    Tôi yêu cặp mắt làn môi thiệt thà.

    Nước non vẫn nước non nhà,

    Bắc Nam xa mấy vẫn là anh em !


    (Sài-gòn, 1954)

    Vì cảm tình ngay với quê hương thứ hai này, thi sĩ Bàng bá Lân liền hăng say bắt tay xây dựng lại cuộc đời đã hai lần di cư, một lần cháy nhà, chịu đựng gánh nặng gia đình trên mười miệng ăn, mọi việc đều trông cậy một thân người thi sĩ kiên cường ý chí. Như thẽ mới chứng minh sức mạnh của tình thương tái tạo được nguồn sinh lực mới đã khiến Bàng bá Lân yêu đời và ham sống.

    Ở giai đoạn này, người thi nhân chúng ta xa vắng Nàng Thơ ; vì phải bảo tồn gia đình, lại thêm quá bận với thiên chức, một trách vụ thi nhân tự cho là cao đẹp, tận tụy trong việc đào tạo, trui luyện những tâm hồn trẻ cho thế hệ ngày mai. Ta hãy nghe thi nhân nhắn nhủ :

    Đôi lời tâm sự

    (Riêng gửi các em học sinh những lớp Đệ Tứ, Tam, Nhị các trường trung học Cộng-hòa và Khai-trí Sài-gòn.)

    Ta đến trường đây với các em;

    Nửa năm hơi tiếng đã vừa quen,

    Ta yêu những mái đầu chăm chú

    Cúi xuống bàn nghiêng mải tập rèn.


    Nhiều lúc ta cao giọng giảng hoài,

    Không hề biết mệt, bốn giờ trôi.

    Các em ngoan ngoãn và chăm chỉ

    Là ấy lòng ta thỏa mãn rồi.


    Đôi lúc ta buồn bực chẳng vui,

    Chỉ vì có kẻ mải ham chơi,

    Bài không nghe giảng còn hay chuyện !

    Giận đấy, rồi ta lại mỉm cười...


    Không hiểu ai bằng hiểu các em,

    Nơi em, ta đặt hết niềm tin.


    Các em là cả nguồn sinh lực

    Thế hệ vươn mình đang chuyển lên:


    Nhiệm vụ ta đâu có nhẹ nhàng ;

    Dẫn em vào các nẻo văn chương.

    Người yêu tiếng mẹ là yêu nước,

    Tiếng mẹ hiền, ôi ! rất dịu dàng !


    Lãng mạn tài hoa Chu mạnh Trinh ;

    Xuân-Hương hóm hỉnh giọng đa tình.

    Thanh-Quan chững chạc, lời trang nhã ;

    Yên-Đỗ gieo vần, ô rất xinh.


    Ta cảm thông cùng đôi họ Cao ;

    Ngông nghênh Bá Quát giọng văn hào.

    Xót thay Bá-Nhạ oan trùm đất,

    Trời cũng buồn thương rỏ lệ sao !


    Tú-Xương chớt nhả thế mà vui :

    Mặn, chát, chua, cay đủ mọi mùi...


    Công-Trứ hào hùng ai dễ sánh ;

    Nguyễn-Du đệ nhất đại thi tài...


    Bốn bức tường cao thế giới riêng !

    Ta hằng lo sợ nhắc đừng quên :

    Học, nhưng phải tránh lằn xe cũ,

    Cái họa từ chương đã nhỡn tiền !


    Học biết rồi đây phải nghĩ hành,

    Quốc gia đang đợi những đầu xanh,

    Lớp người lành mạnh xây đời mới,

    Và dẹp cho tan những bất bình !


    (Tháng giêng 1957)

    *

    Nói chung, chúng ta phải công tâm nhận rằng Bàng bá Lân là thi sĩ có chân tài. Ông là người tiên phong của phái thơ đồng quê, một hướng đi dị biệt, một lối thơ ít người làm theo và cũng ít người thành công trong lãnh vực này mà ông đã thành công quả là một điều quan trọng. Sự hiện diện của Bàng bá Lân trong nền văn học đất nước là một sự hữu ích. Thi phẩm của Bàng bá Lân có tác dụng mạnh trong nền giáo dục thiếu nhi. Tiếng thơ của Bàng bá Lân là những hồi chuông cảnh tỉnh những linh hồn đang sống bám víu vào nền văn minh cơ khí như nhắc nhở họ cái tình quê, cái nếp sống trung thực của một dân tộc.

    « Em ơi ! Vui thú phồn hoa mãi,

    Có biết đồng quê đang nhớ mong, »


    (Ấn bản kỳ nhì, tháng 8-1968)

    ---

    Thi tuyển

    Tịch mịch

    Lửa hè đốt bụi tre vàng,

    Trưa hè ru ngủ xóm làng say sưa.

    Khóm chuối lá bơ phờ nghĩ ngợi,

    Rặng cau gầy nghển với trời cao.

    Trong nhà, ngoài ngõ quạnh hiu,

    Đầu thềm con Vện thin thiu giấc nằm,

    Trong nhà lá tối tăm lặng lẽ,

    Tiếng ngáy đều nhè nhẹ bay ra.

    Võng đay chậm chạp khẽ đưa

    Ru hai bà cháu say sưa mộng dài…

    Cháu bỗng cựa, rẫy hoài khóc đói,

    Tỉnh giấc mơ, bà vội hát lên :

    « Ạ ời... » mấy tiếng. Rồi im.

    Nhện tường ôm trứng nằm yên mơ màng;

    Ruồi bay thong thả nhẹ nhàng.

    Muỗi vo ve khóc bên màn thiẽt tha,

    Hơi thở nóng luồn qua khe liẽp,

    Làm rùng mình mấy chiếc diềm sô.

    Bụi nằm lâu chán xà nhà

    Nhẹ nhàng rơi phủ bàn thờ buồn thiu..


    *

    Vườn cũ nào đâu, cô hái dâu ?

    Mười hai năm trước tuổi còn thơ

    —Nếp óc còn in dấu chửa mờ —

    Tôi sống quãng đời êm đẹp quá

    Trong làng nho nhỏ nghệ tầm tơ.


    Một làng xinh xắn dưới trung châu

    Lặng lẽ nằm yên giữa bãi dâu.

    Những buổi sớm chiều trong sóng lá,

    Tôi thường theo bạn đến bên cầu.


    Bên cầu nhẹ hái lá dâu tơ

    Cùng bạn tôi là những gái thơ

    Xinh đẹp, vô tư như lũ bướm,

    Dắt tôi cười, nói, chạy, bông đùa...


    Xa xôi nay trở lại thăm quê,

    Dấu cũ mờ rêu khác lối về.

    Mà lạ ! Nương dâu đâu mất nhỉ ?

    Quanh làng xanh rợn bãi cà phê !


    Thẩn thơ đứng lại bên đường,

    Trong gió chiều xa vẳng tiếng chuông.

    Nhưng lạ ! Tiếng kia sao chẳng phải

    Tiẽng từ bi êm ái du dương !


    Than ôi ! Chính giữa chốn này đây

    Là chỗ ông cha đã đắp xây

    Một cảnh chùa chiền, di tích cũ,

    Ngàn năm đứng vững với trời mây.


    Thế mà xa cách có bao lâu !

    Nào mái rêu đâu ? Cổ thụ đâu ?

    Còn lại trơ trơ bên giậu mới

    Gốc đa cằn cỗi, lẻ loi sầu !


    Mất hết ! Không còn một dấu xưa !

    Nào đâu cô gái đẹp ngây thơ ?

    Nào đâu những tối trăng trong sáng

    Dệt vải bên song ánh bạc lùa ?



    — Hỡi cô yếm thắm hái dâu ơi !

    Người cũ nầy đây, sắc cũ phai !

    Tuổi trẻ đã qua, xuân đã hết,

    Người xưa thôi đã khác xưa rồi !


    Còn nhớ năm xưa bóng xế đầu,

    Thi nhau ta hái lá bên cầu,

    Mà nay người vắng, cầu đâu mất ?

    Vườn cũ nào đâu, cô hái dâu ?


    *

    Kiếp ve

    Im lặng. Cánh đồng quê yên ngủ

    Giấc say sưa dưới ánh mặt trời chì.


    Trên vòm xanh mây uể oải không đi,

    Nắng lửa trút nặng nề như bạc chảy.

    Bỗng trong khóm lá xanh gần đấy,

    Tiếng ve kêu ran rỉ đưa ra


    Khi khoan thai, khi rộn rã như mưa

    Làm rung động khí trời lặng lẽ.

    Biển lúa xanh gợn làn sóng nhẹ,

    Nắng rung rinh theo giọng ve kêu,


    Gió thở dài trong cành sấu đầy rêu,

    Cảnh thức giấc dưới bầu trời yên lặng

    Ve hút gió, ăn sương, uống nắng,

    Rồi thảnh thơi ngâm khúc trường ca.

    Đem sóng lòng ve tưới cho cỏ hoa,

    Cho lá bụi, lúa vàng, đất khô, nắng lửa...

    Rồi thu sang. Giọng nỉ non không còn nữa.

    Ve im hơi. Nhưng nào có ai hay !

    Gió vẫn thở dài đuổi lá vàng bay…

    Mà trên cành, thân ve ! chỉ còn là cái xác !


    Đời thi sĩ, than ôi ! nào khác

    Kiếp ve kia rút ruột hiến ai ai.

    Khúc đàn tâm lựa gẩy để người vui,

    Mà riêng chịu thất vọng, đau thương, cùng chế bác...

    Rồi mực cạn, bút cùn, tơ lòng tan nát,

    Với thời gian đời sẽ dần quên !


    Lòng khách thơ lại đau đớn ôm thêm

    Mối hận cuối cùng ! Ôi, nghề đen bạc !


    *

    Trưa hè

    Dưới gốc đa già trong vũng bóng,

    Nằm mát đàn trâu ngẫm nghĩ nhai.

    Ve ve rung cánh ruồi say nắng ;

    Gà gáy trong thôn những tiếng dài.



    Trời lơ cao vút không buông gió,

    Đồng cỏ cào phô cánh lược hồng.

    Êm đềm sóng lụa trôi trên lúa ;

    Nhạc ngựa đường xa rắc tiếng đồng.


    Quán cũ nằm lười trong sóng nắng,

    Bà hàng thưa khách ngả thiu thiu,

    Nghe mồ hôi chảy đầm như tắm...

    Đứng lặng trong mây một cánh diều.



    Cành thưa nắng tưới chim không đứng,

    Quả chín bâng khuâng rụng trước hè.

    Vài cô về chợ buông quang thúng,

    Sửa lại vành khăn dưới bóng tre.



    Thời gian dừng bước trên đồng vắng ;

    Lá ngập ngừng sa nhẹ lướt ao.

    Như mơ đường khói lên trời nắng ;

    Trường học làng kia tiếng trống vào.


    *

    Cổng làng

    Chiều hôm, đón mát cổng làng;

    Gió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi.

    Đồng quê vờn lượn chân trời,

    Đường quê quanh quất bao người về thôn.


    Sáng hồng lơ lửng mây son,

    Mặt trời thức giấc, véo von chim chào.

    Cổng làng rộn mở ồn ào,

    Nông phu lững thững đi vào nắng mai.



    Trưa hè bóng lặng nắng oi,

    Mái gà cục cục tìm mồi dắt con.

    Cổng làng vài chị gái non


    Dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm.


    Những khi gió lạnh mưa buồn,

    Cổng làng im ỉm bên đường lội trơn.

    Những khi trăng sáng chập chờn,

    Kìa bao nhiêu bóng trên đường thướt tha.



    Ngày mùa lúa chín thơm đưa,

    Rồi Đông gầy chết, Xuân chưa vội vàng ;

    Mừng xuân ngày hội cổng làng

    Là nơi chen chúc bao nàng ngây thơ.



    Ngày nay dù ở nơi xa

    Thăm quê, về đến cây đa đầu làng

    Thì bao nhiêu cảnh mơ màng

    Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre.


    *

    Tiếng mưa đêm

    O le chant de lá pfuie !

    Paul Verlaine !


    Đêm sâu tịch mịch,

    Ta rơi rả rích

    Gieo buồn lang thang

    Trên muôn đường làng

    Gặp anh lữ khách vội vàng,

    Ta nương vai áo xem chàng về đâu ?



    Sa đồng sâu.

    Rụng mái lầu,

    Vại sành đợi nước chân cau,

    Chị nàọ xấu hổ thì mau lăn vào !



    Trên hàng rào,

    Gió lay gào.

    Chị em ríu rít lánh vào bên song.

    Cô kia ủ dột cô phòng,

    Nghe ta thổn thức trong lòng rầu tiêu.

    Gió ngừng reo,

    Cây buồn thiu.

    Hàng tre lướt thướt tiêu điều,


    Kìa đôi cò nọ ra chiều băn khoăn.

    Lăn tăn

    Qua sân,

    Ta hỏi rêu rằng :

    — Nơi rêu ở có lạnh lùng không rêu ?



    Buồn như khêu

    Cho cô gái đẹp ngừng thêu,

    Bâng khuâng nghe nhóm tình yêu trong lòng.


    Trong ao ta gợn muôn vòng

    Cho con cá lượn mơ mòng đớp suông.



    Mái lầu ta buông

    Mành bạc.

    Ta khua xào xạc

    Lá rơi bên rèm.

    Nhà khuya le lói ánh đèn,

    Có ai nằm thức trong mền nghe mưa ?


    *

    Ngùi trông về Bắc

    Dừng bước nơi đây, lòng ngổn ngang,

    Ngùi trông về Bắc nhớ tre làng,

    Nhớ cây đa cỗi bên chùa vắng,

    Nhớ mảnh ao bèo gió lạnh sang.



    Nhớ giải đê cao lũ mục đồng

    Trong chiều nắng nhạt bước thong dong.

    Nhớ cô thôn nữ khăn to hó,

    Môi thắm trầu thơm, má ửng hồng.


    Nhớ tiếng xì xòm tát nước đêm,

    Tiếng chày giã gạo rất bình yên,

    Tiếng chim cu gáy trong trưa lặng,

    Tiếng võng trưa hè ru ngủ êm



    — « Ạ ời ! Em ngủ đi em !

    Mẹ còn đi chợ làng bên chưa về.

    Cha còn tát nước trong khe,

    Anh bừa, chị cầy ngoài kia… Ạ ời !»



    Đồng quê Bắc Việt ơi !

    Người quê Bắc Việt ơi !

    Hôm nay trời trở rét rồi phải không ?

    Hôm nay cơn gió giải đồng,

    Lay bông lúa sớm hương nồng thơm đưa.


    Bây giờ, ôi ! biết bao giờ

    Cho ta lại đứng trên bờ đê cao ?

    Thả hồn lưu luyến xôn xao

    Rung theo tiếng sáo diều cao lững lờ !

    (Sài-gòn, cuối thu 1954)

    *

    Mùa gặt

    Gà vừa gáy. Trời mai còn ẩm ướt

    Đường trong thôn rầm rập bước chân đi.

    Tiếng gọi, thưa ấm ới động sương khuya,

    Tiếng sát gạo trên cầu ao sền sệt.

    Rồi lửa đỏ bập bùng trong các bếp,

    Rồi tiếng mâm va bát động lanh canh

    Tiẽng cười đùa xen tiếng đũa và nhanh,

    Người vội vội. Trống tàn canh gấp gấp...


    Trời tang tảng. Sương đào bay lớp lớp,

    Cánh đồng quê mờ ngợp khói sương mơ,

    Từ cổng làng từng bọn kéo nhau ra,

    Tiếng quang cặp, đòn càn va lách cách.


    Họ vui vẻ đi nhanh trên đường đất,

    Rồi tạt ngang, tản mát khắp đồng quê.

    Họ dừng chân bên ruộng ướt sương khuya

    Lúa rạp rạp ngả theo chiều gió thổi.

    Thợ đàn ông xắn quần lên quá gối,

    Thợ đàn bà cao váy xếch hai bên

    Đễ lộ ra những cặp bắp chân đen,

    Rồi kẻ hái người liềm xô xuống ruộng.


    Lúa thức giấc xạc xào trong hỗn độn,

    Lúa run run lìa cuống ngã trên tay…

    Lũ cào cào, châu chấu sợ tung bay,


    Nhưng chớp mắt lại nặng nề rơi xuống.

    Liềm hái gặt. Lúa thi nhau lìa cuống,

    Nằm ngổn ngang trên ruộng hở màu đen.

    Phía trời đông quạt lửa rộng xoè lên,

    Cánh đồng bỗng rực tươi màu đỏ ối.

    Sương mỏng mỏng nhẹ tan như làn khói


    Lúa thơm thơm, rơm mới cũng thơm thơm.

    Không khí thơm tho, gió chạy rập rờn,

    Làm gơn gợn sóng vàng trên biển lúa.

    Thửa ruộng kia, tiẽng ai vừa hát đó.

    Giọng thanh thanh theo gió vẳng đưa xa.

    Rồi đồng quê vang rộn tiếng dân ca,

    Tình thắm thiết ngụ trong lời thắm thiẽt.

    Miệng cứ hát, tay cứ làm mải miết,

    Làm say mê như quý tiếc thời gian.

    Họ như quên không thấy nắng hanh vàng

    Dần gay gắt rêu ròn trên nón lá,



    :rose:
  • Đang tải...