0087.0008

26/1/16
0087.0008
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}

    Mở mang cỏi đất ngày ngày rộng,

    Làm cho thêm rạng vẻ non sông.

    Đàn bà dễ mấy tay: Trưng, Triệu,

    Mình cỡi đầu voi, cờ nổi hiệu.

    Quân Ngô quân Hán đã kinh hồn,

    Trông giãi yếm đào tìm nẻo xéo!

    Tài trai giỏi nhứt lớp Trần, Lê,

    Ra sức anh hùng cũng gớm ghê.

    Mấy trận Chi-Lăng cùng Vạn-Kiếp

    Quân Tàu hóng gió cút ngay về!

    Như thế mới thật con cháu cụ.

    Làm trai không thẹn, gái không hổ

    Bây sao chẳng ngắm các gương xưa.

    Luống chịu cúi đầu, ràng buộc cổ?

    Vẫy đuôi ngẫng mặt theo sau người,

    Chờ chực nước dãi, trông ngóng hơi,

    Nhà mình mà hóa đi ở đậu,

    Cơm mình mà phãi đi nhặt rơi?

    Giết con cho mắm, nhắm mắt nuốt,

    Chém cha chia canh, chẳng buốt ruột.

    Vỡ nhà nát nước, giả ngẩn ngơ,

    Xẩy nghé, tan đàn, không biết xót!

    Gái đi rước khách, trai đi hầu,

    Cậy thế cậy thần lòe lẫn nhau.

    Nhái lớn chực nuốt những nhái bé.

    Gầy róc xương thịt, béo ép dầu…

    Lại còn lên mặt nhưng tên lệnh,

    Đưa nhau làm cỗ cúng ông Hễnh,

    Săn cầy săn cá lên tâng công

    Kiếm bát canh thừa miếng ăn cặn

    Xưa kia quan lại có thế đâu?

    Bây giờ quan Phủ lại nên giàu

    Đua nhau bòn máu và hút mủ

    Đua nhau ruộng ruộng cùng cao lầu

    Phá sạch hết thảy nền lễ nghĩa

    Quên những tất cả tính liêm sỉ.

    Đứa theo nết sói với lòng beo,

    Học những thói ma cùng chước quỷ.

    Làm cho lây hại lủ thanh niên

    Dần dà tập nhiễm thành thói quen.

    Mặt Tiên mũi Rồng vẻ tuấn tú,

    Vai trai cổ ngựa, đành ngu hèn.

    Bây tự đào hang cùng phá tổ,

    Trách nào diều tha lại quạ mổ!

    Mưa Âu gió Mỹ nhiễm lâu vào,

    Tam-Đảo, Tản-Viên có ngày đổ!

    Vậy mà bây khoe đời văn minh!

    Văn minh đâu dùng sự chiến tranh.

    Vậy mà bây cậy có nhân đạo,

    Nhân đạo đâu cướp cháo chúng sinh!

    Nếu không kiếm cách để tự lập

    Yếu hèn quyết có ngày chết dập!

    Bây ơi! đem con gửi quạ già,

    Chắc đâu quạ già khỏi ăn cắp?

    Ta chẳng mong bây chắc cậy người,

    Ta chẳng mong bây cầu cứu ai!

    Ta chỉ mong bây thương nước Tổ!

    Ngọt cùng chịu ngọt cay cùng cay,

    Ta rất mong bay trước cảnh tình,

    Lấy cách văn minh để cạnh tranh

    Tích cực chẳng xong dùng tiêu cực

    Cốt sao khôi phục quốc quyền mình.

    Ta rất mong bày trọng quốc túy,

    Khuyên nhau gìn giữ lấy luân lý.

    Khiến cho người khỏi hóa ra ma,

    Mất tiếng nghìn năm trước lễ nghĩa.

    Ta rất mong bay thương lẫn nhau,

    Chị ngã em nâng trước bảo sau.

    Nồi da xáo thịt, lòng xao nở?

    Củi đậu đun đậu dạ càng đau,

    Nước ta bây giờ củi hết kiệt,

    Danh giáo, cương thường lại bại liệt.

    Bây giờ ngơ ngẫn đợi gì ai?

    Cá chậu chim lồng lo chẳng chết?

    Bây coi Nhật-Bản cùng Xiêm-La!

    Xưa kia danh tiếng nào bằng ta?

    Mà nay đứng giũa vùng Đông-Á.

    Dân giàu nước mạnh, bao vinh hoa.

    Nay ta trông thấy lủ con cháu,

    Mặt muối mày tro, càng đớn đau.

    Liệu mà tỉnh! tỉnh… đứng ngay lên!

    Cuốc đây! Nước đây! Nhặt lấy mau …!

    Mở bừng mắt dậy hóa chiêm bao,

    Trông theo nào thấy cụ đâu nào?

    Vội vàng cầm bút chép lời cụ,

    Đồng bào! đồng bào! Ta tính sao?


    ***






    Nhắn các bạn tù

    Của một nữ cách mệnh làm ở

    Côn-đảo vào khoảng năm 1920

    Nhắn bảo cùng ai đến chỗ này

    Đừng buồn đói khổ với chua cay,

    Hy sinh hai chữ tua ghi nhớ,

    Phấn đấu một lòng chớ chuyển lay.

    Ba thước roi mây un máu nóng,

    Một phen lao lý đúc gan dày.

    Bất bình còn đó còn cơ hội,

    Ngang dọc rồi đây cũng có ngày.


    Tức giận bao nhiêu, nhục biết bao!

    Anh em ta phải tính làm sao.

    Tay xuay trái đất hai bàn trắng;

    Máu rửa non sông một khối đào

    Phun lửa nhiệt thành nung bể cạn

    Tuốt gươm công phẫn vạch trời cao.

    Dắt nhau tiến tới đường công lý,

    Cực khổ cùng nhau, sướng có nhau.




    Cùng người dân nghèo


    Tác giả bài này là cụ Lê-văn-Huân, người làng Lạc-thiên phủ Đức Thọ, tỉnh Hà-Tĩnh (Trung-Việt).

    Biệt hiệu là Lâm-Ngu, cụ sinh năm 1875.

    Xuất thân trong một gia đình Nho học, cụ thi đậu thủ khoa khoa Hương thí trường Nghệ-An năm 31 tuổi, nên tục thường gọi cụ Thủ-khoa Huân ( cũng một tên Huân và cũng đỗ thủ khoa nhu cụ Thủ-khoa Nguyễn-hữu-Huân, người làng Tịnh-hà, tỉnh Mỹ-Tho, vị anh hùng khởi nghĩa, chống đánh quân xâm lăng Pháp ở miền Nam).

    Năm 1908, cuộc chống thuế của đồng-bào Trung-Việt nổi dậy ở các tỉnh Nghệ-An, Hà-tĩnh, Quảng-bình, Quảng-trị và Quảng-Nam, Quảng-Ngãi, cụ bị thực dân Pháp và chính-phủ Nam-triều bắt giam và đày đi Côn-đảo với các cụ Ngô-đức-Kế, Đặng-nguyên-Cần và nhiều thân-sĩ khác.

    Năm 1919, cụ được thả về, và lại hoạt động cho cách mạng nữa.

    Năm 1926, cụ trúng cử vào viên Dân-biểu Trung-kỳ. Nhưng sau thấy những lời tuyên bố của tên Khâm sứ Trung-kỳ Jabouillet đều là những thủ đoạn lừa bịp, nên năm 1929 cụ từ chức cùng một lượt với cụ dân biểu viện trưởng Huỳnh-thúc-Kháng.

    Kế đó, cụ lại bị Nam-triều và thực dân bắt giam. Nhưng để bảo vệ cơ sở và giữ tròn danh tiết, ngày 13 tháng 9 năm 1929, cụ móc ruột tự tử tại nhà giam Hà-tĩnh. Năm ấy cụ 54 tuổi.

    Những bài của cụ, chúng tôi sưu tầm để trong tập này đều là những bài đã đăng trong báo “Sóng Cách-Mạng” một tờ báo bí mật của cụ in bằng xu-soa, xuất bản ở Trung-Kỳ vào khoảng 1927.


    Cụ là người học đỗ đến Thủ-khoa, cố nhiên văn tài không phải kém. Song đọc những bài này, chúng ta thấy toàn những lời lẽ mộc mạc. Nhưng đó là chủ trương sáng tác của cụ để cho đi sâu vào đa số đồng bào. Vì sinh thời cụ thường giải thích với các đồng-chí rằng: “Hoàn cảnh nước ta hiện như một căn nhà bị cháy, một khúc đê bị vỡ, chúng ta phải dóng trống ngũ-liên để giục người ra cứu chữa, chớ không thể đem đàn ra gảy để gọi thiên hạ đến cứu được. Chỉ có những kẻ ngu dại mới làm cách sau này ở trong lúc nhà cháy và đê vỡ mà thôi.”


    Hỡi những kẻ dân ta nghèo đói!

    Có biết rằng nông nỗi vì ai!

    Cả năm đòn gánh đè vai,

    Mồ hôi nước mắt không tài kiếm ra.

    Kìa lĩnh vé các tòa các sở,

    Nào nộp tiền các chợ, các ty.

    Mấy lần thuế lại thuế đi,

    Tính cho đủ thuế còn gì mà ăn.

    Con với vợ mặt nhăn vì đói,

    Mà Tây thì cứ trói lấy tiền.

    Cực thay sưu nặng thuế phiền,

    Róc cho đến chết lợi quyền chưa tha.

    Mình cá thịt, Tây là dao thớt,

    Sống làm sao cho thoát khỏi tay người.

    Than ôi! Sống một kiếp người!

    Thà rằng chết quách cái đời bùn nhơ.

    Liệu đứng dậy mở cờ cách mạng,

    Thoát khỏi vòng nô lệ bấy nay.

    May ra sống được là hay,

    Chẳng may thác cũng là tay anh hùng.

    Một cái thác lông hồng núi Thái,

    Tính đôi đường phải trái mà theo.

    Hơn hai mươi triệu đồng bào,

    Trên đường cách mạng ào ào tiến lên!

    Nước nhà cơ nghiệp vẹn tuyền,

    Việt-Nam ta giữlợi quyền của ta.

    Mấy lời thuận miệng ngâm nga,

    Ai ôi xin nhớ, bài ca hợp đoàn!



    Cùng người dân cày


    Đất nước Việt-Nam ta vốn là một dải đất phì nhiêu, và sản xuất lúa nhiều dứng vào bực nhì trên thế giới. Như thế có nghĩa là đất của nước ta không phải là môt dải đất xấu gì khiến cho nước ta phải nghèo nàn, dân ta phải túng thiếu và lầm than đói rét.

    Nhưng cái cảnh người dân cày của nước ta đã phải sống thế nào trong những năm các nhà cai-trị Pháp có mặt ở đây?

    Và người dân cày phải làm thế nào mới có được cơm no, áo ấm, mới để ruộng đất không còn bị kẻ khác nào từ xa đến chiếm đoạt, và đem vàm ngựa ách trâu để chất lên đầu cổ…

    Để giải đáp những câu hỏi trên, chúng tôi xin mời các bạn hãy cùng đọc bài này cũng là một tác phẩm của cụ Thủ-khoa Lê-văn-Huân, một nhà cách-mạng tiền bối ở vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh đã đem cả một cuộc đời hy-sinh cho đại nghĩa của quốc gia, dân tộc mà ngày nay nhắc đến không ai là không phải kính phục, và thương tiếc ngậm ngùi…


    Thương thay những kẻ dân cày!

    Da đen mặt xạm ngày ngày gian lao,

    Gà vừa gáy ồn ào thức dậy,

    Cơm chưa xong đã chạy vác cày,

    Cày cày cuốc cuốc tối ngày,

    Lo nay cấy gặt, lo mai vun trồng.

    Mặc dầu nắng đốt mưa giông,

    Chân không bén đất, tấ không bén giường,

    Càng khó nhọc lại càng cơ cận, (1)

    Quanh cả năm cơm hẩm cà chua.

    Khố đã rách ba tua còn vá,

    Áo tơi bời chẳng khá che da.

    Vì ai nên nỗi thiết tha,

    Vì chưng sưu nặng thế gia mấy lần.

    Pháp kia đã ép trăm phần,

    Mà phường quan lại, lại dần tận xương.

    Vợ con đói còn đang lăn lóc,

    Sưu thuế kia còn róc tận xương.

    Lại thêm quốc trái công lương,

    Một năm mấy bận lệ thường chẳng tha.

    Khổ như thế thiệt là khổ thiệt,

    Anh em ơi đoàn kết lại nào!

    Vi bằng cứ mãi lìa nhau,

    Thì nó ép mãi hết dầu chẳng tha.

    Phải kết đoàn, phải tiến ra,

    Nhà ta ta ở, ruộng ta ta cày.

    Tội gì chịu lụy thằng Tây.


    (1) cơ cận là đói kém




    Cùng các thày thông ký


    Trong những năm chính quyền thực dân Pháp còn ngự trị trên dất Việt-Nam này, chẳng những chỉ có người dân cày là khổ nhục, mà cho đến các thày thông, thày kí cũng chẳng vinh dự gì.

    Hơn những người dân nghèo đầu tối mặt tắt, các thày được cha mẹ nuôi cho ăn học để nên người.

    Nhưng học để làm gì?

    Có ích quốc lợi dân không?

    Hay kết quả chỉ khư khư giành lấy một chỗ ngồi trong sở với số tiền lương mỗi tháng bảy, tám chục là nhiều, để rồi mặc tình cho bọn kẻ thù của dân tộc sai khiến.

    Vinh hay nhục?

    Theo nội dung bài này – cũng tác phẩm của cụ Thủ khoa Lê-văn-Huân thì học thế, hành thế, đâu có thấy gì cái nhục của nhà tan nước mất, đâu có biết gì là phong trào văn minh tiến bộ của năm châu bốn biển, và đâu nữa còn gì là nhân phẩm, nhân vị.

    Cho nên theo cụ, đã mang danh là con người có học thì phải biết suy nghĩ đến non sông Tổ-quốc, đến đồng chủng, đồng bào đang bị trăm cay nghìn đắng dưới xiềng xích nô lệ.

    Không thế, thì mặc dù có học, cũng chẳng được xứng đáng với tai mắt ở đời, vì đâu có biết đến liêm sỉ với hiếu trung là gì!...


    Khi còn bé bố cho đi học,

    Vào nhà trường miệng đọc A. B.

    Sớm khuya đèn hạnh bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào lê,

    Lam-kiều xe ngựa đi về mặc ai.

    “Đích tê” với mấy bài phép toán.

    “Véc bờ” kia cũng rán sức chia.

    Ân cần dậy sớm thức khuya,

    Chỉ lo học tập biết gì ăn chơi.

    Mấy năm trời xi lô, xi lốc,

    Hạch đỗ rồi ông đốc, ông thông.

    Lương ăn bảy tám chục đồng,

    Tưởng rằng vinh hiển bõ công tập rèn.

    Biết gì chuyện nói hèn nước mất,

    Xem ông Tây như Phật như Tiên.

    Trong trường nhồi sọ đã quen,

    Hễ khi mở miệng là khen Tây lành,

    Gà què chạy loanh quanh cối thóc,

    Thấy có ăn trằn trọc chui vào,

    Biết chi đồng chủng đồng bào.

    Biết chi thế giới phong trào là chi.

    Kiếm được tiền đem đi vung phá,

    Đua ăn chơi cho hả lòng tham.

    Thấy dơ thôi quản chi chàm.

    Vả tai đá đích củng cam chịu vầy.

    Không phải là các thầy thông ký,

    Chẳng biết điều liêm sỉ hiếu trung.

    Nếu như có kẻ nói cùng,

    Chắc là sẽ động đến dòng lương tâm,

    Chúng tôi đã biết lầm từ trước,

    Rày về sau việc nước xin lo.

    Nước nhà độc lập tự do,

    Trước lo lý luận, sau lo thực hành.

    Để thoát khỏi cái vành nô lệ,

    Người Nam ta cai trị nước ta.

    Ai ôi nghĩ lại kẻo mà,

    Thông ngôn ký lục cũng là “người Nam”!



    Vợ khuyên chồng

    Tục ngữ Việt-Nam có câu:

    Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.

    Trên thực tế của lịch sử dân tộc đã chứng minh cụ thể qua những tấm gương anh hùng của bà Trưng, bà Triệu và bao nhiêu liệt nữ khác.

    Vì thế, nhiệm vụ cứu nước diệt thù của người dân Việt-Nam không phải nhiệm vụ riêng của những người đàn ông, mà còn là chung của cả đàn bà và con gái nữa. Vì nhục là nhục chung cả nước.

    Cho nên, ngoài bổn phận trong gia đình, và ngoài bổn phận “làm vợ” ra, người đàn bà Việt-Nam còn có nhiệm vụ với quốc gia dân tộc.

    Với nhiệm vụ cao cả ấy, không cần nhất thiết phải thanh gươm yên ngựa lên đường cứu quốc như các bạn nam nhi, mà biết khuyên răn người chồng phải vì dân vì nước, biết khích động tinh thần ái quốc diệt thù của người bạn trăm năm cũng là nhiệm vụ của một người dân đối với nước nhà trong cơn biến cố vậy.

    Cụ Thủ-khoa Lê-văn-Huân viết bài này thật sự là đã nghĩ đến vai trò quan hệ của người đàn bà Việt-Nam lắm. Tuy là bài “Vợ khuyên chồng”, nhưng tác dụng của nó chẳng những chỉ giáo ducjtinh thần yêu nước của người đàn bà, chẳng những đặt ra cho người đàn bà một trách nhiệm cần thiết, nặng nề nhưng có thể làm được, mà còn là để kêu gọi các người nam tử nữa.

    Than ôi! Người đàn bà mà còn biết nghĩ đến vận mạng của quốc gia, dân tộc như thế, mà kẻ đàn ông chẳng có chút giác ngộ nào thì hỏi còn xứng đáng để làm người nữa không?...


    Chàng ôi chàng!

    Thiếp xin chàng ngồi lại!

    Thiếp bàn giải đôi lời!

    Hơn sáu bảy mươi năm trời,

    Đem thân làm nô lệ,

    Cúi đầu làm nô lệ.


    Nỗi đắng cay xiết kể,

    Nói ra những thêm sầu.

    Chữ nhẫn sỉ sự thù, (1)

    Sao mà anh chịu được?


    Nước với nòi tan tác,

    Nhà cũng chẳng còn đâu.

    Sao không liệu mau mau,

    Để tìm phương cứu lại,

    Để tìm đường cứu lại.


    Thiệp tôi tuy rằng gái,

    Thấy vậy cũng sầu bi.

    Chàng nam tử tu mi,

    Tại làm sao không biết?

    Tại thế nào không biết?


    (1) Nhẫn sỉ sự thù là đi thờ kẻ thù mà không biết xấu hổ.


    Chỉ ham điều hoa nguyệt,

    Chỉ rượu chè bạc cờ.

    Chỉ hờ hửng ngẩn ngơ,

    Chịu làm dân mất nước,

    Chịu làm người mất nước.


    Thử xem kìa! Sau trước!

    Nọ các nước lân bang.

    Bọn nam tử đường đường,

    Làm cho nước thịnh cường.

    Sử xanh còn chép để,

    Bia vàng còn tạc để.

    Chàng con nhà thi lễ,

    Vốn nòi giống Lạc Hồng.

    Sao chịu ngồi trong vòng,

    Cho quân Tây đày đọa.


    Xin từ nay tạc dạ,

    Lấy cách mạng cơ quan.

    Cốt tổ chức kết đoàn,

    Làm sao cho nghiêm nhặt,

    Làm thế nào cho nghiêm nhặt.


    Còn như việc gia thất,

    Đã có thiếp lo rồi.

    Đường đi ngược về xuôi,

    Mặc sức chàng vùng vẫy.

    Mặc sức anh vùng vẫy.


    Chàng làm sao cho dân đươc cậy,

    Cho non nước được thái bình,

    Dù thác cũng cam tình,

    Thiếp không phàn nàn chi nữa,

    Thiếp không dám phàn nàn chi nữa…


    Những lời vàng đá!

    Thiếp ngỏ lại ân cần,

    Chàng ơi! “Vị quốc vong thân” !...




    Kỷ niệm trận thế chiến thứ nhất


    Trận thế chiến thứ nhất là trận chiến tranh giữa hai nước Pháp Đức 1914-1918. Trận chiến này chỉ vì sự dành nhau thị trường thuộc địa giữa bọn đế quốc với nhau mà chúng đã đưa nhân loại vào lò sát sinh trên 8 triệu sinh mạng.

    Việt-Nam ta lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp nên nhân dân đã bị chúng bắt qua Tây để làm bia đỡ đạn cho chúng. Chúng tuyên bố với lý do để bảo vệ quyền lợi cho hai nước Pháp, Nam. Nhưng sự thật thê nào? Xin các bạn hãy xem bài “Kỷ niệm trận thế chiến thứ nhất” này là một bài tả thực của cụ giải nguyên Lê-văn-Huân viết năm 1919, tự khắc sẽ được giải đáp vậy.


    Ôi trời ôi! ôi đất ôi!

    Hành chi con trẻ bồ côi thế này.

    Cha thì đi lính cho Tây,

    Hắn bắt đi đánh bỏ thây nước người.

    Bây giờ mẹ hóa con côi,

    Kể sao cho xiết khúc nôi đoạn trường.

    Nghèo nàn vất vả trăm đường,

    Cửa nhà rách nát ruộng vườn tả tơi.

    Đem con gán nợ cho người,

    Bị người hành hạ đủ mùi đắng cay.

    Chưởi liền miệng, roi liền tay,

    Làm lụng vất vả suốt ngày chưa tha.

    Ăn thì cơm hẩm canh thừa,

    Một manh áo rách chẳng vừa che thân.

    Nhà giàu ăn ở bất nhân,

    Đến ngần này nữa biết ngần nào thôi.

    Ôi trời ôi! Ôi đất ơi!

    Hành chi con trẻ bồ côi thế nầy.

    Thế nầy cũng tại thằng Tây,

    Nó bắt đi đánh bỏ thây nước người.

    Năm một nghìn chín trăm mười bốn,

    Cõi Âu Châu thành chốn chiến tranh.

    Bốn năm trời đất tan tành,

    Máu nhân loại chảy còn tanh khiếp hoài.

    Cơ sự ấy vì ai nên nỗi?

    Nhân loại mình có tội tình chi?

    Chốn sa trường bỏ xác đi,

    Thua thì ta chịu, được thì ai ăn.

    Bọn đế quốc bất nhân lắm tá,

    Đem ta làm thịt cá mà chơi.

    Chốc đà hơn bốn năm trời,

    Non cao xương trắng bể vơi máu hồng.

    Thảm nỗi vợ mất chồng, góa bụa,

    Tủi bày con mất bố bồ côi.

    Khóc ai ai chết đã rồi,

    Những người sống sót sụt sùi đau thương.

    Vạ chiến tranh muôn đường bi thảm,

    Nói càng bao, tâm khảm càng đau.

    Cùng nhau ta phải cùng nhau,

    Đứng lên tất cả trước sau một lòng.

    Phá cho nát xiềng gông đế cuốc,

    Gỡ nguy vong cho nước non này.

    Bằng không cứ để nhường nay,

    Là mình tự để thằng Tây giết mình.
  • Chia sẻ trang này