0087.0007

26/1/16
0087.0007
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}

    Hết lòng báo quốc, quyết liều ngày xanh.

    Lưới trinh thám tung hoành sau trước.

    Lọt khỏi vòng khôn được phần nao.

    Bà xin tình nguyện xông vào

    Ban liên lạc với kiều bào ngoại bang.

    Kỳ-ngoại-Hầu đã sang tới Nhật,

    Việc Đông-du, xếp đặt quy mô.

    Cơ quan tiếp tế phải lo,

    Tiền tài, thư tín phó cho mặc bà.

    Từ Thuận-hóa lọt qua các bến,

    Ghé Nghệ-an rồi đến Hải-phòng.

    Hải-phòng sang tận Hồng-kông.

    Đảng viên đã cử một ông đi về,

    Ngư-Hải ông được bà ủng hộ,

    Trong năm năm phục vụ nên công.

    Nhờ bà nội ngoại giao thông,

    Nền tài chính đảng bổ sung được đều.

    Thương thân phận mỏng chi kêu chênh lệch.

    Với lệnh trời khôn địch được sao!

    Năm Thân bà bị tống lao,

    Gặp kỳ tra tấn khổ bao cực hình.

    Trương-như-Cương tham danh hại nước,

    Chốn pháp đình tìm chước dụ bà,

    Rằng “không thú thật thì tha,

    Việc làm của đảng nói ra cho tường,

    Không những được khoan hồng đối đãi,

    Lại còn tư cấp giải thưởng cho”.

    Nghe lời gan xót ruột vò,

    Mà trong chí cả ai dò mưu sâu.

    Bà tỏ vẻ gật đầu toại ý.

    Miệng tươi cười: “vâng sẽ xin thưa”,

    Nhưng nay bị đau nhừ.

    Nơi cho gông xích xin thưa tường trình.

    Thơ giấy bút đêm thanh tôi nghĩ,

    Những ai ai xin kể rõ ràng.

    Việc trong đảng tôi tỏ tường,

    Hằng trăm đồng chí vẫn thường tới lui.

    Nay biết chắc tha tôi tội chết,

    Thời tôi xin khai hết đủ tên.

    Họ Trương tưởng thực mừng rên,

    Bèn ban lệnh xuống tháo then gông cùm.

    Trong phòng kín tối om lạnh lẽo,

    Ngọn dầu hao vóc liễu xót xa.

    Một mình một bóng châu sa,

    “Phu quân đâu đấy đón ta đến cùng!...”

    Lấy nghiên mực mài giòng huyết lệ,

    Thảo một trang chửi tệ quân thù.

    Cắn tay lấy máu chép thơ,

    Ba vần tuyệt mạng đến giờ còn vang,

    Sáng hôm sau cửa buồng vẫn khóa,

    Trương mừng thầm vội vã vào ngay.

    Đến khi cửa mở kinh thay!

    Thân kia đã gửi đoạn giây oan tinh.

    Trương nghĩ thẹn riêng mình chấp tri;

    Sai hỏa thiêu thi thể ở tờ cung.

    Khen thay một tấm kiên trung,

    Nêu gương báo quốc soi chung muôn đời.


    Ngày xuân họp bạn

    Của ông Tú-Kiên tự Hy-Cao, người Nghệ-An làm ở Côn-đảo vào khoảng năm 1910.

    Gặp gỡ nhau đây mới biết nhau,

    Trông nhau càng nghĩ lại càng đau.

    Văn minh Âu Mỹ ba thằng cướp;

    Con cháu Rồng Tiên một lũ tù.

    Tài giỏi vì chưng tay có súng;

    Yếu hèn chỉ vị túi không xu.

    Trời đương xoay tít, người đương ngủ;

    Giận muốn vò tan quả địa cầu.


    Hiu hắt năm canh bóng nguyệt tà,

    Nghĩ gần thôi lại nghĩ đường xa.

    Tù hai ba lượt còn ham sống;

    Tuổi bốn năm mươi chửa chịu già.

    Tư tưởng lan man trời đất hẹp;

    Phong trần lụi đụi tháng ngày qua.

    Trót lời thề hẹn cùng non nước,

    Gối kiếm thâu đêm đợi canh gà.

    Ái chủng ca

    Người Việt-Nam ta thường hát rằng:

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

    Người trong một nước phải thương nhau cùng.

    Người trong một nước phải thương nhau, không thể ghét nhau xem nhau như cừu địch. Đó là tinh thần ái chủng, và tinh thần ái chủng của dân tộc Việt-Nam đã gói ghém vào câu ca dao trên.

    Nhưng ái chủng không phải chỉ có “cùng thương nhau” thôi còn phải làm gì mới gọi là thiết thực?

    Và ái chủng phải làm thế nào nữa trong lúc giang sơn đang bị gót giày quân xăm lăng trà đạp, nhân dân, đồng bào đang phải sống một cảnh sống ngựa trâu, khom lưng cúi đầu cho kẻ khác sai khiến?...

    Vì thế, cụ Sào-Nam Phan-bội-Châu có bài “Ái chủng ca” này để thiết tha kêu gọi tinh thần ái chủng của người Việt-Nam trong những ngày đen tối vừa qua của dân tộc.

    Theo các nhà cách mạng, bài này cụ viết ở Thái-lan vào khoảng năm 1911 là khi cụ qua đó theo lời mời của cụ Đặng-tử-Kính và các đồng chí cách-mạng đang bôn ba hoạt-động ở bên ấy.

    Muốn hiểu rõ thế nào là ái chủng, và ái chủng phải làm gì? ái chủng theo quan-niệm của các nhà cách mạng tiền bối ra sao, chúng ta hãy đọc bài ca này của cụ.

    Giống ta ta phải yêu nhau!

    Đưa lời ái chủng mấy câu giải lòng.

    Hai mươi triệu họ đồng tông.

    Da vàng màu đỏ con giòng Hùng-Vương.

    Mấy ngàn năm cõi Viêm-bang

    Đua khôn hoa hoán, mở đường văn minh.

    Tài anh kiệt nối đời sinh,

    Đánh Nguyên mấy lớp; phá Minh mấy lần.

    Mở mang Chân-Lạp, Chiêm-Thành,

    Miền nam lừng lẫy giống thần mở mang.

    Tiếc thay giống tốt nòi sang,

    Vì sao sa sút cho mang tiếng hèn.

    Xưa sao đứng chủ cầm quyền,

    Giờ sao nhẫn nhục chịu hèn làm tôi.

    Xem Tây như thánh như trời,

    Người Nam ta chịu dưới nơi a-tỳ.([1])

    Giang sơn thẹn với tu mi,

    Đá kia cũng xót, sông kia cũng sầu!

    Nào anh em, chị em đầu!

    Kết đoàn ta phải bảo nhau thế nào?

    Chữ rằng: “đồng chủng đồng bào”

    Yêu nhau ta phải tính sao phục thù?

    Muốn cho nội ngoại giao phù([2])

    Sáu mươi lăm tỉnh cũng như một nhà.


    Muốn cho Nam Bắc hợp hòa

    Hai mươi lăm triệu cũng là một thôi.

    Đừng cậy thế, đừng khoe tài!

    Bỏ điều riêng nhỏ, tính điều lợi chung.

    Chớ giành khí, chớ khoe công,

    Dứt tình ghen ghét, bỏ lòng xai nghi([3]).

    Ai ơi xin sửa mình đi!

    Công tư đức ấy hai bề vẹn hai.

    Những điều hại nước, tan nòi,

    Rước voi cõng rắn thì thôi xin chừa.

    Một mai thời thế chuyển cơ,

    Anh em ta lại như xưa sum vầy.

    Họ hàng đông đủ cánh vây,

    Chen vai ưu thắng, ra tay cạnh tồn!




    Ái quốc ca

    Con người ở đời đã biết ái chủng là thế nào, và cái chủng thì phải tỏ ra làm sao trong những lúc giống nòi bị lưu ly ddieenb ái.

    Nhưng chưa đủ.

    Còn phải ái quốc nữa.

    Quốc là gì?

    Nếu “chủng” theo các nhà cách mạng tiền bối là người cùng chung một nguồn gốc, một giống nói như trong bài “Ái chủng ca” của cụ Phan-bội-Châu, thì ở đây “quốc” có nghĩa là đất đai sông núi đã định phân từ ngàn xưa, do tổ tiên kế tiếp đời đời truyền lại, mà đó cũng là phần hương hỏa, phần di sản để con cháu cùng nhau giữ gìn và sinh sống. Kẻ nào để lọt vào tay khác hay âm mưu đem bán cho người ngoài để vinh thân phì gia, làm cho anh em giống nòi phải điêu linh khổ sở, kẻ ấy là những tên phản quốc, phản dân tộc. Hay để bị lọt vào tay người khác mà không biết cùng nhau lo toan, cố gắng đê giành lại thì cũng không phải là yêu nước. Cho nên chỉ ái chủng thôi mà không có ái quốc thì cũng chưa được hoàn toàn xứng đáng làm người, nhất là người ấy lại là giòng giống đã có hơn ngàn năm văn đức võ công, mà nay phải sống một cuộc đời “không còn là sống nữa” ở dưới bàn tay của bọn Pháp xâm lăng.

    Vậy ái quốc là muôn người phải như một, phải sôi bầu máu nóng dậy mà rửa mối thù chung cho quốc gia, dân tộc.

    Bài “Ái quốc ca” này là một bài đã nói lên với đồng bào toàn quốc, cái ý nghĩa trên đây. Theo các nhà cách mạng cũng là của cụ Phan-bội-Châu, cụ viết tại Thái-Lan cùng một lượt với bài “Ái chủng ca” ở trước.

    Nay ta hát một câu ái quốc,

    Yêu gì hơn yêu nước nhà ta.

    Nghiêm trang bốn mặt sơn hà,

    Ông cha ta để cho ta lọ vàng.

    Trải mấy lớp tiền vương dựng mở,

    Bốn ngàn năm giãi gió dầm mưa.

    Biết bao công của người xưa,

    Giang sông tấc núi dạ dưa ruột tằm.

    Hào Đại-hải ầm ầm trước mắt,

    Giải Cửu-Long quanh quất miền Tây.

    Một tòa san sát xinh thay.

    Bắc kia Vân, Quảng, ([4]) Nam này Côn-Lôn.

    Vẻ gấm vóc nước non thêm đẹp,

    Chắc những mong cơ nghiệp dài lâu.

    Giống khôn há phải đàn trâu,

    Giang sơn nở để người đâu vẫy vùng.

    Hăm lăm triệu người cùng của hết,

    Sáu mươi năm trước mất quyền không.

    Thương ôi công nghiệp tổ tông!

    Biển tuôn máu chảy, non chồng thịt cao!

    Non nước ấy biết bao máu mũ!

    Nỡ nào đem nuôi lũ sài lang?

    Cờ ba sắc xứ Đông-Dương

    Trông càng thêm nhục, nói càng thêm đau!

    Nhục vì nước mà đau người trước;

    Nông nỗi này non nước cũng oan.

    Hồn ơi về với giang san!

    Muôn người muôn tiếng hát vang câu này;

    Hợp muôn sức ra tay quang phục;

    Quyết phen này rửa nhục báo thù.

    Một câu ái quốc reo hò,

    Xin người trong nước phải cho một lòng.

    Tuyệt mệnh

    Tác-giả bài này là ông Lương-ngọc-Quyến, thứ nam của cụ tử Lương-văn-Can, một trong những nhân vật cách mạng sáng lập ra Đông Kinh Nghĩa Thục.

    Ông hiệu Lập-Nham, sinh năm Ất-Dậu 1885, người làng Nhị Khê huyện Thường-Tín, tỉnh Hà-Đông (Bắc Việt). Thuở nhỏ, ông theo học chữ nho và thi rớt kỳ thi phú tại trường Nam khoa Canh-tý(1900). Rồi do ảnh hưởng những bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào vở cổ động dân quyền của các nhà cách tân học Trung-quốc tràn sang, ông dứt bỏ lối học khoa cử để bước vào con đường cách mạng duy tân cứu quốc.

    Năm 1905 ông xuất dương qua Nhật-Bản. Ông được vào học trường đại-học Chấn-Võ và tốt nghiệp trường này năm 1911.

    Ông từ giã Nhật về Tàu, được Tổng-đốc Quảng-đông là Hổ-hán-Dân cử làm đại-úy. Sau Lê-nguyên-Hồng tổ chức lại quân-đội cách mạng cử ông lên Thiếu-tá trông coi một lữ đoàn lục-quân.

    Năm 1914 ông lẻn về nước hoạt động, ý định thủ xướng một cuộc khởi nghĩa ở nước nhà. Ông vào Sàigòn, lên Nam-Vang, qua Xiêm-La rồi trở sang Tàu.

    Nhưng đến Hương-Cảng, ông bị ty Cảnh-Sát Anh bắt giao cho nhà cầm quyền Pháp ở Quảng-Châu. Ông bị giải về Hà-nội, tra tấn rất tàn nhẫn và bị đưa lên nhà giam Thái-nguyên.

    Được ít lâu, ông cùng ông Trịnh-Văn-Cấn (đội nhà giam) phát động cuộc khởi nghĩa Thái-nguyên năm 1917. Trong cuộc cách mạng này, ông được anh em cử làm quân sư. Nhưng khi quân cách-mạng rút ra khỏi Thái-nguyên, ông bị lại liệt hẳn một chân(vì cùm kẹp và tra tấn của Pháp) sợ đi làm bận lòng anh em, ông an ủi mọi người và yêu cầu ông Đội Cấn cho ông một phát súng vào ngực để từ giã cõi trần và vĩnh biệt các anh em đồng chí. Bất đắc dĩ, ông Cấn phải làm theo ý ông. Hôm ấy ngày 5 tháng 9 nưm 1917. Ông mới 32 tuổi đầu:

    Bài thơ “Tuyệt mệnh” này, ông làm ở nhà giàm Hỏa-Lò Hà-nội vào khoảng cuối năm 1915 và đọc cho một người anh họ nghe khi ông này vào thăm. Sau đó các nhà cách mạng truyền đi, nên nay chúng tôi ghi lại được.


    NGUYÊN TÁC

    Học hải cầm thư lịch kỷ thu?

    Nam quan hồi thủ tứ du du.

    Bách niên Tổ quốc quy hồ lỗ;

    Thất sinh tàn kho phó bích lưu.

    Tư thế bất phùng mình thánh hữu;

    Lai sinh thả báo phụ huynh cừu.

    Thử hành hoạch yến Lam-sơn đế

    Hoán khởi trùng tiêm Pháp tặc đầu.


    Bài dịch của ông Đào-trinh-Nhất


    Bể học xông pha trải bấy lâu?

    Thân tù ngoảnh lại nghĩ mà đau!

    Trăm năm đất tổ về quân mọi;

    Bảy thước thân tàn mặc nước sâu.

    Bạn tốt đời nay sao vắng cả?

    Thù nhà kiếp khác dễ quên đâu!

    Hồn ta được gặp Lam-sơn-Đế([5])

    Quyết mượn oai linh chém Pháp đầu.

    Ký nội

    Thơ của ông Lương-ngọc-Quyến viết ở nhà giam Hỏa Lò(Hà-nội) năm 1915 để gởi ra cho vợ là Nguyễn thị Hồng-Đính con gái cụ Cử Cương, một nhà cách mạng trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Bị bắt giam cùng một lượt với các cụ Lương-văn-Can, Nguyễn-Quyên, vũ-Hoành, cụ Cương bị đem vào nam an trí ở Cần-Thơ, rồi sau mất ở đó.


    Đạo phu phụ cương thường thiên cổ,

    Tình thê noa ái hộ bách niên([6])

    Đêm thanh nhớ đến bạn hiền,

    Đường xa gửi bức vân tiên tự tình([7]).

    Kể từ lúc Hải-ninh gặp gỡ([8])

    Mối tơ hồng đẹp lứa đôi ta.

    Hương-Giang khi bước chân ra,

    Cầm thơ một gánh, thất gia một đoàn.

    Khi Thượng-hải chăn loan gối phượng,

    Lúc Hoàng-châu vịnh trúc ngâm mai.

    Đề huề mấy chút con trai,

    Nhấp men Ngô-lịnh, đua chài Chầu-giang.

    Nhớ gia hương bước sang Lục-tỉnh.

    Vượt nghìn non định tỉnh gia thân([9])

    Biết bao trọng nghĩa thâm ân,

    Trai tài gái nết Tấn Tần đẹp duyên.

    Bấy nhiêu năm liên uyên tịnh phượng([10])

    Dặm nghìn ngoài hiệp xướng hòa chung([11])

    Giang sơn trọn một chữ tòng,

    Những mong Hồng-nữ, Vệ-công sánh tày([12])

    Cờ Ngũ tinh kéo về Phục quốc([13])

    Kiệu tân trang sẽ rước ninh gia([14])

    Trên vì nước, dưới vì nhà,

    Non sông mở mắt, mẹ cha thỏa lòng

    Than vận nước còn trong hội bĩ.

    Lúc tình cờ phút bị gian nguy.

    Làm cho Nam, Bắc phân kỳ,


    Xa xôi luống những tương tri âm thầm.

    Ngày sáu khắc ruột tằm vấn vít,

    Đêm năm canh hồn điệp ngẩn ngơ.

    Đoái thương nấm đất Cần-Thơ([15])

    Dàu dàu cỏ biếc, lờ mờ riêu xanh.

    Gió ào ào Nam-Vinh thung cỗi([16])

    Sương mù mù Hà-nội huyên gia.

    Xiết bao nỗi nước tình nhà,

    Hỡi nàng giúp đỡ cho ta thế nào?

    Ơn phụ mẫu thiên cao địa hậu.

    Mưu tử tôn dụ hậu quang tiền([17])

    Khuyên nàng lập chí cho kiên,

    Hiến thân báo tử đáp đền cho anh.

    Lòng người đã trung thành sốt sắng,

    Trời xanh kia ắt chẳng phụ mình.

    Mai mau bĩ cực thái hanh([18])

    Kéo cờ độc lập giữa thành Thăng-Long.

    Ba mươi triệu Lạc-Long tôn tử,

    Bốn nghìn năm lịch sử quang vinh.

    Trời Nam rực rỡ văn minh,

    Sơn hà rửa sạch hôi tanh giặc thù.

    Cửa nghĩa môn bầy đồ khánh trúc([19])

    Nhà Ôn-như hát khúc thăng bình([20])

    Rõ ràng phu quý phụ vinh,

    Tiếng thơm muôn nước, phúc thanh một nhà.

    Nợ trung hiếu nay đã đền đủ,

    Chí tang bồng chẳng phụ làm trai.

    Khi nên trời cũng chiều người,

    Nàng ơi! Hãy nhớ lấy lời tình chung!

    Khóc bạn Lương-ngọc-Quyến

    Của ông cử Dương-bá-Trạc làm sau khi được tin cuộc khởi nghĩa Thái-Nguyên thất bại năm 1918, Ông Trạc là bạn thân với ông Quyến từ lúc còn đi học cho tới sau cùng nhau làm cách mạng. Trong thời gian ông Quyến bị bắt thì không Trạc bị người Pháp đưa đi an trí ở Long-Xuyên(Nam Việt). Sau ông được người Nhật đưa khỏi nước để hoạt động và đến mùa Xuân năm 1945 thì bị bệnh mất tại Tân-Gia-Ba.


    Đoạn tuyệt gia đình với núi sông

    Phất cờ Đông-học trẩy tiên phong,

    Lục quân Nhật-Bản tinh thao luyện,

    Chiến địa Trung-hoa thỏa vẫy vùng.

    Bắc-hải vẫn ghi lời thoại biệt;

    Long-Xuyên bao xiết tryện trùng phùng.

    Thái-Nguyên độc lập năm ngày trọn([21])

    Cho biết tay đây cọp sổ lồng.

    Thăng-long văn vật!

    Năm 1921, báo Trung-Bắc ở Hà-nội có mở cuộc thi thơ vinh Văn-miếu (miếu thờ Khổng-Tử) lấy câu đầu là “Nghìn năm văn vật đất Thăng-long” như vậy là thơ 8 câu theo thể luật Đường mà người dự thi chỉ phải làm có bảy: Do đó csc bài gửi đến đều phá đề bằng câu đầu trên kia.

    Nhưng Thăng-long lúc đó – Lúc dưới quyền cai trị của bọn thực dân Pháp – Có còn đâu là văn vật nữa mà các thức giả, học giả thi sĩ văn nhân cứ phổng mũi mà tán?

    Bởi vậy, có người vì không thể chịu được cái trò thi cử lố bịch ngu muội ở trước cảnh nước mất nhà tan ấy, nên đã gửi lại cho ban chấm thi một bài sau đây, tuy cũng đề là để góp phần dự thi, nhưng thực là một cảnh cáo gián tiếp. Bài này lẽ dĩ nhiên không có đăng lên như các bài khác, nhưng đã khiến người đề xướng ra cuộc thi là ông tú Nguyễn-đỗ-Mục cảm thấy xấu hổ và tốp ngay lại liền.


    Nghìn năm văn vật đất Thăng-long.

    Văn vật ngày nay mới lạ lùng.

    Tham biện([22]) tham buôn, tham cán sự;

    Đốc người, đốc chó, đốc canh nông([23]).

    Du côn mật thám đầy sông nhị;

    Giăng há ma cô chật núi Nùng,

    Còn nữa xin ngừng, khôn siết kể!

    Nghìn năm văn vật đất Thăng-long.

    Mơ tổ mắng


    Đây là bài của cụ Đàm-Xuyên Nguyễn-phan-Lãng viết vào khoảng tháng 6 năm 1925 để kêu gọi tinh thần quật khởi của toàn dân và đồng thời để thức tỉnh những tâm hồn hèn mạt đang cam phận khom lưng cúi đầu ở trước thế lực bọn xăm lăng, không còn biết nghĩ đến nhân phẩm nhân cách là gì mà hễ mở miệng thì khoe là con Rồng cháu Tiên… Than ôi!...


    Đêm khuya giấc mộng đang mơ màng.

    Bỗng chiêm bao thấy cụ Hồng-Bàng.

    Tay cầm bầu nước xách lể mể.

    Vai vác cái cuốc đi vội vàng.

    Người cụ cao lớn, mặt đỏ gấc,

    Mắt sáng như sao râu, quá ngực,

    Miệng rộng như bể, chân như non.

    Hầm hầm dường có ý căm tức.

    Quát lên một tiếng như sấm vang,

    Người đang mơ ngủ đều kinh hoàng.

    Mắt nhắm mắt mở chưa kịp dậy,

    Cụ đã sừng sững trước đầu giường.

    Tay cầm cái cuốc gõ vào sọ.

    Tay cầm bầu nước dội vào cổ.

    Mắng rằng: “Bây giờ đã tỉnh hay chưa?

    Gà gáy tứ tung bây vẫn ngủ!

    Cái cuốc bỏ đó, nhà đi đâu?

    Bây không thức dậy để giữ lấy

    Cuốc ơi, Nước ơi! Đi đàng nào?

    Người hãy lấy cuốc nuốt vào cổ,

    Cuốc cùng lấy gì vỡ ruộng nương.

    Nước cạn lấy gì tưới cỏ cây…

    Cuốc còn, cuốc mất, bây trối thây?

    Giang sơn cơ nghiệp ta ở đây…

    Thôi thôi! Ta chắc cậy gì bây!

    Bây chẳng nghĩ công ta khó nhọc,

    Mở núi khai sông, những săn sóc,

    Nhành Hồng cỗi Lạc mấy ngàn năm,

    Truyền lữ nhược tôn riêng một góc,

    Nửa thời bờ biển, nửa về non.

    Con Rồng cháu Tiên, ngày đông đúc.

    Lúa rừng cá biển mưu sinh tồn.

    Văn minh một ngày một bước tiến,

    Dần dần thành một cõi văn hiến.

    Người chuộng lể nghĩa, thói thuần lương;

    Văn hóa ngàn năm không chút biến;

    Cùng nhau gìn giữ nghiệp tổ tông.

    Suốt cùng Ngủ-hồ, sông Cữu-Long,






    [1] Cửa ngục dưới âm phủ.

    [2] Trong ngoài giao kết lại.

    [3] Xai nghi là ghen ghét ngờ vực.

    [4] Vân Nam và Quảng đông, Quảng tây.

    [5] Tức vua Lê-Thái-Tổ.

    [6] Thê noa là vợ con.

    [7] Vân tiên là tờ mây

    [8] Hải-ninh thuộc về Mông-cáy, giáp Đông-hưng nước Tàu. Bà Quyến đi sang Tàu gặp ông về đón ở đó.

    [9] Định tỉnh: Sớm thăm tối viếng

    [10] Liên uyên tịnh phượng: loài chim yên ương và phụng hoàng bao giờ con trống và con mái cũng sống có đôi, bay sát cánh, không hề lìa nhau, ý nói cảnh vợ chồng xum vầy hòa hảo, không lúc nào xa cách.

    [11] Hiệp xướng hòa chung: là ý nói âm nhạc hiệp vần hòa nhịp với nhau cũng như cuộc đời hòa hỏa của đôi vợ chồng.

    [12] Hồng-nữ vệ-công: Sự tích nàng Hồng-Phất và Lý-Tĩnh đời nhà Đường. Lúc ấy thiên hạ đại loạn, Lý-Tĩnh là một người học trò hàn vi, có dịp ra mắt một nhà quyền quý đương thời Hồng-Phất có mắt xanh, đón biết anh hùng ở giữa trần ai, liền bỏ nhà đi theo họ Lý. Quả nhiên về sau Lý theo giúp vua Đường-thái-Tông đánh Đông, dẹp Bắc dựng nghiệp thống nhất, được phong Vệ-quốc-công.

    [13] Cờ ngũ tinh: Có 5 ngôi sao. Năm 1917 ngọn cờ này phấp phới trên tỉnh Thái-nguyên bẩy ngày về tay quân cách-mạng.

    [14] Ninh gia là về thăm nhà. Người đàn bà đi lấy chồng lúc trở về thăm nhà mình, gọi là quy ninh hay ninh gia

    [15] Nấm đất Cần-thơ: Cụ Cả Cương, thân phụ của bà Quyến vì cách mạng bị thực dân Pháp đưa vào an trí tại tỉnh Cần-thơ rồi qua đời ở đó.

    [16] Nam-Vinh thung cỗi: Lúc này cụ Cử Can, thân phụ ông Quyến đã bị Pháp bắt giam một độ rồi đưa sang an trí tại Nam-vang kinh đô nước Cao-Miên(tức Nam-vang)

    [17] Dụ hậu quang tiền là gây dựng người sau, rỡ ràng đời trước, ý nói dạy dỗ con cháu cho nên người, rạng rẻ tổ tiên.

    [18] Bĩ cực thái hanh là hết lúc bĩ đến lúc thái.

    [19] Cửa Nghĩa-môn: Cổng nhà vợ ông Quyến ở Động Trung, Thái-Bình, đề hai chữ Nghĩa-môn tự đời Tổ-phụ để lại.

    [20] Ôn như: là biệt hiệu cụ Cử Lương-văn-Can.s

    [21] Cuộc khởi nghĩa Thái-Nguyên năm 1917, khởi lên từ đêm 30 rạng 31 tháng tám dương lịch, quân cách-mạng chiếm giữ tỉnh thành từ đây cho đến quá trưa hôm 5 tháng chín mới rút lui; tính ngày là 7 ngày, nhưng tính giờ thì được 5 ngày trọn.

    [22] Tham biện tức còm-mi

    [23] Đốc chó tức thú-y.
  • Chia sẻ trang này