1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0081.0007- Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki

Jan 12, 2016
0081.0007- Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Khi đến kinh, vua đưa bài thơ của Tàu ra hỏi, Trạng Hiền cầm bút viết ra một chữ và giải rằng:

    - Câu thơ thứ nhất nghĩa là chữ nhật ngược xuôi bằng đầu nhau; thứ nhì là bốn chữ san ngược xuôi cùng là chữ san cả; thứ ba hai chữ vương tranh nhau ở trong một nước; thứ tư là bốn chữ khẩu ngang dọc cùng thành chữ khẩu cả. Tóm lại chỉ là một chữ điền.

    Giải xong đưa cho sứ Tàu xem, sứ Tàu phải chịu. Vì thế vua cử Nguyễn-Hiền làm Kim-tử-vinh-lộc đại-phu. Sau lại làm đến Công-bộ thượng-thư, không được bao lâu thì ông ấy mất.

    Vua thấy người đại tài như thế mà không được thọ, thương tiếc vô cùng. Huyện ông ấy nguyên tên là huyện Thượng-Hiền, vua mới kiêng tên ông ấy, đổi ra gọi là Thượng-Nguyên. Lại cấp cho năm mẫu ruộng tư-điền, bắt dân ấy phải lập miếu thờ.

    22.- Lương-Thế-Vinh

    Lương-Thế-Vinh hiệu là Thụy-hiên, người ở làng Cao-hương, huyện Thiên-bản, tỉnh Nam-định. Khi còn bé, đã có tiếng đồn là thần-đồng. Đến năm 23 tuổi thi đỗ Trạng-nguyên trong năm Quang-thuận đời vua Thánh-tôn nhà Lê.

    Tục truyền Thế-Vinh đã thác sinh ở huyện Nam-xang. Khi lên 7,8 tuổi, cùng với trẻ con đi học. Bên cạnh đường có một con chó đá, mỗi khi Thế-Vinh đi qua, thì con chó đá vẫy đuôi mà mừng.

    Về nói truyện với cha, cha bảo rằng:

    - Nó đã biết vẫy đuôi, thì hẳn nó cũng biết nói, thử hỏi vì cớ gì mà mừng.

    Hôm sau, Thế-Vinh đi qua, con chó ấy lại vẫy đuôi. Thế-Vinh hỏi, thì nó nói rằng: “Ngày sau ông đỗ Trạng-nguyên cho nên tôi mừng thay ông”.

    Thế-Vinh về nhà lại nói với cha như thế. Cha tự bấy giờ chắc ngày sau con làm nên, sinh ra kiêu ngạo, thường hay tranh cạnh với người ta và đe rằng:

    - Mai sau con ông đỗ Trạng, ông sẽ hỏi tội cho chúng bay.

    Thế-Vinh thấy cha như thế, can mãi mà cha không nghe, có ý không bằng lòng, buồn rầu mà bảo với mẹ rằng:

    - Mẹ có đức hiền hậu mà cha thì kém đức. Con không ở đây nữa,xin từ đi chỗ khác đây.

    Mẹ ngạc nhiên thất sắc nói rằng:

    - Sao con nói gở ra thế? Công chăng nuôi con bấy lâu nay, mong con mai sau khá giả, để mà nương nhờ, con đã lấy gì giả được ơn cha nghĩa mẹ, mà dám nói càn như vậy?

    Thế-Vinh khăng khăng một mực xin đi. Mẹ khuyên dỗ trăm chiều, nhưng cũng không sao giữ được, mới khóc mà bảo rằng:

    - Vậy thì con định đi đâu? Con bảo cho mẹ biết.

    Thế-Vinh dặn mẹ cứ ngày ấy tháng ấy đến làng Cao-hương, huyện Thiên-bản thì biết, và dặn giữ lại các bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của mình học. Nói xong thì mất.

    Bấy giờ vận nước Nam đang thịnh, người tàu xem thiên-văn, thấy văn-tinh giáng xuống nước Nam, mới sang nước ta, tìm phương trấn áp. Khi Thế-Vinh còn ở Nam-xang, đi chơi với một lũ trẻ con. Người Tàu trông sao, biết văn-tinh ở trong đám trẻ con ấy, nhưng chưa biết đích đứa nào. Mới lấy một quả bưởi bỏ vào hố sâu, đố đám trẻ ấy lấy được quả bưởi ra thì thưởng tiền. Thế-Vinh không ra mặt lấy, nhưng xui một đứa khác múc nước đổ vào hố cho đầy, rồi quả bưởi nổi lên thì lấy. Người khách gạn hỏi đám trẻ, biết là mưu mô tự ông Thế-Vinh, muốn tìm phương kế để trừ ông ấy đi.

    Người khách chưa kịp dùng mẹo thì ông ấy mất. Trông xem thiên-văn, biết thần ấy chạy sang làng Cao-hương, mới đuổi theo đến tận làng ấy, thì thấy thần ông ấy đã nhập vào trong hòn đá to. Người khách hỏi người chủ có hòn đá, xin mua. Người chủ tưởng nó hỏi đùa mình, mới nói bỡn rằng: “Hòn đá này phải 100 quan tiền mới bán”. Người khách giả đến 70 quan, người chủ không biết thế nào, tưởng là nó đến cợt mình, nhất định không bán. Người khách thấy không bán, giả tảng đi nơi khác. Xảy có người liền bà ở ngoài đồng đi về, thấy chúng xúm xít lại nói truyện người khách hỏi mua hòn đá. Người liền bà mới giẫm chân vào hòn đá mà nói rằng:

    - Hòn đá này quí hóa gì mà nó mua đắt đến thế?

    Không ngờ thần ông ấy ở trong hòn đá, từ bấy giờ đầu thai ngay vào người liền bà ấy. Hôm sau người khách trở lại, toan cố vật nài để mua hòn đá cho được. Người có đá cũng định bán vậy cho nó. Nhưng khi đến nơi thì người khách trông hòn đá, biết thần đã xuất mất rồi, mới nói rằng:

    - Bây giờ một đồng cũng chẳng mua nữa.

    Người khách biết không thể nào trấn áp được, mới trở về Tàu.

    Khi Thế-Vinh mới sinh ra, ngày đêm chỉ một vị khóc, cha mẹ, hàng-xóm thay nhau ôm ẵm cũng vậy. Người mẹ trước nhớ nhời con dặn, hỏi thăm đến tận làng ấy, nghe có một nhà mới đẻ con giai, mà chỉ khóc cả ngày lẫn đêm. Hỏi đến tận nhà vào chơi, xin chủ nhà ẵm đứa bé một tí, từ đấy đứa bé mới thôi khóc. Bà kia mới kể truyện đầu đuôi con mình với nhà chủ, từ đó thường thường đi lại coi như con mình.

    Đến khi Thế-Vinh mới nhớn lên, bảo với bà mẹ trước rằng:

    - Những bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của tôi thủa trước, cùng là tôi có món tiền chôn ở dưới gốc cây chuối thì đem đến đây cho tôi.

    Bà kia về đào dưới gốc cây chuối, thì quả nhiên thấy có món tiền, mới đem cả bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào và món tiền sang đưa cho Thế-Vinh. Cha mẹ đẻ mới lấy làm tin, nuôi bà kia ở đấy một thể.

    Thế-Vinh học đến đâu, như người học ôn lại. Đến năm 23 tuổi thi đỗ Trạng-nguyên.

    Vua Thánh-tôn thấy Thế-Vinh là người hay chữ, dùng làm chức Hàn-lâm thị-thư chưởng-viện. Bao nhiêu tờ bồi giao thiệp với nhà Minh tự tay Thế-Vinh soạn ra cả. Người Tàu phải chịu nước Nam có tay văn-chương giỏi.

    Bộ đại-thành toán-pháp, là của Thế-Vinh làm ra.

    Thế-Vinh làm quan không được bao lâu thì về trí-sĩ. Tính hay khôi hài, lúc về quan rồi, thường chỉ mặc cái áo vải, chơi bời với người trong làng.

    Một hôm, ngồi chơi với một vài người ở trong làng, xảy nghe có quan huyện đi qua. Quan huyện xưa nay hách dịch, đi đến đâu rầm rầm đến đấy. Mấy người ngồi hàng đứng dậy tránh cả, chỉ còn một mình Thế-Vinh ngồi chơi. Khi quan huyện đến, sai lính vào hàng bắt phu khiêng võng. Lính không biết ông ấy là ai, bắt ra khiêng, Thế-Vinh cũng khiêng.

    Đi được một lát, ông ấy gặp người làng nhắn bảo rằng:

    - Nhờ bác bảo hộ thằng học-trò tôi là Thám-hoa làng Vân-cát tên nó là Trần-công-Bích, bảo nó ra khiêng đỡ võng quan huyện cho tôi, kẻo tôi mệt quá, không đi được.

    Ông quan huyện nằm trong võng, nghe câu ấy, chẳng khác gì sét đánh ngang tai, giật mình ngã lăn xuống đất, rồi đứng dậy lạy thì thà thì thụp, kêu là không biết, xin thứ tội cho.

    Thế-Vinh cười bảo rằng:

    - Ông là quan huyện, bắt tôi khiêng võng thế là phải, có việc gì mà tạ!

    Ông huyện kia vật đầu vật tai kêu van mãi, Thế-Vinh mới bảo rằng:

    - Có phải thế thì từ rầy chớ nên bắt phu khiêng võng nữa bác nhé!

    Ông huyện kia vâng vâng dạ dạ, xin khiêng giả võng rước ngài về nhà. Thế-Vinh không khiến, người trong làng đổ ra đón Thế-Vinh về.

    Về sau Thế-Vinh mất, được phong làm thượng-đẳng phúc-thần. Con là Hiến-Công, có công với nước, cũng được phong làm phúc-thần. Ngôi mộ ông Thế-Vinh đến giờ vẫn còn ở làng Cao-Dương.

    Khoa Thế-Vinh đỗ, Nguyễn-đức-Trinh thi đỗ Bảng-nhãn, Quách-đình-Bảo thì đỗ Thám-hoa, ba người cùng có tiếng hay chữ từ thuở nhỏ. Vua có thêu ba lá cờ ban cho mỗi người một lá, để cho vinh qui.

    Trong cờ thêu bốn câu rằng:

    Trạng-nguyên Lương-thế-Vinh,

    Bảng-nhãn Nguyễn-đức-Trinh,

    Thám-hoa Quách-đình-Bảo,

    Thiên-hạ cộng chi danh.

    Tục truyền khi Thế-Vinh còn nhỏ, nghe tiếng Quách-đình-Bảo hay chữ, hỏi thăm đến chơi. Đến nhà thấy Đình-Bảo đang học ở trong buồng. Thế-Vinh trở ra về ngay, nói rằng: “Anh ấy không sợ”, nghĩa là thi đến nơi rồi mà còn phải học thì hèn lắm, không đủ sợ chi. Về sau, Đình-Bảo cũng hỏi thăm đến chơi nhà Thế-Vinh thì thấy ông ấy đi chơi thả diều vắng. Đình-Bảo than rằng: “Thi đến nơi rồi mà không cần gì phải xem bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, đó mới thực là thiên tài!”. Nhân thế biết mình không bằng ông ta, xấu hổ trở về.

    23.- Vũ-công-Duệ

    Công-Duệ người làng Trình-xá, huyện Sơn-vi, tỉnh Sơn-tây. Khi còn nhỏ, cha mẹ đi cầy vắng nhà, Công-Duệ chơi với một bọn trẻ con, nặn đất làm con voi, bắt hai con bướm làm hai tai, cắm con đỉa làm vòi, lấy bốn con cua làm chân. Thành ra voi đất mà vẫy được tai, vòi co lên quắp xuống và chân đi được, ai trông cũng cho là tinh quái.

    Một khi, có người đến đòi nợ, hỏi rằng:

    - Bố mày đâu?

    Đáp lại:

    - Bố tôi đi giết người.

    - Mẹ mày đâu?

    - Mẹ tôi đi cứu người.

    Người đòi nợ lấy làm lạ, không biết nói thế là ý tứ ra làm sao, hỏi căn vặn mãi mới nói rằng:

    - Hễ có tiền thưởng thì tôi sẽ nói rõ cho mà biết.

    Người kia mới dỗ bảo rằng:

    - Mày cứ nói đi cho thật, tao sẽ tha nợ cho nhà mày, không đòi nữa.

    Công-Duệ sẵn cầm một cục đất dẻo, bảo người kia in tay vào đây để làm tin.

    Người kia cũng thử in tay vào xem nói ra làm sao, Công-Duệ mới nói rằng:

    - Cha tôi đang nhổ mạ mà mẹ tôi thì đang cấy.

    Người kia lấy làm kì dị. Hôm khác lại đến đòi nợ. Công-Duệ đưa ngay hòn đất hôm trước ra, và nói rằng:

    - Tay ông ký vào đây, còn đòi gì nữa?

    Người kia đứng ngẩn mặt ra, không biết nói lại ra làm sao, nhân khuyên cha mẹ Công-Duệ cho đi học, và giúp món nợ ấy để lấy tiền mua bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào.

    Công-Duệ học thông minh lắm, nội các bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào vở, chỉ học qua một lượt là thuộc. Đến năm Hồng-đức thứ 23 đời vua Thánh-tôn nhà Lê. Công-Duệ đã ngoài 20 tuổi, thi đỗ Trạng-nguyên khoa ấy.

    Lúc làm quan, tính khí cương trực, vua cất lên làm Đô-ngự-sử, các quan ai cũng kính sợ.

    Đến khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, đình-thần nhiều người a dua về Mạc-đăng-Dung, ai không nghe phải giết. Đăng-Dung sai người dụ Công-Duệ theo về làm quan với mình, Công-Duệ chửi mắng rầm rã, nhất định không thèm theo kẻ nghịch-thần, nhưng liệu mình cũng không thoát được tay nó, mới đeo cả quả ấn Ngự-sử đâm đầu xuống cửa bể Thần-phù mà chết.

    Cách 60 năm nữa, nhà Lê trung-hưng, khôi phục được kinh thành Thăng-long, sai đúc ấn Ngự-sử, thì đúc mãi không thành được quả ấn. Mới sai người lặn xuống cửa bể Thần-phù, tìm quả ấn trước. Người lặn xuống đến nơi thì thấy Công-Duệ vẫn còn mặc áo đội mũ chỉnh tề, cổ đeo túi ấn, ngồi xếp hằng tròn ở dưới đáy bể như thuở sinh thời.

    Người ấy sợ hãi, lên tâu truyện với vua Trang-tôn. Vua lấy làm lạ, chắc là bụng tinh thành của Công-Duệ kết lại, mới sai quan làm lễ khấn bái, rồi sai người đem xác Công-Duệ lên, dùng lễ khâm liệm, bỏ vào áo quan, làm ma đưa về đến làng Trình-xá an táng, truy phong làm Thượng-đẳng phúc-thần.

    24.- Giáp-Hải
    Giáp-Hải thi đỗ Trạng-nguyên khoa Mậu-tuất năm Đại-chính nhà Mạc (1538) Mẹ Giáp-Hải là người làng Công-luận, huyện Văn-giang. Bà cụ ấy khi còn trẻ nghèo lắm, chỉ có vài gian nhà gianh ở cạnh đường bán hàng nước. Bấy giờ có một người Tàu đi qua đường vào hàng nghỉ, lúc đi bỏ quên một túi bạc. Cách nửa tháng nữa mới hốt hoảng lại hỏi, thì bà ấy đem cả túi ra trả, vẫn nguyên như lúc trước.

    Người khách xin biếu lại một nửa, bà ấy không lấy, nói rằng:

    - Tôi chỉ vì không ưa của bất nghĩa, cho nên mới nghèo thế này, sao bây giờ tôi có chịu lấy của ông.

    Người khách cảm tạ bụng ấy, mới hỏi rằng:

    - Mồ mả đấng tiên-nhân nhà bà ở đâu, để tôi tìm giúp cho bà một ngôi đất hay.

    Bà kia nói:

    - Tôi là đàn bà, chỉ có trọi một mình, không có anh em nào cả. Nay đã ngoài 40 tuổi, dù được đất hay, thì bao giờ cho phát đạt? Mà phát đạt thì có làm gì nữa?

    Người khách nói:

    - Nếu được chỗ đất hay, thì dẫu đàn bà cũng phát phúc.

    Bà ấy mới đưa người khách đến chỗ ngôi mộ cha bà ấy. Người khách lập tức tìm đất cất cho, rồi dặn rằng:

    - Về sau thấy ai có nạn đến đây, phải sẵn lòng mà cứu người ta, thì sẽ có cát báo.

    Bà ấy ở đấy được nửa năm, xảy có người làng Bát-tràng, nhà nghèo đi làm mướn kiếm ăn; khi ấy giời đã tối, gặp phải mưa gió, quần áo ướt lướt thướt, rét run cầm cập, qua hàng bà ấy xin vào trọ một tối. Bà ấy hỏi đầu đuôi cặn kẽ, cho vào ngủ, rồi đốt lửa cho sưởi và dọn cơm cho ăn, đêm hôm ấy rét lắm, mà nhà thì có độc một chiếc chiếu. Người kia thì rét không có chiếu không chịu được, mà bà ấy thì cũng không thể nào mà nhường được chiếu cho. Mà để cho khổ thì chẳng đành lòng, mới cho nằm chung một giường mà ngủ.

    Chàng kia đã được no ấm, lại nằm chung với liền bà, lạ gì lửa gần rơm, té ra thành tư thông với nhau. Không ngờ chàng kia bị chứng hàn thấp chỉ một lúc thì tắt hơi. Bà ấy kinh hoảng vô cùng, sợ người ta phát giác ra, đang đêm phải lôi ra đám tha ma vùi xuống; mà bà ta cũng có mang từ đấy.

    Được vài tháng nữa, người Tàu lại đến, hỏi rằng:

    - Tự khi táng mả đến giờ, đã cứu được việc gì cho người nào chưa?

    Bà ấy không giấu giếm gì, kể cả sự trước cho người khách nghe.

    Người khách hỏi:

    - Chôn chỗ nào, thử chỉ cho tôi xem.

    Bà ấy đưa ra chỗ mả chàng kia. Người khách ngắm nghía một hồi rồi nói rằng:

    - Chỗ này là huyệt thiên táng đấy, nếu có thai thì tất sinh ra Trạng-nguyên tể-tướng.

    Bà ấy đầy năm, quả nhiên sinh được con giai, cốt cách lạ thường. Khi lên 4 tuổi, ra chơi ngoài bờ sông, xảy có người lái buôn ở làng Sính-kế, huyện Phượng-nhỡn, bơi thuyền qua bến, trông thấy thằng bé nhẵn nhụi, ăn cắp đem xuống thuyền đi mất.

    Bà kia tìm con đâu cũng không thấy, tưởng là chết đuối dưới sông rồi, sầu thảm không biết ngần nào.

    Người lái từ khi đem đứa bé về, yêu mến lắm, khi mới nhớn lên tìm thầy cho đi học. Giáp-Hải học rất thông minh, nổi tiếng thần-đồng. Mỗi ngày học hành một tấn tới, văn chương hay nhất trong đời. Đến năm 23 tuổi, thi đỗ Trạng-nguyên.

    Hôm vinh-qui về làng, người trong làng phải phục dịch khó nhọc, có người biết nguyên ủy ông ấy, bảo riêng với nhau rằng:

    - Không biết người ở xứ nào, đến đây mà làm khổ dân ta thế này!

    Giáp-Hải nghe lỏm được câu ấy, không biết vì cớ làm sao. Một hôm, xét xem các mồ mả tổ-tiên, thì không có ngôi nào đáng phát Trạng-nguyên, trong bụng hồ nghi lắm. Nhân mới hỏi những người quen thuộc, có người biết truyện nói với ông ấy. Giáp-Hải mới đến tận làng Công-luận dò xem, thì thấy có bà cụ già ngoài 70 tuổi, bán hàng bên cạnh đường, trông ra tình cảnh khốn đốn lắm.

    Giáp-Hải sai người vào hỏi rằng:

    - Bà cụ kia có chồng con gì không, sao mà khốn khó đến thế?

    Bà cụ nói:

    - Tôi là người ở làng này, khi xưa có đẻ được một mụn con giai, đã 4,5 tuổi, chơi với trẻ con ở bờ sông, rồi không biết nó lạc đi đâu mất. Bấy giờ chỉ có một thân, không biết nương cậy vào đâu, tình cảnh sầu thảm, nói ra không xiết.

    Giáp-Hải đồ là mẹ mình, mới sai người bảo rằng:

    - Bà cụ già cả mà không có ai trông nom, thì theo về với tôi để tôi nuôi cho, có bằng lòng không?

    Bà kia nói:

    - Nếu quan lớn có bụng thương tôi như thế, thì phúc cho tôi lắm!

    Giáp-Hải mới đem về nuôi nấng, nhưng cũng chưa dám chắc hẳn là mẹ. Chân Giáp-Hải vốn có nốt ruồi đỏ, thường khi ngồi nhàn để lộ ra. Bà cụ ấy một hôm trông thấy, cứ nhìn tròng trọc không chớp mắt.

    Người nhà quở rằng:

    - Quí thể quan lớn, bà cụ kia sao dám nhìn mãi thế?

    Bà kia nói:

    - Tôi khi xưa sinh được một đứa con giai, cũng có cái nốt ruồi như thế, nay tôi trông thấy, tôi lại nhớ đến con tôi, cho nên tôi nhìn ngắm một chút, xin quan lớn thứ lỗi cho tôi.

    Giáp-Hải lập tức gọi bà ấy hỏi cặn kẽ từng tí, bà cụ ấy kể rạch ròi thủy chung, Giáp-Hải buồn rầu mà than rằng:

    - Ta bậy bạ uổng mất một đời, có mẹ mà không biết, nay nhờ giời mà được gặp đây, mới biết đến mẹ.

    Tự bấy giờ mẹ con nhìn nhận nhau, hết đạo phụng thờ sớm tối.

    Về sau, Giáp-Hải làm Đề-điệu trường thi-hương ở tỉnh Sơn-nam. Hôm vào trường, Giáp-Hải ra đầu bài hiểm hóc, học-trò nhao nhao, toan sự phá trường mà ra, Giáp-Hải phải điều đình ra đầu bài khác, học-trò mới yên. Sai người dò xét, bắt được người thủ-xướng phá trường, sai điệu ra ngoài cửa trường kết án trảm-quyết. Người học-trò ấy kêu nhà độc đinh, xin nộp nghìn quan tiền chuộc tội, nhưng Giáp-Hải không nghe, nhất định chính pháp.

    Được ít lâu, con Giáp-Hải là Giáp-Phong, cũng đã đỗ tiến-sĩ, làm quan trong tòa Hàn-lâm, đã ngoại 30 tuổi, bỗng một hôm vô bệnh mà mất. Rồi bốn con giai, hai con gái cũng mất luôn cả một giạo. Giáp-Hải thương xót vô cùng, mời thầy phù-thủy đánh đồng thiếp.

    Thầy phù-thủy bảo Giáp-Hải ngồi tĩnh nhắm mắt lại, rồi thư phù niệm chú một lúc, bỗng nhiên Giáp-Hải ngã gục xuống. Trong khi ấy thấy có một người sứ-giả, đưa đến một nơi cung phủ, trong đó có ba bộ ngai ngồi, bên cạnh có một tấm phản, và có một cái gông sơn son đỏ để đấy.

    Giáp-Hải hỏi những người canh cửa rằng dinh tòa nào, thì họ nói rằng:

    - Đây là tòa Diêm-vương hỏi kiện đây, cái gông sơn đỏ để chờ quan Trạng-nguyên ở làng Sính-kế đấy.

    Giáp-Hải nghe nói lập tức ra ngay. Sứ-giả lại đưa đến một chỗ đền đài mát mẻ, phong cảnh lạ lùng. Giáp-Hải trông thấy con là Giáp-Phong đang ngồi đánh cờ với một ông quan khác. Phong trông thấy cũng ngoảnh mặt nhìn ra, nhưng không nói một câu gì.

    Ông quan kia hỏi rằng:

    - Ông cũng quen người ấy đấy ư, sao mà nhìn mãi người ta thế?

    Phong nói rằng:

    - Tôi trước kia ở trên trần, có trọ nhà ông ta hơn 30 năm, vì ông ta giết oan mất một người, cho nên tôi không ở nữa; nay thấy ông ta đến đây, chẳng lẽ không nhìn một chút.

    Ông ấy thấy nói vậy, không hỏi gì nữa đi ra. Sứ-giả đưa về thì tỉnh. Biết là cái nợ oan-gia, mà lẽ báo ứng của nhà Phật cũng có. Vì thế sai gọi nhà người học-trò bị giết khi trước, cho tiền về làm chay cho anh ta. Từ bấy giờ, nhà ông ấy cũng yên ổn không việc gì.

    Về sau, làm đến Lại-bộ Thượng-thư, Thái-bảo Sách quốc-công, về nhà trí sĩ.

    Giáp-Hải nhận tổ-mộ ở làng Bát-tràng, cho nên văn-chỉ huyện Gia-lâm phải thờ ông ấy. Đến sau có ông Tiến-sĩ Nguyễn-mậu-Thịnh, cho Giáp-Hải là người làng Sính-kế, và lại làm quan nhà Mạc, muốn tước tên ông ấy ở trong sổ tiên-hiền huyện Gia-lâm. Đêm nằm mơ thấy Giáp-Hải đòi lại mắng rằng: “Tao tội gì mà dám tước tên tao, mày là bọn hậu sinh, sao dám khinh nhờn tiền bối, sẽ có báo ứng cho mày xem”. Ông kia vì thế sợ hãi, không dám xóa tên đi nữa. Nay huyện Gia-lâm vẫn còn thờ, mà làng Bát-tràng cũng phải cúng tế


    25.- Phạm-Trấn, Đỗ-Uông

    Huyện Gia-phúc (bây giờ là huyện Gia-lộc), tỉnh Hải-dương, một người tên là Phạm-Trấn ở làng Lâm-kiền; một người tên là Đỗ-Uông ở làng Đoàn-lâm, hai làng giáp giới với nhau.

    Làng Đoàn-lâm có một con yêu-tinh, thường thường biến hiện trăm vẻ, trêu ghẹo người ta, làng ấy tìm phương kế trừ mãi không được.

    Ông Đỗ-Uông khi còn nhỏ, một đêm ngồi học trong nhà, con yêu-tinh thò tay vào trong cửa sổ trước chỗ bàn học để trêu ghẹo Đỗ-Uông. Đỗ-Uông nói truyện với thầy phù-thủy, thầy phù-thủy xui lấy chỉ ngũ-sắc mà buộc lấy tay nó. Đêm hôm sau, con yêu-tinh quen thói lại đến. Đỗ-Uông vội vàng cầm chỉ ngũ-sắc trói lại, buộc vào cửa sổ. Con yêu-tinh quả nhiên không biến được nữa, mới kêu van, Đỗ-Uông nhất định không tha. Mãi đến gần sáng con yêu-tinh lại kêu rằng:

    - Ông ngày sau đại quí, tôi muốn bỡn ông đấy thôi, nỡ nào ông lại hại tôi?

    Đỗ-Uông hỏi:

    - Như tài sức tao, thì có đỗ nổi được Trạng-nguyên không?

    Con yêu nói:

    - Trạng-nguyên đã có một ông họ Phạm, ông chỉ đỗ được Bảng-nhãn mà thôi.

    Lại hỏi:

    - Mày có của gì mà thiêng được, hễ cho tao xem thì tao sẽ tha cho mày.

    Một lát, thấy con yêu nôn ọe, nhổ ra một hòn ngọc, cầm ở trong tay, ánh sáng lòe vào trong ngôi nhà, rồi lại nói rằng:

    - Tôi chỉ nhờ có của này mới thiêng, nay xin dâng ông để giúp thêm cho việc học hành.

    Đỗ-Uông cầm lấy hòn ngọc, nuốt vào bụng, rồi mới cởi trói tha cho nó đi. Từ bấy giờ con yêu mất thiêng, không quấy nhiễu gì nữa. Mà ông Đỗ-Uông từ khi nuốt hòn ngọc ấy, văn-chương mỗi ngày một hay, nổi tiếng trong các trường, văn ông Phạm-Trấn vẫn không kịp.

    Đến khoa thi hội thời Quang-bảo nhà Mạc, hai ông cùng trạc 34 tuổi, và cùng đỗ hội. Đến hôm thi đình, Đỗ-Uông trông thấy đầu bài, toàn chỗ nhớ cả, chắc là nắm Trạng-nguyên trong tay. Bấy giờ Phạm-Trấn ngồi trong lều làm văn, phảng phất như có hai người giúp đỡ. Một người là Đông

Share This Page