0087.0001 @Trần Lê Hương

Feb 11, 2017
0087.0001 @Trần Lê Hương
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    Giới thiệu

    Từ ngày dân tộc ta thu hồi chủ quyền và lãnh thổ đến nay, riêng tôi, tôi vẫn ước mong có một tập bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào ghi lại những thi văn bị cấm trong thời thuộc Pháp qua, vì đó là những di-sản tinh thần vô cùng quý giá của tiền nhân để lại. Những thi văn ấy phải nói là những bài có tác dụng hun đúc rất mạnh ý chí quật khởi của dân tộc, và đó cũng chính là những sử liệu xương máu mà những người dân Việt-Nam sống thác vì Tổ quốc Việt-Nam không thể bỏ qua được.

    Giữa lúc tôi đang băn khoăn vì câu chuyện trên đây thì quyển “ THI VĂN QUỐC CẤM – THỜI PHÁP THUỘC ” của bạn Thái-Bạch đưa lại cho tôi được cái hân hạnh để xem trước, và xin thêm ý kiến. Như trút được gánh nặng trong lòng, tôi lật từng trang xem, xem đến đâu như thấy thêm bốc dậy tinh thần dân tộc đến đó, và rất lấy làm mừng cho quốc dân trong lúc “ chống văn-hóa nô dịch ” này có một sư liệu quý ra đời. Tập này tuy chưa đầy đủ, nhưng phải nhận đây là một bước đi trước và là cả một công trình của một người biên soạn và sưu tầm.

    Vì thế, tôi viết mấy hàng này để tán thưởng công việc làm của một văn hữu, và xin trân trọng giới thiệu soạn phẩm “ THI VĂN QUỐC CẤM – THỜI PHÁP THUỘC ” này với quý vị độc giả.

    Sài-thành Xuân Canh-Tý – 1960

    NGUYỄN-VĨNH-ĐĂNG


    Lời nói đầu

    Lịch-sử dân tộc Việt-Nam ta trong 80 năm qua là lịch sử 80 năm chiến đấu không ngừng để giải phóng dân-tộc.

    Công cuộc chiến đấu này, khi công khai, khi bí mật và phải dùng đủ mọi mặt, mọi hình thức, mọi phương tiện mới đem lại kết quả ngày nay. Trong đó, chúng ta phải nói quân sự và văn nghệ đã đóng những vai trò có tính chất quyết định hơn hết. Vì quân sự là hình thức chiến-đấu cao nhất mà trước khi dùng đến phải nhờ văn-nghệ để nung tinh thần quật khởi, để sôi men chiến đấu trong khắp các từng lớp nhân dân.

    Một nhà cách mạng nói :

    - Có tư tưởng cách mạng rồi mới có phong trào cách mạng. Muốn có tư tưởng này, không thể không cần tới văn nghệ, vì chỉ có hình thức này, mới truyền cảm được tinh thần ấy vào tâm não con người, và mới có thể phát động, lôi cuốn được phong trào.

    Thực tế của các cuộc cách mạng Đông, Tây nói chung và Việt-Nam nói riêng đã chứng minh lời nói ấy là đúng.

    Tuy nhiên nhắc đến công cuộc chiến đấu giành độc lập của dân tộc mình, kiểm điểm lại, chúng ta thấy còn một sơ sót, trong việc ghi chép những trang sử oai hùng vừa qua đã gần như xem nhẹ những thành tích chiến đấu trên địa hạt văn nghệ mà không đề cập đến. Chính đó là những hồi kèn rung trống giục lòng yêu nước của nhân dân đứng dậy ; là những tài liệu giáo dục lịch sử vô cùng quý giá để cho đời đời truyền tụng, học tập và rút tỉa kinh nghiệm…

    Thế nên, trong thời Pháp thuộc những tài liệu ấy đã bị những kẻ đàn áp nhân dân ta xem là những thứ quốc cấm. Trong số các tác giả có người đã bị tù đày, bị giết, bị thủ tiêu, hoặc phải bôn ba nơi hải ngoại. Cả đến gia đình và những người tích trữ cũng phải liên can. Như vậy chúng ta đủ biết tác dụng của những tài liệu văn nghệ ấy thế nào. Có khác chi đâu những phát thần công đại bác bắn vào thành trì tư tưởng của những kẻ chỉ biết có tiền bạc, địa vị… chuyên sống bằng nghề cướp nước và bán nước !

    Ngày nay nước ta đã độc lập. Những tài-liệu ấy không còn ở trong giam cầm nữa.

    Chúng tôi thiết nghĩ hơn lúc nào hết, lúc này tự mình có nhiệm vụ phải sưu tầm lại để thưa với quốc dân và trình cho lịch sử. Không thì, những tài liệu ấy đã bị thất lạc đi rất nhiều trong thời gian qua, rồi đấy sẽ bị thất lạc thêm nữa.

    Vì vậy, chỉ mới có được một số rất ít thôi, chúng tôi cũng xin gom lại trong tập này, lấy tên là “ THI VĂN QUỐC CẤM THỜI THUỘC PHÁP ” cho đúng với tính chất và giá trị của nó là những bài thơ, bài văn đã bị người Pháp nghiêm cấm không cho lưu hành trong khi họ có mặt trên đài chính trị ở xứ này.

    Chúng tôi cố gắng sưu tầm nữa, và mong các bạn gần xa giúp thêm cho những tài liệu để bổ túc.

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,

    Ăn cơm nhớ kẻ cấy cày ruộng sâu.

    Trước linh hồn các anh hùng liệt sĩ đã hết mình vì dân vì nước, đã lấy cả lời văn ngọn bút làm gươm làm súng chống kẻ thù chung của dân tộc, hôm nay, chép lại tập tài liệu này, chúng tôi nguyện nuôi tinh thần ấy, ý chí ấy mãi mãi trong lòng để xứng đáng làm người Việt-Nam ở trước thế hệ mới.

    Sài-thành mùa mưa năm Kỷ-Hợi – 1959

    THÁI-BẠCH


    TÓM TẮT MỘT GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ

    Cuộc sống của con người từ đầu thế kỷ 17 đã bước sang một giai đoạn với những phát minh về khoa học làm cho bộ mặt thế giới mỗi ngày một thêm phần đổi mới.

    Trong khi ấy, các nước Tây-phương, về kỹ nghệ đã dùng các thứ máy móc chạy bằng hơi nước và điện lực. Về chánh trị, các nước ấy đã đi từ chế độ quân chủ chuyên chế bất bình đẳng bước sang chế độ dân chủ cộng hòa dựa trên nguyên tắc tự do và bình đẳng. Ảnh hưởng cuộc cách mệnh Pháp năm 1789 đã lan tràn đi khắp các quốc gia Âu Mỹ, đánh thức mọi dân tộc vùng lên để giành lấy quyền sống văn minh, cường thịnh.

    Ảnh hưởng ấy tràn sang Á Đông. Song chỉ có nước Nhật là sớm biết duy tân để làm cho dân tộc khỏi sa vào cạm bẫy thuộc địa của các nước tư bản phương Tây. Còn Việt-Nam mình với Trung-Hoa thì vẫn khư khư ôm giữ cái chế độ quân chủ mục nát với những học thuật cổ hủ từ nghìn xưa để lại. Do đó, nước Trung-Hoa từ năm 1840 trở đi đã thành một bán thuộc địa của các đế quốc Âu, Mỹ, Nhật, 450 triệu dân số con cháu của Phục-Hy, Thần-Nông, Hoàng-Đế phải sống một cảnh sống tha hồ cho tư bản ngoại quốc và tham quan ô lại bóc lột đến tận xương tận tủy, cơ hồ không thể cất đầu lên được nữa. Còn Việt-Nam ta thì trở thành một thuộc địa của Pháp, rồi năm 1940, người Pháp lại đem dâng cho Nhật làm căn cứ quân sự xâm lăng Thái-Bình-Dương. Nhân dân ta từ Bắc chí Nam phải sống vô cùng nhục nhã và đau khổ, trên 80 năm trời không có ngày nào không có đẫm máu và nước mắt.

    Ngược giòng lịch sử, ta thấy Việt-Nam đã tiếp súc với văn minh Tây-phương từ hậu bán thế kỷ 17 là khoảng năm 1789 năm mà Chúa Nguyễn-Ánh nhận cuộc viện trợ bằng người và súng đạn của giám-mục Bá-đa-lộc. Nhưng sau khi đánh thắng được Tây-sơn, thống nhất được lãnh thổ, ông vua này vẫn đặt guồng máy nhà nước trong khuôn khổ phong kiến quá mùa, đời sống của nhân dân vẫn nằm trong trạng thái thủ công và lạc hậu. Học thuật thì trước sau vẫn chủ trương cái gì không phải gốc của Thánh, HIền Trung-Quốc thì đều là man di.

    Đã thế, từ đời Minh-Mệnh (1829-1840) trở đi, những sự nghiệt ngã của nhà vua đối với các công thần, và những sự nhũng nhiễu làm càn của đám vương giả, quan liêu đã khiến lòng dân bất phục lại bất phục hơn nữa. Thêm vào đó, một số sĩ-phu Bắc-Hà còn nuôi ý khôi phục nhà Lê, nên giặc giã ngày càng nổi lên khắp cả mọi nơi. Từ các cuộc nổi loạn Lê-văn-Khôi ở Gia-Định, đến các cuộc loạn Phan-bá-Vành, Nông-văn-Vân ở Bắc, luôn luôn làm nhân dân phải liên tiếp sống những năm lầm than khổ sở, quan quân phải đi đánh dẹp hết chỗ nọ đến chỗ kia.

    Than ôi! Trước tình cảnh ấy, quan niệm hưởng lạc ở triều nội lại càng nẩy nở. Nhà vua thì lo củng cố ngai vàng bằng cách đặt bộ máy chánh quyền thu hẹp trong các bầy tôi thân tín, thủ túc, hơn là người nghĩ đến việc sống của nhân-dân. Bầy quan lại thủ cựu thì a dua xu phụ để lo lắng vinh thân phì gia hơn là nghĩ đến các công việc nhà nước.

    Tai hại thay cho cái tư tưởng bảo thủ và vị kỷ, nhất là cái tư tưởng ấy lại đã ăn sâu vào đầu óc những con người nắm vận mệnh dân tộc. Chính đó là những động cơ làm cho đất nước ngày càng đi vào hố suy vong thảm bại.

    Các bản điều trần xin tự lực khai hóa và canh tân nông nghiệp của các ông Nguyễn-Trường-Tộ, Nguyễn-Điền chính cũng do đó mà không được chấp thuận

    Ngoài ra, việc chủ trương cấm đoán khủng bố Gia-tô-giáo với chánh bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào bế môn tỏa cảng không giao thiệp với các nước Tây-phương của Triều-đình, càng làm cho việc đối ngoại cũng như việc đối nội, mỗi ngày một thêm phần rối nát.

    Riêng việc khủng bố Giáo-dân đến đời Thiệu-Trị (1841-1847) có giảm đi phần nào. Nhưng việc khủng bố và bắt giam các giáo-sĩ ngoại quốc vẫn tiếp diễn, và lại có lúc tăng hơn nữa.

    Vì đó, tình thế nước nhà đưa dần đến chiến tranh, mặc dầu chỉ là một cái cớ để thực dân lợi dùng mà phần thua thiệt nghiêng về phía mình vì trình độ tổ chức quân sự của ta còn kém, binh sĩ thiếu giáo luyện, vũ khí lạc hậu, phần nhiều là cung tên giáo mác.

    Thế là từ năm 1859, quân đội thực dân Pháp sau khi đánh lấy được Gia-Định, thế lực xâm lăng của chúng lan tràn đi khắp mọi nơi trên lãnh thổ nước ta.

    Năm 1862, chúng bắt triều đình nhà Nguyễn phải ký hòa ước hiến ba tỉnh miền Đông Nam-Việt. Năm 1867, chúng cướp luôn ba tỉnh miền Tây.

    Năm 1873, chúng đem quân ra Bắc. Năm 1883, chúng vào cửa Thuận-An, bắt triều đình phải ký hòa ước nhìn nhận sự bảo hộ của chúng. Sau đó là hòa ước năm 1884, nói rõ Nam-Kỳ là thuộc địa của Pháp, còn Bắc-Kỳ, Trung-Kỳ vẫn do triều đình Huế cai trị. Nhưng từ sau ngày 23 tháng 4 năm 1885 là ngày Tôn-Thất-Thuyết đại bại trong việc tấn công tòa Khâm-sứ Pháp ở Huế, phải đem vua Hàm-Nghi chạy trốn thì dần dần bản hòa ước chỉ còn là một mảnh giấy lộn, triều đình Huế biến thành một cái bù nhìn để cho người Pháp sai khiến và lợi dụng.

    Đất nước Việt-Nam hoàn toàn thuộc về tay người Pháp.

    Trong những ngày nắm quyền cai trị, thực dân Pháp lên tiếng là đem văn minh sang khai hóa nước ta. Nhưng :

    - Về chính trị, chúng vẫn duy trì cái chế độ vua quan mục nát để thẳng tay đàn áp dân ta. Chúng cấm nhân dân ta không được nói đến các quyền tự do, dân chủ. Chúng chia nước ta làm 3 miền Trung, Nam, Bắc khác nhau, mỗi miền đặt ra một chính thể riêng biệt, và cấm nhân dân ta không được phép tự do đi lại, để gây chia rẽ và nghi kỵ.

    - Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta một cách vô cùng tàn nhẫn bằng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý làm cho dân ta mỗi ngày một xơ xác điêu tàn. Chúng chiếm đoạt ruộng đất, rừng mỏ, nguyên liệu, giữ độc quyền in giấy bạc và xuất cảng nhập cảng. Thập chí từ năm 1943, chúng lại bắt dân ta phải bán thóc cho chúng với một giá lỗ vốn để gây ta tình trạng bi thảm; trên hai triệu người chết đói vào đầu năm 1945.

    - Về quân sự, chúng bắt dân ta phải đi lính để canh gác cho chúng, hầu hạ chúng, làm phương tiện cho chúng đàn áp đồng bào, va đi chết thay cho chúng trong các trận giao tranh với Đức, với Nhật, với Thái-Lan v. v…

    - Về văn hóa, và xã hội, chúnh dùng rượu cồn, thuốc phiện để làm suy nhược dân ta. Chúng cấm dân ta không được đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào cách mạng Pháp, duy-tân Nhật, Trung-Quốc, và những tác phẩm có tư tưởng đấu tranh cho tự do dân chủ. Chúng lập ra các trường Pháp-Việt nhưng chỉ với tính chất nhồi sọ, nhằm đào tạo những tay sai trung thành, nên bắt phải học rất nhiều về môn sử địa Pháp, gọi người Gô-Loa là thủy tổ nước mình, và hạn chế tuổi học khiến cho dân ta có tiếng là chăm học mà trong thời chúng cai trị tính ra đến 90 phần trăm người mù chữ. Chúng cho nhập cảng những thứ văn chương lãng mạn và các đồ xa xí để đẩy thanh niên nước ta vào vòng trụy lạc, vong bản. Chúng bắt dân ta phải đi phu, đi thợ ở các nhà máy, các đồn điền, các hầm mỏ với một giá lương rất hạ mà ốm đau không thuốc, gặp tai nạn không được đòi phụ cấp. Và trước sau với nhiệm vụ đi truyền bá văn minh, thực dân Pháp đã giết hại cả hàng triệu người Việt yêu nước, bằng gươm súng, bom đạn, bằng các nhà tù và các trại tập trung …

    Nói tóm lại, những ngày thực dân Pháp cầm quyền bảo hộ Việt-Nam ta là những chuỗi ngày dài :

    Rắn phun rết độc, đầy trời mưa máu gió tanh ;

    Cọp lũ beo đàn, chật đất gò xương núi xác.

    Nhái lớn nuốt nhái bé, cường quyền chí luận lý công ;

    Bò trắng húc bò vàng, bác ái còn đâu nhân đạo. (I)

    Mà những văn minh của thực dân Pháp đem sang khai hóa là những thứ ươu hèn, trụy lạc, phản trắc, đói khổ, lầm than, tham bạo, cờ bạc, trộm cắp, và các thứ vi trùng bệnh hoạn… Thật là một sự vô cùng xỉ nhục cho nước Pháp dân chủ, cho tinh thần cách mạng Pháp 1787, một cuộc cách mệnh cho dân quốc Pháp vẫn thường tự phụ mình có công lớn trong cuộc giải phóng lớp bình dân nô lệ ra ngoài vòng áp chế của bọn vua quan và quý tộc.

    Tuy nhiên, đối với nhân dân ta, thực dân Pháp chỉ có thể làm khiếp đảm, và lừa dối được một thiểu số thôi. Còn cả toàn thể thì trái lại. Do đó, các cuộc tranh đấu đã liên tiếp diễn ra bằng đủ mọi hình thức khi công khai, lúc bí mật để giành lại chủ quyền.

    Từ các cuộc khởi nghĩa Trương-Công-Định, Nguyễn-Trung-Trực, Thiên-hộ-Dương, Thủ-khoa Huân, Phan Liêm, Phan Tôn, Quản Hớn ở Nam, Nguyễn-thiện-Thuật, Tống-duy-Tân, Phan-đình-Phùng, Hoàng-hoa-Thám ở Trung ở Bắc, đến Đông-Kinh Nghĩa Thục, đến Duy-Tân, đến Thái Nguyên, Yên-Bái, đến Nam-Ngãi, Bình-Phú, đến các tỉnh Nam-Việt… Kiểm lại, trong những ngày người Pháp còn ngự trị, nhân dân ta không có ngày nào không có cuộc đấu tranh. Quả thật dân tộc ta là một dân tộc sáng suốt, đã tranh đấu với bạo lực, với cường quyền một cách anh dũng và bền bỉ để đi đến thắng lợi cuối cùng.

    Như vậy, tình hình nước ta trong những ngày thuộc Pháp là tình hình của một giai đoạn lịch sử đầy trời nghẹt đất những mây đen tối mịt, mà trong đó đã nẩy ra vô số những tia sáng, những lằn chớp, những luồng gió, những tiếng sét nối nhau để đánh tán đi những đám mây mù ấy cho trời trong sáng lại.

    Những bài của các bậc tiền bối đáng yêu đáng kính của dân ta trong tập “ Thi Văn Quốc Cấm ” này là những bài xuất phát từ trong hoàn cảnh lịch sử ấy.

    Nói chung, đối với thực dân cùng bè lũ, những bài này là những bản cáo trạng vạch trần những âm mưu sâu độc, những thủ đoạn dã man của chúng. Còn đối với đồng bào là những hồi chuông báo thức, những nhịp kèn gọi dậy, những tiếng trống thúc lên để tự giải phóng ra khỏi chỗ địa ngục trần gian, cho sống một cuộc đời đáng sống ở giữa lúc văn minh khoa học đang trào dâng sóng vỗ khắp nơi mà nhân loại ai ai cũng có quyền hưởng thụ.

    T. B.

    _____________

    1. Của cụ Nguyễn-phan-Lãng.


    PHẦN THI CA

    Trước họa giặc Pháp

    Mùa xuân năm Kỷ-Mùi, niên hiệu Tự-Đức thứ 12 (Dương-lịch 1859) bọn thực dân Pháp lợi dùng danh nghĩa bảo vệ các giáo sĩ đem binh quyền vào cửa biển Vũng-tàu, mở màn cuộc xâm chiếm nước ta.

    Với vũ khí tối tân, bọn chúng lần lượt đánh chiếm được các tỉnh Gia-định, Biên-hòa, Định-tường, tức 3 tỉnh miền Đông Nam-Việt.

    Nhưng nhân dân ta với tinh thần bất khuất và ý chí tự vệ đã đứng lên chống lại quyết liệt dù chỉ bằng vũ khí thô sơ.

    Bài thơ Lục bát này là bài nói lên nội dung ý nghĩa ấy trong khoảng thời gian đó và kể là một bài thơ kháng chiến đầu tiên. Nhưng rất tiếc không rõ tác giả là ai và đầu đề là gì, mà chỉ biết rõ là làm sau lúc 3 tỉnh đã bị giặc chiếm đóng, vì vậy chúng tôi tạm thay bằng mấy chữ tựa trên và chép y nguyên văn dưới đây do cụ Hồ-tôn-Tẫn ở Ba-sao đã thuộc lòng và đọc cho chép lại.

    Trời Nam đương hội mở mang,

    Bỗng nhiên mắc lũ giặc loàn Tây dương.

    Chó săn có lũ thằng Tường,

    Thằng Lộc, thằng Tấn, thằng Phương một đoàn (1).

    ___________

    1. Tức Tôn-thọ-Tường, Trần-bá-Lộc, Huỳnh-công-Tấn, Đỗ-hữu-Phương, những tên đại việt gian lúc đó.

    Xóm làng đình miễu tan hoang,

    Thành siêu vách đổ muôn vàn đắng cay.

    Máu thây oan nghiệt rẫy đầy.

    Chém cha cái lũ thằng Tây bạo tàn.

    Cửa nhà đang lúc hiển vang,

    Chốc nên ngói lở tro tàn thảm thương.

    Kìa quân tả đạo bất lương,

    Vô quân vô phụ một phường dã man.

    Nọ Lang-sa thứ giặc loàn,

    Cờ tam sắc nó rắc nàn gieo tai.

    Hỡi trang dẹp loạn giờ ai ?

    Sao chưa địch khái (2) trổ tài một phen ?

    Đồng-nai bốn phía mây đen,

    Biên-hòa, Gia-định nỗi niềm siết bao.

    Kia kia những đấng anh hào,

    Gò-công, Cần-giuộc trăng sao tỏ ngời.

    Lòng son rạng vẻ đất trời,

    Thệ cùng nghịch lỗ (3) ở đời chẳng chung.

    Răn ai giữ chí cho cùng,

    Thói tà của hoạnh (4) nhớ đừng có ham.

    Nam nhi kiến nghĩa (5) phải làm,

    ___________

    1. Tức đánh giặc.

    2. Tức giặc dữ.

    3. Thói tà là thói gian nịnh hại nhà hại nước. Của hoạnh là thứ của phi nghĩa.

    4. Nam nhi kiến nghĩa là người trai thấy việc nghĩa.

    Ví dầu da ngựa cũng cam mới là,

    Mấy câu thổ lộ gần xa,

    Giang san ba tỉnh (6) vua ta hãy còn.

    Phận thần tử gắng lo toan,

    Phát gai góc đặng tìm đàng cả đi.

    Bằng không tuyết xỉ (7) mai kia,

    Suối vàng tổ phụ theo về được chăng (8) !

    Đàng nào cũng thác chi bằng

    Thác vinh để đặng khói nhang ngàn đời (9).

    _____________

    1. Tức 3 tỉnh miền Tây Nam-Việt.

    2. Tuyết xỉ là rửa nhục, rửa sự xỉ nhục cho nước nhà.

    3. Ý nói nếu không rửa nhục cho nước nhà thì chết xuống suối vàng hỏi còn mặt nào mà nhìn ông cha nữa.

    4. Ý nói con người ta ai cũng phải chết, thì thà phải chết cho vinh dự để nghìn đời kính bái.
    Khóc Trương-công-Định

    Ông Trương-công-Định người tỉnh Quảng-Nam sinh năm 1820. Sự nghiệp của ông bắt đầu là một viên quản chỉ huy lính giữ một đồn điền.

    Năm 1860, sau ngày quân Pháp tiến sâu vào nội địa Đồng-nai, ông được thăng quản cơ và được đi vào nhậm chức ở đại đồn Kỳ-Hòa.

    Khi đại đồn thất thủ, và khi hiệp-ước Việt-Pháp 1862 được ký xong, ông là người đầu tiên đứng ra chống Pháp.

    Vì muốn giữ đúng lời cam kết với Pháp, Vua Tự-Đức xuống dụ đình chỉ các cuộc chiến đấu ở miền Nam. Ông Trương được nhà vua gọi về cai trị tỉnh Phúc-Yên. Nhưng ông nhất định không tuân lệnh vì dân chúng vẫn đứng sau lưng ông quyết chiến với kẻ thù và tôn ông làm chức Bình Tây đại-nguyên-súy.

    Tuy vậy, triều đình vẫn ngầm giúp đỡ ông và bí mật đưa sắc vào phong ông với chức mà dân chúng đã tôn lên, mặc dù mặt ngoài thì công khai cách hết mọi chức tước.

    Ông kéo cờ khởi nghĩa với khẩu hiệu “ Dân chúng tự vệ ” và đánh đuổi được quân Pháp ra khỏi thị xã Gò-công năm 1862, đồng thời giữ được từ giữa năm này đến giữa năm 1863 mới thất thủ. Kế đó, ông lập khu kháng chiến ở Kiến-Phước, Bình-Xuân, Bình-Thạnh, tiếp tục cuộc chiến tranh du kích.

    Ngày 19 tháng 8 năm 1864, ông cùng 30 chiến sĩ tâm phúc về làng Gia-Thuận ở bên sông Vám Láng để quan sát địa hình địa vật thì bị tên phản tặc Huỳnh-công-Tấn (tức Lãnh-binh Tấn) nửa đêm đem quân Pháp về mai phục dưới bãi cỏ để đợi trời bừng sáng nổ súng. Khi hai bên gặp nhau, một cuộc xáp chiến diễn ra rất mãnh-liệt. Ông bị một viên đạn trúng giữa xương sống và thác liền tại trận. Năm ấy mới 44 tuổi.

    Thi hài ông bị quân Pháp đem về Gò-công cho công chúng xem mặt, rồi sau đó mới cho người nhà ông mai táng. Mộ ông và đền thợ hiện nay ở đường Lý-thường-Kiệt trong thị xã Gò-công, nơi gần nhà ông đốc-phủ Hàm.

    Cụ Nguyễn-đình-Chiểu lúc ấy ở Ba-Tri, và là người tuy bị mục cật nhưng vẫn thường liên lạc giúp ông, nên sau khi được tin ông mới cảm súc viết mười hai bài thơ liên hoàn này để nêu cao sự nghiệp và tinh thần của một vị anh hùng đã hy sinh cho nước đến giọt máu cuối cùng.

    Trong Nam tên họ nổi như cồn

    Mấy trận Gò-công nức tiếng đồn.

    Dấu đạn hỡi rêm tầu xích-diện (1)

    Hơi gươm thêm rạng vẻ Hoàng-môn (2)

    Ngọn cờ ứng nghĩa trời chưa bẻ ;

    Quả ấn Bình tây đất vội chôn. (3)

    _____________

    1. Tầu xích-diện là Tầu của giặc Pháp, (có bản viết là Bạch quỷ).

    2. Hoàn-môn đây là chỉ vào chỗ nhà vua ở.

    3. Ông Trương được chiếu và ấn của triều đình bí mật phong cho làm chức Bình-tây đại-nguyên-súy.

    Nỡ khiến anh hùng rơi giọt lụy ;

    Lâm râm ba chữ điếu linh hồn.


    Linh hồn nay thác đã theo thần.

    Sáu tỉnh còn roi dấu Tướng-quân.

    Mực sở lãnh binh mờ mắt giặc,

    Son bằng ứng nghĩa thấm lòng dân.

    Giúp đời dốc trọn ơn nam tử,

    Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần. (4)

    Óc ngỡ tướng tinh rầy tỏ mặt,

    Giúp xong nhà nước buổi gian truân.


    Gian truân kể xiết mấy mươi lần,

    Vì nước đành trao một tấm thân.

    Nghe chốn Lý-nhân người sảng sốt,

    Nhìn cồn Đa-phước cảnh bâng khuâng.

    Bát cơm kê lữ chi sờn buổi,

    Mảnh áo mông nhung chẳng nệ phần.

    Chí giốc ra tay nâng vạc ngã (5),

    Trước sau cho trọn chữ quân thần.


    Quân thần còn gánh nặng hai vai,

    Lỡ dở công trình hệ bởi ai ?

    ___________

    1. Nghịch thần là người bày tôi chống lại vua. Ý chỉ vào việc ông Trương không theo chiếu nhà vua đi nhận chức lãnh binh mà dâng sớ xin kháng chiến đến cùng.

    2. Vạc ngã là ý nói vận nước đến lúc nghiêng ngửa, cũng như chân vạc đến lúc ngã.

    Trăm đám mộ binh vầy lớn nhỏ ;

    Một gò cô lũy chống hôm mai.

    Lương tiền nhà ruộng ba mùa trước ;

    Thuốc đạn ghe buồn bốn biển ngoài.

    May rủi phải chăng trời đất biết,

    Một tay chống chỏi mấy năm dài.


    Năm dài những mảng ngóng tin vua,

    Nhìn nhẫn thầm toan lẽ đặng thua,

    U, Kế năm hằng còn chỗ đoái,

    Ngô, Tôn trăm chước đợi ngày đua.

    Bày lòng thần tử vài lời sớ ;

    Giữ một giang sơn mấy đạo bùa.

    Phải đặng tuổi trời cho mượn số,

    Cuộc nay ngày vậy có phân bua.


    Phân bua trời đất biết cho lòng,

    Công việc đâu đâu cũng muốn xong.

    Cám nỗi nhà riêng mong chống cột,

    Nài bao bóng xế luống day đồng.

    Đồng-nai, Chợ-mỹ lo nhiều phía ;

    Bến nghé, Sài-gòn trải mấy đông.

    Dẫu biết dùng binh nhờ đất hiểm ;

    Chẳng đành xa bỏ cõi Gò-công.


    Gò-công binh giáp ngó ràng ràng,

    Nhìn Bắc trông Nam luống thở than.
  • Share This Page