1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0087.0003

26/1/16
0087.0003
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}

    Quan Hoàng tổng quyết bài nhất chiến.

    Lãnh-binh Đường xử biến hỏa công. (37)

    Đang khi súng bắn đùng đùng.

    Lãnh binh, quan bố thế cùng trút ra.

    Quan đốc-bộ đường xa ngó thấy,

    Cả tức mình vào lậy hành-cùng. (38)

    Rồi sau ra miếu Vũ công,

    Buộc khăn tự tử vào vòng quyên sinh.

    Quan tuần phủ thất kinh khi nớ,

    đau lăng nhăng ba bữa lại lành. (39)

    các quan tếch cả ra thành,

    lên Đoài sang Bắc tanh bành chạy tan.


    Kể ngoài thành những quan nho nhỏ,

    Tri-phủ Hoài, huyện Thọ (40) là ai ?

    Thọ-xương tếch nhửng khi mai,

    đến trưa hôm ấy phủ Hoài cũng bon. (41)


    Quan đi cả mà còn thành lũy,

    Chạnh lòng người ngẫm nghĩ mà thương.

    Kính thiên ngai ngự thiệp vàng,

    Tây ngồi đánh chén với đoàn thanh-lâu.

    Các chùa miếu đâu đâu đấy tả ;

    Can gì Tây cũng phá tan tành ?

    Các pho trượng cũng chẳng linh,

    Để Tây đem đốt ra hình true ngươi.

    Kể chi hắn hại người đến thế,

    Hạ thành rồi chẳng để cho xây.

    Có người rằng : << Lũ Tây này

    Khác Tây Quý-dậu nên rầy lăng nhăng.>>


    Dân xiêu bạt hỏi săn hỏi đón :

    <>

    Đồn quan Thống chế Hoàng-công, (42)

    Hắc-kỳ hợp với Sơn, Hưng cũng đồng. (43)

    Đang sắm sửa hòa công khí giới,

    Tế cờ rồi ngìa mới cất quân. (44)

    Người ta tấp tểnh nghe dần,

    Bữa mai bữa mốt đại thần về đây.

    Đỏ như mắt cá chày mong mỏi,

    Tính ngón tay đã ngoại tháng ba.

    Bỗng đâu có chỉ kinh ra,

    Tỉnh biên Đinh –Túc giảng hòa với Tây. (45)

    Đuộc hai bữa kéo ngay vào tỉnh,

    Thấy kho tàng đinh sảng sạch không.

    Bàn nhau sớ tấu cửu trùng,

    Thấy sao nói vậy đủ trong tình hình.


    Kìa những kẻ học sinh của thánh,

    Hễ làm trai phải gánh cương thường,

    Ngán cho Tổng đốc họ Hoàng,

    Đan tâm có một, cương thường không hai

    Hỡi những kẻ van hoài xuất thú, (46)

    Với những người mặt ủ hờn cơm, (47)


    Vì ai cũng dựa tiếng thơm,

    Tiếc gì xuân nữa mà sờm sỡ ai ?

    Được mấy kẻ anh tài phải đạo,

    Đều ăn cơm mặc áo trên đời.

    Đến khi có việc tầy trời,

    Trơ trơ chỉ thấy một người tận trung. (48)


    Trông thế cuộc não nùng đến thế,

    Nỗi phố phường mới kể mà nghe.

    Bằng nay xuân đã sang hè,

    Thân này đóng cửa mà nghe sự đời.

    Tỉnh Hà-nội những người phố, xá.

    Chạy loạn Tây vất vả nghĩ thương.

    Xách già ôm trẻ vội vàng,

    Về quê ăn tuyệt tư lương sạch rồi.

    Ở cũng cực ra thời cũng bực,

    Tưởng bán buôn mà bức mọi bề.

    Bằng ai có chợ có quê,

    Tiện phương thương mại, tiện nghề diễn viên.

    Cũng có kẻ quen miền phố xa,

    Thói quê mùa bỡ ngỡ xưa nay ;

    Ra hài vào hán thế này,

    Bây giờ lại phải dãi dầy tuyết sương.


    Xưa chạy loạn nay đương chạy loạn,

    Khúc ngày xưa, khác đoạn ngày nau ;

    Có quan đi giữ dẹp Tây,

    Nay quan chẳng thấy, loạn này bao yên?

    Rạng nghe đóng trên miền Day, Kẻ,

    Mai lại nghe ở Vẽ ở Vòng. (49)

    Lại nghe mới bước đến Phùng, (50)

    Lại nghe ngài đóng về vùng Thanh-oai. (51)

    Nghe đồn tiếng rằng ngài Phủ Lý,

    Huyện Nam-sang quan thủy đóng thuyền.

    Đồn rằng ngài ở Tam-Tuyên, (52)

    Hắc-Kỳ vừa tới, Thanh-Biền vừa qua.

    Thôi thôi hẳn ngài đã đãi chi, (54)

    Hể mà nghe thánh chỉ mần rang.


    Cho nên việc phải dùng dằng,

    Hết ngồi mà sợ, hết nằm mà lo.

    Quan ta chứa các kho tiền thóc,

    Mong làm hòa dở khóc dở van. (55)

    Sớ ra giục giã các quan.

    Tây thì khảng khái biết bàn tính sao.

    Thành thất thủ, xiềng trao già tỏa. (56)

    Phải lai kinh tra đả không tha,

    Loanh quanh – ta lại với ta,

    Kinh thiên Tây ở thế mà điềm nhiên. (57)

    Đồn Tàu Khách sang miền Tây-Bắc,

    Làm rọ nhiều hẳn bắt đoan Tây. (58)

    Mấy mươi đinh kéo đến đây,

    Những là mong mỏi mà rầy thấy đâu.

    Hay các chú phá tàu Đông-hải, (59)

    Còn quay về đóng lại mới sang ? (60)

    Mau mau cứu lấy Đại-Nam,

    Gạo đong hầu hết, khoai lang chẳng còn.

    Lúa, ngô, gạo nếp bòn vơ sạch,

    Vận Bắc-kỳ có bách hay không ?

    Sự hòa còn nói viển vông,

    Một nhà ba chủ biết trông chủ nào ? (61)


    Chuyện lúng túng làm sao thế ấy,

    Mãi thế này những thấy bét be

    Nực cười kể chuyện lè nhè,

    Người cùng tìm chốn chở che qua ngày.

    đàn bà phải lấy Tây cũng bức,

    dẫu rậm râu mạnh sức cũng liều.

    Người Nam lớn bé bao nhiêu,

    Ở hầu làm thiếp cũng đều làm ăn.

    Cô Thống-sát, Thông-năm (62) vô số.

    Vợ quan Tây, bà cố tran tran. (63)

    Võng đào chỉ thắm nghênh ngang,

    Mới hôm nọ, đã ba quan tềnh tàng.

    Phường bồi bếp nghênh ngang rạo phố,

    Áo quần Tây tảng lố thông ngôn. (64)

    Chở tàu lên Hạc lập đồn,

    Làm thêm thương chánh bán buôn cho nhiều.


    Mảng nghe tiếng Thiên triều (66) đến quản,

    Do Vân-Nam mấy vạn kéo sang.

    Bắc ninh với lại Tuyên quang,

    Quảng-yên, Thái, Lạng vô vàn Thanh-quân. (67)

    Xin cứu lấy nước Nam đành báo,

    Có tờ tư thu gạo cho nhiều,

    Thuận mua vừa bán Thiên triều trả cho.

    Sơn, Hưng (68) phải làm kho chứa sẵn,

    Lưỡng biên giang cứ thẳng kéo về.

    Tỉnh thành cho chi chợ quê,

    Những lo chết đói mà mê mẩn người. (70)

    Còn dũng tráng true người bặng nhặng,

    Đời làm công thẳng thẳng lưng sơi.


    Nghĩ buồn Nam-Việt sự đời,

    Những ăn hà tiện, để thời cho ai.

    Nay Tây cậy có tài thiện thủy.

    Đường sơn lâm hẳn bi kế thôi.

    Tàu bè ngược ngược xuôi xuôi,

    Hết Sơn, Hưng lại trở hồi Trường Tây.

    Chú Khách cậy quán này thiện hộ,

    Dòng Nhị-hà hẳn đố dám qua.

    Đi đâu quanh quẩn vậy mà?

    Hết Lâm, Đoan (71) lại Bảo-hà sông Ngân.

    Hai bên cứ giữ nhau thế mãi.

    Hay sợ hơi có phải hay không?

    Bên lo trái phá, thần công,

    Bên e cờ úp, thúng chống đâm quay (72).

    Hay đợi để tháng này tháng nữa,

    Chờ bao giờ gặp gỡ mới hay.

    Sao mà giữ mãi thế này?

    Tây thì Hà-nội, Ngô rầy Sơn, Hưng. (73)


    Tính thấm thoát qua chừng nửa tháng,

    Quít đỏ trôn còn nhẫn bao lâu. (74)

    Sao Cờ mọc đã ngang đầu, (75)

    Hồng-mao với khách quan Tàu đi đâu?

    Hãy nhất quyết đánh nhau một trận,

    Để thử làm cho tận tình dân,

    Đã hầu ngũ liệt tam phân, (76)

    Tam cương còn thiếu chữ quân trên đầu.

    Lại một hẹn rằng sau tháng chín,

    Quan Tàu về chẳng nhịn nữa đâu ;

    Chuyện như khất nợ với nhau,

    Mấy mươi tháng nữa mới hầu được yên? …

    (37) Tức phó lãnh-binh Nguyễn-đình-Đường.

    (38) Hành cung là một ngôi nhà làm ở mỗi tỉnh ở gần dinh Tuần phủ hay Tổng-đốc, để mỗi khi vua ra ngự giá thì tới ngự, và mỗi ngày các quan đại thần ở trong tỉnh thưởng đến đó để bái vọng nhà vua.

    (39) Tức tuần phủ Hoàng-hữu-Xứng. Trong khi thành bị tấn công Hữu-Xứng vì sợ quá nên phải chạy trốn vào nằm trong hành cung, và phải nhịn đói mất ba hôm thành bệnh. Rồi sau khi thành bị hạ, Hữu-Xứng bò ra được Pháp cho ăn mới lại tỉnh như sáo. Không biết khi quan Tổng đốc vào hành cung quan Tuần phủ có thấy không, hay vì đói quá thành ra mắt mờ không còn thấy gì nữa.

    (40) Tri-phủ Hoài-Đức và tri-huyện Thọ-Xương.

    (41) Đó các quan văn võ, lớn nhỏ như vậy cả, thì hỏi làm sao mà còn giữ được nước với non. Võng lọng, ngựa xe, mũ cao, áo rộng, thật là đồ ăn hại cả đám. Nếu cứ nghe các nhà chép sử << ăn lương bảo hộ>> với thụ phẩm triều đình thì làm sao mà biết đặng cái mặt trái của những người được gọi là các quan hồi đó, nếu không có tập thơ trào phúng bất hủ này truyền lại.

    (42) Tức Thống-chế Hoàng-kế-Viêm chỉ huy các đạo quân của triều đình ở Bắc.

    (43) Sơn, Hưng tức 2 tỉnh Sơn-Tây và Hưng-Hóa.

    (44) Khi thành bị hạ mà bọn Hoàng-kế-Việm đóng ở Sơn-Tây và Hưng-Hóa lại không dám đem binh về viện. Đã thế còn loan tin ra để gạt dân chúng, là các ngài còn đang chuẩn bị kế hoạch đánh hỏa công và thế nào cũng thắng. Ở đây tác giả dùng hai chữ <> để diễu bọn này và bộc lộ ra được cái tiến thoái lừng khừng của những kẻ thấy thành thị mất mà còn chờ đợi gì, hay là còn đợi phải để tế cờ rồi mới đi. Kỹ-thuật chơi móc đến vậy mới thiệt là tế nhị sâu sắc.

    (45) Trần-đình-Túc đã cáo lão về nhà, xong lại được cử ra làm chức Tĩnh-biên chánh sứ (quan chánh sứ lo việc (ngoài biên ải) để van lạy với Tây.

    (46) Chỉ án-sát Tôn-thất-Bá.

    (47) Chỉ tuần phủ Hoàng-hữu-Xứng.

    (48) Những hạng anh tài mà như thế nầy thì thật là cả một sự mỉa mai chua chat đến nhường nào. Với mấy câu này chẳng những tác giả đã châm biếm được các hạng quan lại bất lực và sợ chết bồi đó, mà còn đả kích một cách rất kín đáo cái lối chọn nhân tài bằng khoa cử của triều đình, chỉ căn cứ vào văn chương phù phiếm chớ đâu có thấy cái gì là thực học để giúp cho đất nước.

    (49) Các làng Day, Kẻ, Vẽ, Vòng là những tên làng thuộc phủ Hoài-đức ở phía Tây Hà-Nội, sau thuộc về Hà-đông.

    (50) Làng Phùng ở Hà-đông.

    (51) Huyện Thanh-oai ở Hà-đông.

    (52) Tam Tuyên là Tuyên-Quang, Hưng-Hóa, Sơn-Tây.

    (53) Thanh-biền là lính nhà Thanh sang cứu viện.

    (54) Đãi chí có nghĩa cũng như là sợ quá mất hết cả chí khí.

    (55) Đọc câu này nghĩ thật là khổ và tủi thay cho các quan hồi đó.

    (56) Sau khi thành bị mất vua Tự-Đức xuống chỉ bắt tất cả bọn Hoàng-hữu-Xứng, Tôn-thất-Bá phải đeo gong về kinh để chịu tội, nhưng sau rồi tất cả đều được miễn nghị.

    (57) Tây ở thế mà các quan vẫn điềm nhiên, triều đình không thưởng phạt gì đến thì thật tệ.

    (58) Lính Tàu sang cứu viện, khi đến nơi mỗi tên đều có đan một cái rọ để bắt lợn bỏ vào trong hay đồ đạc để gánh.

    (59) Một chiếc tàu hư, lính Tàu phá để lấy sắt.

    (60) Kỹ thuật trào phúng đến như những câu này thì thật là tuyệt vậy.

    (61) Ba chủ là Ta, Tây, Tàu. Một nhà mà có đến 3 chủ thì còn gì là trớ trêu cho bằng.

    (62) Thống-sát, Thông-năm là hai chức của những người Việt làm trong hàng ngũ Pháp hồi đó, cũng như thông-phán và tham-tá sau này.

    (63) Bà cố là mẹ các quan, mẹ đẻ hay mẹ vợ cũng thế.

    (64) Đó là tình cảnh Hà-nội lúc mới bị chiếm đã thế đó. Không biết khi nghe đọc đến những đoạn văn này, những kẻ ôm chân bợ đít Tây có tự hào không.

    (65) Huyện Bạch-hạc ở Việt-trì.

    (66) Tức triều đình nhà Thanh.

    (67) Thái-nguyên và Lạng-sơn.

    (68) Sơn-tây và Hưng-hóa.

    (69) Lưỡng biên giang là 2 bên sông.

    (70) Lo chết đói mà đến nỗi mê mẩn người thì thật còn gì là mỉa mai cho bằng. Nghĩ đến cái tình dân lúc đó thấy thật là khổ não.

    (71) Lâm-thao và Đoan-hùng.

    (72) Cờ úp là một thứ cờ. Thúng chồng là một thứ khiên đan bằng tre giống như cái thúng, nên gọi là thúng chồng, dùng để đánh giáp lá cà.

    (73) Đoạn tả cái chỗ gườm nhau của Tây và Tàu như trên đây, kỹ-thuật đến thế mới thật là mỉa mai tuyệt diệu.

    (74) Gần tháng chín.

    (75) Sao Cờ tức sao Chổi. Năm ấy có sao Chổi mọc từ tháng 8 cho mãi đến gần hết tháng chạp mới lặn.

    (76) Ngũ liệt tam phân là chia năm xẻ ba.


    CHÍNH KHÍ CA


    Đọc bài <> ở trước, chúng ta đã được thấy cái bộ mặt thật của tình hình lúc ấy mà các quan văn võ Hà-thành sau đó cố tình đánh trống lãng để che mắt và bịt tai dư luận. Thì đây, với bài <> này, chúng ta sẽ thấy rõ thêm những ai là người đáng để cho muôn đơi sùng bái, những kẻ nào để cho đến nay nhắc tới cũng còn thêm tởm giọng.


    Nói một cách khác, nội dung bài này, chúng ta đọc lên sẽ thấy các khí tiết nghìn năm bất hủ của Tổng đốc Hoàng-Diệu, người đã trọn nghĩa với thành Hà-nội năm i882, và sau đó là những bản án nêu lên trước dư luận và lịch sử những kẻ có trách nhiệm giữ thành mà không làm tròn được bổn phận, chẳng hạn như bọn án-sát Tôn-thất-Bá, tuần phủ Hoàng-hữu-Xứng, đề đốc Lê-Trinh v.v… Trong khi thành bị quân Pháp tấn công, tên thì biết trước, viện có xin ra ngoài điều đình với Pháp, thừa cơ chạy trốn vào làng Mọc ở Hà-đông, rồi say khi thành bị hạ lại thông đồng với Pháp, được Pháp cho võng giá mời ra, giao trả lại thành và đề nghị cho quyền chức Tổng-đốc Hà-nội (Tôn-thất-Bá), tên thì bỏ chạy làm dư luận tưởng lầm đã tử tiết (Lê-Trinh) ; kẻ thì khi thành bị tấn công, sợ chết, chạy trốn vào hành-cung, nhịn đói ba hôm xanh mặt lại, rồi sau lại bò ra trình diện với Pháp (Hoàng-hữu-Xứng).


    Theo tục truyền, tác giả bài <> này với tác giả bài <> cũng là một nhà thơ trào phúng Nguyễn-văn-Giai…viết vào khoảng năm i882, i883…


    Một vùng chính khí lưu hành,

    Khoảng trông trời đất, nhật tinh sơn hà.

    Hiệu nhiên ở tại người ta,

    Tấc vuông son sắt hiện ra khí cùng. (1)

    Hơn thua trong trận chuân phong,

    Nghìn thu để tiếng anh hùng sử xanh.

    Có quan Tổng đốc Hà-Ninh. (2)

    Hiệu là Quang-Viễn (3) trung trinh ai bằng.

    Làm nguy lý hiểm đã từng,

    Vâng ra trọng trấn mới chừng ba năm.

    Thuân Hồ (5) dạ vốn đăm đăm.

    Ngoài tuy giao tiếp, trong căm những là.

    Vừa năm Nhâm-Ngọ, tháng ba,

    Sáng mai mồng tám bước qua giờ Thìn.

    Biết cơ trước đã giữ gìn,

    Hơn trăm vũ sĩ, vài nghìn tinh binh.

    Tiên nghiêm (6) lên đóng trên thành,

    Thệ sự rót chén rượu quỳnh đầy vơi.

    Văn quan, vũ tướng nghe lời,

    Hầm hầm xin quyết một bài tận trung. (7)

    Ra oai xuống lệnh vừa xong,

    Bỗng nghe ngoài đã đùng đùng pháo ran.

    Tiêm cừu nổi giận xung quan. (8)

    Quyết rằng chẳng để chi đàn chó dê.

    Lửa phun súng phát tứ bề,

    Khiến loài bạch-quỷ (9) hồn lìa phách xiêu.

    Bắn ra xem chết cũng nhiều,

    Phố phường trông thấy tiếng reo ầm ầm.

    Quan quân đắc chí bình tâm,

    Cửa Đông cửa Bắc vẫn cầm vững binh.

    Chém cha cái lũ hôi tanh,

    Phen này quét sạch sành sanh mới là.

    Nào ngờ thất ý tại ta,

    Vẫn rằng thắng trạng (10) hòa mà thua cơ.

    Nội công mắc những bao giờ,

    Thấy kho thuốc cháy, ngọn cờ ngả theo.

    Quan quân sợ chết thảy đều,

    Thành tây Bạch-quỷ đánh liều leo lên.

    Nào ai cơm áo dốc đền ?

    Nào ai cầm vững cho bền ba quân?

    Nào ai còn chí kinh luân?

    Nào ai nghĩ đến thánh quân trên đầu? (11)


    Một cơn gió thảm mưa sầu,

    Nấu nung gan sắt, dãi dầu lòng son.

    Chữ trung còn chút con con,

    Quyết đem gửi cái tàn hồn gốc cây.

    Trời cao, biển rộng, đất dày,

    Núi Nùng sông Nhị chốn này làm ghi.

    Thương thay gặp buổi gian nguy,

    Lòng riêng ai chẳng tiếc vì người trung. (12)

    Rủ nhau tiền góp của chung,

    Đem người lên táng ở thung Học-đường. (13)

    Đau đớn lẽ, ngẩn ngơ nhường,

    Tả tơi thành quách, phũ phàng cỏ hoa.

    Kể từ năm Dậu bao xa,

    Dến nay tinh đốt đã là mười niên.

    Long-thành thất thủ hai phen,

    Kho tàng hết sạch, binh quyền rã tan.

    Đổi thay trải mấy vì quan.

    Quyên sinh tựu nghĩa có gan mấy người?

    Trước quan Vũ-Hiển, khâm sai, (14)

    Sau quan Hoàng Tổng, một vài mà thôi/

    Còn ra vũ giáp văn khôi,

    Quan bào châm hốt nhác coi ngỡ là…

    Khi binh làm hại dân ta,

    Túi tham mở rộng không tha miếng gì.

    Đến khi hoạn nạn lâm nguy,

    Mắt trông ngơ ngáo, chân đi gập ghềnh. (15)


    Vũ như Đề-đốc Lê-Trinh,

    Cùng là chánh, phó lãnh binh một đoàn.

    Đang khi giao chiến ngang tàng,

    Thấy quân hầu đổ (16) vội vàng chạy ngay.

    Nghĩ coi thật đã ghê thay !

    Bảo thân (17) chước ấy, ai bày sẵn cho ?

    Thế mà nghe những mơ hồ,

    Rằng quan Đề-đốc dưới hồ cửa Tây.

    Kẻ rằng ngài ở cành cây,

    Kẻ rằng ngài ở cành cây,

    Kẻ rằng hẳn dưới giếng này chẳng chơi.

    Thăm tìm tối lại hoa mai,

    Định rằng hợp táng ở nơi Học-đường. (18)

    Hỏi ra sau mới tỏ tường,

    Cũng loài úy tử, cũng phường tham sinh.

    Phép công nên bắt gia hình,

    Rồi ra nặng chữ nhân-tình lại thôi. (19)


    Văn như Tuần-phủ nực cuời,

    Bích-Chi (20) là hiệu, năm mươi tuổi già.

    Biết bao cơm áo nước nhà,

    Kể trong sĩ tích cũng là đại viên. (21)

    Chén son chưa cạn lời nguyền,

    Nỡ nào bỗng chốc quên liền ngay đi.

    Lại còn quanh quẩn làm chi ?

    Hay là thương tiếc vật gì ở đây ?

    Hay là có chước bình Tây,

    Trước ki hoảng hốt, sau này nghiên tinh ?

    Hay còn tiếc cái xuân xanh,

    Tìm nơi kiếm chốn gieo mình trú chân ?

    Hay là còn chút từ thân,

    Đã toan tịch cốc mấy lần lại thôi ? (22)

    Sao không biết xấu với đời ?

    Sao không biết thẹn với người tử trung ? (23)

    Kìa Tôn-thất-Bá niết công, (24)

    Kim chi ngọc diệp cũng dòng tôn nhân.

    Đã quốc tộc lại vương thần, (25)

    Phải nên hết sức kinh luân mới là.

    Nước non vẫn nước non nhà,

    Nỡ nào bán rẻ một tòa Thăng-Long.

    Thế mà liệu đã chẳng xong,

    Mặt nào còn đứng trong vòng lưỡng-gian. (26)

    Tư giao rắp những mưu toan, (27)

    Thừa cơn xin dự hội thương ra ngoài.

    Ấy mới khôn, ấy mới tài,

    Lẩn đi tránh tiếng giục người nói quanh.

    Dâng công quyền lĩnh tỉnh thành,

    Mà toan đổ tội một mình quan trên. (28)

    Tội danh thật đã quả nhiên,

    Xin đem giao xuống cửu nguyên Chế-đài. (29)

    Lân la kể đến Phiên-đài, (30)

    Xỉ ban (31) cũng đã tuổi ngoài sáu mươi.

    Thác trong thôi cũng nên đời,

    Sống thừa chi để kẻ cười người chê.

    Nhị-hà, Tản-lĩnh đi về,

    Giang sơn tuyết chở, sương che cũng liều.

    Còn như tì thuộc hạ lieu, (32)

    Kẻ công người quá còn nhiều chan chan.

    Biết đâu cho khắp mà bàn,

    Sau này đã có sử quan thẩm binh. (33)


    Trước rèm gió mát trăng thanh,

    Thừa lương (34) nhân lúc một mình thong dong.

    Xa trông tút vút Bình-phong, (35)

    Chúc mừng vạn thọ, Thánh cung lâu dài.

    Rồi khi cá nước duyên hài, (36)

    Ra tay tế thế, trổ tài kinh luân.

    Đã thánh quân, lại hiền thần,

    Có đâu mà chẳng quân dân thái hòa. (37)

    Bấy giờ ta lại với ta,

    Tỉnh say dật hứng, ngâm nga tiêu sầu.

    Hà-thành văn vũ công hầu,

    Càng nghe thấy chuyện càng rầu bên tai.

    Diễn ca chính-khí một bài,

    Để cho thiên hạ đời đời khuyên răn. (38)


    (1) Bốn câu này, tác giả lấy ý ở trong bài <> của ông Văn-thiên-Tường một trung thần đời Nam-Tống làm ra khi bị quân nhà Nguyễn bắt được: << Thiên địa hữu chính-khí, tạp nhiên phú lưu hình. Hạ tắc vi hạ nhạc, thượng tắc vi nhật tinh. Ư nhân viết hiện nhiên. Bái hồ tắc thương mình. Hoàng lộ đương thanh di, hàm hòa thổ minh đình. Thời cùng tiết nãi hiện, nhất nhất thùy dan thanh… >>

    (2) Hà-nội và Bắc-Ninh, hai tỉnh cũng chung một Tổng đốc.

    (3) Quang-Viễn là tên hiệu của Tổng-đốc Hoàng-Diệu.

    (4) Đã từng quen với những nguy hiểm.

    (5) Thuân Hồ là nuốt rợ Hồ, nghĩa bóng là giết giặc, chữ trong điển tích Trung-Hoa : ông Tổ-Địch người đới Tấn khi qua sông thể rằng nếu không giết được giặc Hồ thì không còn trở lại.

    (6) Tiên nghiêm là sẵn sang phòng bị nghiêm nhặt trước.

    (7) Phải, không có lẽ đó bọn Hoàng-hữu-Xứng, Tôn-thất-Bá lại không xin quyết tận trung để giữ thành.

    (8) Nổi giận cho đến tóc dựng lên tới mũ.

    (9) Bạch-quỷ tức là bọn giặc Pháp.

    (10) Thắng-trạng là tình trạng đang lúc thắng.

    (11) Thật là rõ rang lúc đó mạnh ai nấy chạy, chớ không còn thấy gì là nghĩa vụ, là thành trì non nước.

    (12) Ai cũng tiếc nhưng chắc bọn Hoàng-hữu-Xứng, Lê-văn-Trinh, Tôn-thất-Bá thì cười thầm trong bụng.

    (13) Học-đường là nơi ở cạnh phố Sinh-tử Hà-nội. Khi ông Hoàng-Diệu tuẫn tiết, xác ông được các người tùy tùng chôn sơ sài, rồi sau khi thành bị hạ các thân sĩ trong thành mới góp tiền lại mua áo quan đem về tang ở nơi này.

    (14) Tức ông Nguyễn-tri-Phương.

    (15) Bốn câu này thật là tuyệt tác cả về hình-thức lẫn nội-dung. Tác giả tả như vậy, chẳng những chỉ hợp cho các hạng quan lại hồi đó, mà còn điển hình cho tất cả những hạng tham quan ô lại từ đời xưa đến nay. Đoạn này chắc hẳn có kẻ khi xem đến bỏ qua, chớ không dám xem vậy, hoặc giả có nữa, thì cũng chỉ đọc thầm trong miệng.

    (16) Tức tên lính hầu bị đạn giặc bắn chết. Đọc đến đây các bạn có thấy chăng, cái can-đảm và trung-thành của một tên đề-đốc không bằng một tên lính hầu? Trời đất ơi, quan với tướng cái gì mà tinh thần khốn khổ đến vậy.

    (17) Bảo thân là lo giữ thân mình.

    (18) Tưởng ngài tự tử thật nên mới cũng định đem tang chung với Tổng đốc Hoàng-Diệu.

    (19) Triều-đình sai bắt Lê-Trinh phải đóng gong về triều để chịu tội, nhưng rồi lại nghĩ tình cho đái công thục tội.

    (20) Bích-Chi là tên hiệu của tuần phủ Hoàng-hữu-Xứng.

    (21) Sĩ-tích là hàng quan lại. Đại viên là chức lớn.

    (22) Tích cốc là bỏ cơm, chữ này thường dùng để mỉa mai cái chỗ nhịn ăn của tuần phủ Hoàng-hữu-Xứng. Sau khi thành bị hạ Hữu-Xứng bò ra, nói sở dĩ y không chết là còn có mẹ già. Nhưng thật ra chỉ là một cái cớ che đậy, mà mẹ già lúc đó đối với y cũng chỉ là một cái để lợi dụng, chớ con người như thế còn có gì hiếu đễ.

    (23) Chỉ Hoàng-Diệu.

    (24) Niết-công là chức án-sát.

    (25) Đã là họ nhà vua mà lại còn là một quan to nữa.

    (26) Lưỡng gian là trời đất. Ý bảo Tôn-thất-Bá là người như thế thì còn nên sống làm gì nữa.

    (27) Tư giao Pháp Bá biết trước thế nào Pháp cũng đánh thành nên mượn cớ xin ra điều đình để rồi trốn.

    (28) Sau khi thành bị hạ Bá thông đồng với tên thông-ngôn của Pháp tên là Phong. Rồi khi Pháp giao trả lại thành thì bị Bá được Pháp cho gọi ra để lãnh. Bá xin quyền giữ chức Tổng-đốc. Đã thế sau đó Bá lại còn đổ lỗi thành mất là do ông Hoàng-Diệu khiêu khích Pháp, chớ không phải tại Bá.

    (29) Chế đài tức là ông Hoàng-Diệu. Câu này nghĩa là tên Bá như thế thì nên đem hắn giao xuống dưới âm-phủ cho Tổng-đốc Hoàng-Diệu xét.

    (30) Phiên-đài tức là bố chánh Phan-văn-Tuyền.

    (31) Xỉ ban là hạng người tuổi tác.

    (32) Tì thuộc hạ liêu là những hạng quan lại nhỏ.

    (33) Dể sau này cho các sử quan đem ra thẩm bình, nhưng ngót trăm năm rồi, có ai đã làm việc ấy đâu. Phải tác-giả sống mãi thì còn mới thất là trớ trêu hơn nữa.

    (34) Thừa lương là nghỉ mát.

    (35) Bình-phong là núi Ngự-bình ở Huế.

    (36) Duyên hài có nghĩa là vui mừng cũng như là duyên ưa phận đẹp.

    (37) Phải vua giỏi tôi hiền thì làm gì trong nước chẳng thái hòa. Nhưng nào thời đại ấy, đâu có được như vậy.

    (38) Thiên hạ nên lấy đó mà răn, nhất là những người ăn cơm dân lộc nước…

Chia sẻ trang này