0087.0009

26/1/16
0087.0009
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}

    Sum vầy bõ lúc lưu ly

    Muốn cứu nước diệt thù thì bất cứ người ở trong nước hay là ở ngoài nước cũng đều phải đồng tâm nhất trí. Cong như mỗi người một ý, một ngả đường thì làm sao thoát được cảnh gông cùm nhục nhã.

    Đoàn kết là sống, mà chia rẽ là chết.

    Bài này của một nhà cách mạng Việt-Nam viết đăng trên báo Đồng Thanh xuất bản ở Thái Lan năm 1927, nội dung không ngoài mục đích trên, vừa để kêu gọi tất cả kiều bào ở hải ngoại phải cùng nhau muôn người như một, luôn luôn lúc nào cũng phải ngoảnh mặt về với non sông, nước Tổ, và vừa là để kêu gọi những người trong nước nữa.

    Tinh thần đoàn kết này, chẳng những chỉ người trong nước với những người ngoài nước, chẳng những chỉ ở người ở hải ngoại với những người hải ngoại, mà còn phải là tinh thần đoàn kết giữa những người trong nước và những người hải ngoại.

    Không thể Sâm, Thương chia rẽ được, và càng không thể được trong lúc mối thù chung của dân tộc chưa làm sao rửa được.

    Đoàn kết! Đoàn kết!

    Chỉ có thể đoàn kết mới có thể làm cho nước nhà không còn gặp vận biến cố tang thương nữa.

    Bài tuy ngắn, nhưng thật là chứa những lời tha thiết kêu gọi đồng bào thốt tự đáy lòng yêu nước mà ra vậy.

    Người một nước vốn cùng chung một giống,

    Nỗi nhục vinh sống thác phải cùng nhau,

    Bốn ngàn năm chung giọt máu đào,

    Phải nước lã chi đâu mà đểnh đoảng,

    Sao ta lại lìa tan chểnh mảng,

    Nghĩ nguồn cơn thêm cay đắng can trường,

    Vận nước nhà biến cố tang thương,

    Sao mình lại Sâm, Thương người một ngả...


    Thơ rằng:

    Trường thử bách niên cam thỏa mạ

    Bất tri hà nhật xuất lao lung. (1)

    <

    Rời rạc mãu thù chung sao trả được.>>

    Thôi thôi! Thôi kể chi mấy mươi năm về trước,

    Giải đồng tâm ta liên lạc từ đây!

    Sum vầy bõ lúc bấy nay

    (I) Hai câu này ở trong bài thơ <> của cụ Phan-chu-Trinh, có nghĩa là :

    Dằng dặc trăm năm cam nhục nhã,

    Biết đến ngày nào thoát ngục gông.


    Hoán tỉnh quốc dân

    Bọn thực dân Pháp sang cai trị nước Việt-Nam có phải là đem văn minh khai hóa dân tộc ta không?

    Không!

    Tuy có một vài kẻ vì ăn phải thuốc bả của họ mà lầm tưởng như trên. Nhưng cả nước thì họ không thể nào lừa được.

    Dân tộc ta vốn dĩ là dân tộc thông minh quật cường nên đã hiểu rõ lắm. Hiểu là họ sang đây chỉ cốt để vơ vét, để bỏ vào túi tham không đáy của những bọn quân tài phiệt. Nên ngoài việc đàn áp bóc lột dân tộc ta bằng sưu cao thuế nặng, bằng phu phen phục dịch, họ còn sát hại dân tộc ta bằng súng đạn gươm đao, và trại giam nhà ngục.

    Chưa hết, họ còn đầu độc dân tộc ta bằng rượu cồn, thuốc phiện và bao nhiêu những thứ ăn chơi trụy lạc khác. Nhưng cái này mới thật là nguy hiểm vì nó mỗi ngày một làm tiêu hao tinh thần và khí lực con người, nhất là đối với thanh niên, những người đang đầy hứa hẹn rực rỡ với tương lai dân tộc đi đến chỗ ngày một yếu hèn, để cam tâm mãi mãi cúi đầu làm nô lệ cho họ.

    Ấy đại để là cái chính bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của họ đối với dân tộc ta là thế.

    Ngày nay, muốn rõ hơn, chúng ta hãu đọc bài <> này của một nhà cách mạng tiền-bối Việt-Nam biết đăng trong báo Thanh niên xuất bản ở Trung Quốc vào khoảng năm 1927, do một ông bạn ở hải ngoại lâu năm mới về, đọc cho chúng tôi chép lại.




    Nước Nam ta từ ngày Pháp lấy,

    Kể năm đà sáu bảy mươi rồi.

    Thương ôi, dâu bể biến dời,

    Non sông nước vực chông gai đầy đường.

    Nay xin kể rõ ràng sau trước,

    Để cho người trong nước đều coi.

    Pháp kia hiểm độc thì thôi,

    Bày mưu kế giết nòi giống ta.

    Thuốc á phiện ấy là rất độc,

    Mắc nghiện vào thì thịt róc xương,

    Vậy nên các nước dinh hoàn,

    Nước nào cũng cấm ai còn dùng đâu!

    Thế mà Pháp hiểm sâu khôn xiết,

    Cho dân ta hút biết bao nhiêu.

    Thương ôi hút thuốc càng nhiều,

    Dân ta tài lực tiêu hao lại càng.

    Nó lại chế rượu cồn rất độc,

    Lập công ty nấu đúc làm ra.

    Men pha chế cho già,

    Kê trong độc chất, cũng là lắm thay.

    Thế mà nó ngày ngày bắt uống,

    Cứ uống mỗi làng đóng xuống bao nhiêu.

    Thương ôi rượu uống càng nhiều,

    Giống nòi sinh dục tiêu hao trăm đường.

    Nó gánh đủ trăm đường thuế má,

    Rút dân ta bát mẻ không còn.

    Dân ta tiền mất của mòn,

    Mồ hôi nước mắt chẳng còn chút chi.

    Lại bắt phu chở đi ngoại quốc,

    Mấy ai đi mà đã được về.

    Chân trời góc bể lưu ly,

    Nổi trôi sống sót biết gì được đâu.

    Thế là Pháp, hiểm sâu bạc ác,

    Mà người mình ngơ ngác chưa khôn,

    Tưởng rằng Pháp hẳn làm ơn.

    Biết đâu là hắn đã tham lẫn tàn

    Có kẻ nói nước mình từ trước

    Trải bao phen mưu trước đánh Tây,

    Duy-Tân, Đề-Thám mấy tay,

    Hà-thành đầu độc, Trung-kỳ kháng sưu.

    Rút dùng lại chỉ đều thất bai,

    Một mình tôi chống lại được sao,

    Nói ra sao chẳng nghĩ vào?

    Vì sao thất bại vì sao chưa thành.

    Vì chưa biết hợp thành tổ chức,

    Vì không ai gắng sức tuyên truyền.

    Vì chưa đoàn kết hoàn toàn,

    Vì chưa lấy chữ dân quyền dựng nên,

    Chỉ nghĩ rằng bọt bèo thân ốc,

    Mang chưa được cái gộc rêu kia,

    Âu là nhắm mắt ngoảnh đi,

    Giang san chìm nổi mặc gì đến ta.

    Ấy là chẳng bằng loài chim cá,

    Trách gì đâu người đọa người khinh.

    Nên hư thì cũng tại mình,

    Muốn hèn thì chớ, muốn vinh thì làm.

    Mình cũng là Việt-Nam phần tử,

    Phải ra tay gìn giữ giống nòi,

    Phải làm cho thế gian coi,

    Phải cho thiên hạ biết nòi Lạc Long.

    Phải ra sức gắng lòng yêu nước,

    Phải đem mình đi trước anh em,

    Phải làm cho quốc dân xem,

    Phải ra tranh đấu, phải kiên tập rèn.

    Phải biết lẽ người hèn vì độc,

    Phải cùng nhau kết sức hội hè,

    Đến khi mạnh cánh lớn bè,

    Tây kia bạo ngược cũng e người mình.

    Mình phải biết hy sinh bảo quốc,

    Giống nòi mình sẽ được vẻ vang,

    Mình mà nhút nhát trăm đường,

    Giống nòi mình chắc tan hoang có ngày.

    Mình có dại thì Tây mới lấy,

    Khi mình khôn hắn phải trả mình.

    Ai ơi nghĩ lại cho rành,

    Nước mình đã mất thì mình còn đâu.

    Nôm na chấp vá vài câu,

    Khuyên người trong nước mau mau kết đoàn.



    Chiêu hồn nước

    Tác giả bài này là ông Phạm-tất-Đắc sinh ngày 15 tháng 5 năm 1909 tại làng Rũng-Kim, tổng Công-Xá, phủ Lý-Nhân (Hà-nam, Bắc-Việt). Ông là con trai trưởng cụ Phạm-văn-Hạnh và bà Lê-thị-Giáo. Đỗ tốt nghiệp năm 14 tuổi, ông được vào học trường trung-học bảo hộ Hà-nội (trường Bưởi) năm 1923.

    Năm 1926, ở Hà-nội có lễ truy-điệu cụ Phan-chu-Trinh (mất ở Saigon). Ông Đắc dang theo học năm thứ tư để chờ kỳ thi Thành chung vì kích thích bởi phong trào bãi khóa, vì tiếng gọi của non sông, và vì không muốn cúi đầu theo lệnh của tên giám trường, ông quyết định sẽ giữ cái băng đen để để tang cụ Tây-Hồ ở cái tay áo, và chờ cơ hội vượt ra khỏi nước, đồng thời đọc các thi ca ái quốc để hun đúc tinh thần.

    Ý nguyện chưa đạt, lại dự thêm cuộc truy điệu cụ cử Lương-văn-Can (nguyên hiệu trưởng trường Đông-kinh Nghĩa-thục) mất năm 1927. Sau đó vì cảm súc quá mạnh, với tinh thần non nước, ông Đắc viết ra bài <> này, đưa ra nhà in Thanh-niên để xuất bản.

    Sách ra được vài hôm, ông Đắc và viên quản lý nhà in bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam. Khi ra trước tòa án, viên chánh án người Pháp hỏi ông ai xúi viết bài này hoặc nhờ ai viết hộ, ông trả lời: <<đầu tôi="" nghĩ,="" tay="" tôi="" viết,="" công="" việc="" này="" hoàn="" toàn="" do="" tôi.="">>

    Kế đến, người Pháp lại gọi cụ thân sinh ra trước vành móng ngựa để cật vấn về tội trạng con làm. Cụ khảng khái trả lời: <>

    Tòa án thực dân không biết quy tội về ai được. Còn ông Đắc khi ấy mới 18 tuôi, nghĩa là vì chưa đến tuổi trưởng thành. Mặc dù thế, nhưng cường quyền vẫn áp đảo công lý, chúng vẫn buộc tội ông, trừng trị tội yêu nước của ông bằng cách giam trong nhà <> để đợi khi trưởng thành xét nữa. Chúng giải ông lên Bắc-giang giam lại. Ở đó thực dân Pháp sợ ông tuyên truyền lòng yêu nước cho các phạm nhân khác, nên được 3 tháng lại đem về Hà-nội giam vào nhà pha Hỏa-lò như người lớn, bất kể là trái với luật mà chúng đã đặt ra.

    Ngày 16 tháng 5 năm 1930, ông được thả ra với điều kiện cha mẹ phải lãnh về trông nom. Năm ấy, ông Đắc 21 tuổi. Nhưng vì cảnh tra tấn tù tội ảnh hưởng quá nhiều đến sức khỏe, ông bị bệnh hoài và đến ngày 24 tháng 4 năm 1935 thì mất tại phố Luro (Hà-nội). Lúc ấy mới 26 tuổi. Như thế là được thực dân Pháp đã giết ông bằng một cách không gươm không súng, và đã sát hại một con người yêu quý trẻ trung của nước Việt-Nam vậy.




    Hăm nhăm triệu trẻ già trai gái,

    Bốn nghìn con cái Hồng Bàng.

    Cũng nhà cửa, cũng giang san,

    Thế mà nước mất nhà tan hỡi trời!

    Nghĩ lắm lúc đương cười hóa khóc,

    Muốn ra tay ngang dọc dọc ngang.

    Vạch trời ngang một tiếng vang,

    Cho thân tan với giang san nước nhà.

    Đồng bào hỡi! – Con nhà Hồng Việt,

    Có thân mà chẳng biết liệu đời.

    Tháng này lần nữa đợi thời,

    Ngẩn ngơ ỷ lại ở người ai thương!

    Nay sóng gió bốn phương dữ dội,

    Có lẽ nào ngồi đợi mãi sao?

    Đồng bào chút giọt máu đào,

    Thương ơi tội nghiệp đời nào xót đây!

    Nên mau mau dậy ngay kẻo muộn!

    Mà xót thương đến chốn Nhị, Nùng.

    Xưa kia cũng lắm anh hùng,

    Dọc ngang trời đất vẫy vùng bể khơi.

    Xưa cũng có lắm người hào kiệt,

    Trong một tay nắm hết sơn hà.

    Nghìn thu gương cũ không nhòa,

    Mở mày mở mặt con nhà Lạc-Long.

    Non sông vẫn non sông gấm vóc,

    Cỏ cây xưa vẫn mọc tốt tươi.

    Người xem cũng dáng con người,

    Cũng tai cũng mắt ở đời khác chi.

    Cảnh như thế tình thì như thế,

    Sống làm chị, sống để làm chi?

    Đời người đến thế còn gì,

    Nước non đến thế, còn gì nước non.

    Nghĩ thân thế héo hon tấc dạ,

    Hồn hỡi hồn con Hồng cháu Lạc!

    Bấy nhiêu lâu đói khát lầm than.

    Bấy nhiêu thịt nát xương tan,

    Bấy lâu tím ruột thâm gan vì hồn.

    Hồn hỡi hồn kìa non nước cũ,

    Bấy nhiêu lâu mặt ủ mày châu.

    Bấy lâu ngậm tủi nuốt sầu,

    Bấy lâu hèn kém vì đâu hỡi hồn.

    Trông bốn bể bồn chồn dạ ngọc,

    Ngẫm năm châu khôn khóc nên lời.

    Đêm khuya cảnh vắng êm trời,

    Khôn thiêng chăng hỡi hồn ơi hồn về.

    Hồn về đừng mê mẩn nữa,

    Tính nết xưa phải sửa từ giờ.

    Hồn về hồn cố cho nhờ,

    Anh em Hồng-Lạc, cõi bờ Việt Nam.

    Hồn trở về chớ tham rượu thịt,

    Chớ tham nhà cao tít mấy từng.

    Kìa con chim ở tít trong rừng,

    Kiếm mồi đâu có lạc chừng quên cây.

    Hồn trở về đừng say gái đẹp,

    Mà nặng tình kẻ khép phòng thu.

    Đường đường một đấng trượng phu,

    Lẽ đâu hồn chẳng đền bù non sông.

    Hồn trở vể chớ mong giàu có,

    Mà ao ước xe nọ ngựa kia.

    Nghênh ngang áo mũ râu ria;

    Trăm nghìn năm vẫn còn bia miệng cười.

    Hồn cố về cõi đời chớ chán,

    Mà vội đem lòng nản việc trần.

    Bát cơm tấm áo manh quần,

    Hồn ăn hồn mặc nợ nần thế gian.

    Hồn trở về bấm gan mà chịu,

    Cảnh biệt ly tình hiếu đôi đường.

    Trượng phu trí ở bốn phương,

    Lẽ đâu hồn chịu vấn vương xó nhà.

    Hồn trở về nguyệt hoa chi nữa,

    Mà thoi đưa lần nữa tháng ngày.

    Xưa nay những kẻ tỉnh say,

    Lòng mê có nghĩ việc hay bao giờ!

    Hồn trở về chớ chờ sức yếu,

    Mà hồn không định liệu dọc ngang.

    Hoặc hồn bảo chẳng biết đàng,

    Hoặc hồn không muốn vội vàng làm ngay.

    Hoặc hồn sợ tay bay vạ gió,

    Mà hồn đành bỏ non sông.

    Hoặc hồn quen thói phục tòng,

    Mà hồn cam chịu cùng giòng ngựa trâu.

    Hoặc hồn thường cháo rau no đói,

    Mà hồn riêng mong khỏi cơ hàn.

    Hoặc hồn đã trải lầm than,

    Mà hồn bỏ mất cái gan tung hoành?

    Hoặc hồn ở thị thành phố xá,

    Hoặc hồn ở trong túp lều tranh,

    Hoặc hồn lẩn quất ở quanh sơn hà?

    Hoặc hồn ở nước nhà chật hẹp,

    Hoặc hồn đi ẩn nép nước người?

    Đêm khuya cảnh vắng im trời,

    Khôn thiêng chăng hỡi, hồn ơi hồn về!..

    Hồn trở về đừng mẩn mê nữa,

    Tính nết xưa phải sửa từ giờ.

    Hồn về, hồn cố cho nhờ,

    Anh em Hồng lạc, cõi bờ Việt-Nam.

    Còn chi sung sướng vẻ vang,

    Bằng đem da ngựa chiến trường bọc thây.


    Hồn trở về làm ngay ý muốn,

    Chớ rụt rè sớm muộn nào nên.

    Lẽ thường thành bại đôi bên,

    Chớ đo đắn quá mà quên việc mình.

    Hồn trở về hy sinh quyền lợi,

    Mà tận tâm đối với nước non.

    Dù cho thịt nát xương mòn,

    Cái bầu nhiệt huyết vẫn còn như xưa.

    Hồn trở về hồn mơ hồn mộng,

    Nên hồn thành giống ngựa giống trâu.

    Hồn về hồn kíp đòi mau,

    Tự do hành động mặc dầu dọc ngang.

    Hồn trở về bền gan dốc trí,

    Chớ có thèm cái vị cao lương.

    Tháng ngày dưa muối rau tương,

    Còn hơn rượu thịt mà nương nhờ người.

    Hồn trở về xoay trời đất lại,

    Hồn trở về tát hải đạp sơn,

    Chớ nề gió kép mưa đơn,

    Mà đem gan trọi với cơn phong thần.

    Hồn hỡi hồn xa gần nghe thấy,

    Thì vùng lên kíp dậy mà về!

    Hoặc hồn ở chốn thôn quê,

    Hoặc hồn ở phủ kia, lầu này?

    Nước non cũ bấy nay khao khát,

    Ngày ấy qua ngày khác lại qua.

    Mấy phen lệ nhỏ máu sa,

    Mấy phen xót xót xa xa lòng vàng.

    Mong hồn về hồn định không về.

    Non sông hồn bỏ lời thề,

    Cho non sông chịu cảnh trăm bề lầm than.

    Hồn hỡi hồn! – Giang san là thế,

    Giống Lạc-Hồng tôi kể hồn hay:

    Kể từ hồn lạc đến nay,

    Đêm đêm hồn khóc, ngày ngày than than.

    Cũng có kẻ trên ngàn đổ máu,

    Cũng có người nương náu nơi xa.

    Cũng người bỏ cửa bỏ nhà,

    Cũng người lo nghĩ tuyết pha mái đầu.

    Cũng có kẻ làm trâu làm ngựa,

    Cũng có người đầy tớ con đòi.

    Cũng thằng buôn giống bán nòi,

    Khôn thiêng chăng hỡi hồn coi cho tường!...

    Có mồm nói khôn đường mà nói,

    Có chân tay người trói chân tay.

    Mập mờ không biết dở hay,

    Ù ù cạc cạc công việc này kia.


    Hồn hỡi hồn! – Đêm khuya canh vắng,

    Hồn nghe hồn có đắng không?

    Tôi đây cũng giọt máu hồng,

    Cũng xương cũng thịt con Rồng cháu Tiên.

    Trông thấy cảnh mà điên mà dại,

    Trông thấy tình mà dại mà điên.

    Mà sao không thể ngồi yên?

    Sa câu gan ruột tôi biên mời hồn.

    Hồn nghe thấy nên chồn tấc dạ,

    Hồn nghe xong nên khá mà về.

    Chớ đừng tỉnh tỉnh mê mê,

    Chớ đừng đo đắn trăm bề sâu nông.

    Hồn trở về non sông nước cũ,

    Mà mau mau giết lũ tham tàn.

    Mau mau giết lũ hại đàn,

    Túi tham dám chưa bạc vàng của dân.

    Hồn trở về cho dân tỉnh lại,

    Không ngu ngu dại dại như xưa.

    Không còn khó nhọc sớm trưa,

    Không còn nắng nắng mưa mưa dãi dầu.

    Hồn trở về mau mau hồn hỡi!

    Hồn trở về tôi đợi tôi mong.

    Hồn về tô điểm non sông,

    Hồn về dạy dỗ con Rồng cháu Tiên.

    Ngọn gió lọt đèn tàn hiu hắt,

    Dân không còn nước mất sao còn?

    Hỡi hồn nước nước non non!

    Hồn về tôi sẵn lòng son giúp hồn.

    Tôi đây cũng không khôn cho lắm,

    Nhưng cũng không dại lắm cho nhiều.

    Tôi nay chỉ một lòng yêu,

    Nên mong nên mỏi nên chiêu hồn về.

    Hồn hỡi hồn! – Hồn về hồn hỡi!

    Hồn hỡi hồn! – Hồn hỡi hồn ơi!

    Đêm khuya cảnh vắng êm trời.

    Khôn thiêng chăng hỡi hồn ơi hồn về!

    Bút viết xong tai nghe miệng đọc.

    Miệng đọc xong giọt ngọc nhỏ sa.

    Nhỏ sa nên chữ hóa nhòa,

    Hóa nhòa nên mới in ra nghìn tờ.

    In nghìn tờ mà đưa công chúng,

    Công chúng xem mong bụng đổi dần.

    Đổi rồi thúc kẻ xa gần,

    Rằng mau nên trả nợ nần non sông!..


    Nhịp kèn thân ái

    Trong những ngày đen tối vừa qua của dân tộc Việt-Nam ta, có một số nhà cách-mạng phải bôn đào ở bên Thái-Lan như các cụ Đặng-thái-Dậu, Đặng-tử-Kính, Mai-lão-Bạng, Lưu-khai-Hồng, Bùi-chính-Lộ, Đặng-thúc-Hứa v.v... Do đó, tinh thần yêu nước của các cụ có ảnh hưởng rất sâu rộng trong khắp các từng lớp kiều bào bên nước láng giềng này.

    Theo lời các nhà ái quốc ở hải ngoại về, thì Việt-kiều ở Thái-Lan hầu hết hoạt động cách-mạng nên không muốn cho lãnh sự Pháp và nhà cầm quyền Thái biết được hoàn toàn con số cũng như lý lịch về từng người. Vì thế, đối với vấn đề số lượng Việt-kiều ở Thái-Lan, chánh quyền thực dân Pháp ở Đông-Dương trước đây không thể làm sao biết đúng được.

    Vật, các nhà cách mạng tiền bối của dân tộc ta ở bên ấy đã hoạt động ra sao, và làm thế nào để kêu gọi tinh thần ái quốc diệt thù của những anh chị em đồng bào nơi xa đất Tổ.

    Để thay vào việc trả lời câu hỏi trên đây, chúng tôi xin hiến quý bạn bài <> này là tác phẩm của một nhà cách mạng tiền bối đăn trên báo <> một tờ báo bí mật xuất bản ở Ban Noong-Bùa ở tỉnh Oudonne bên Thái-Lan năm 1928.


    Đã là người đứng trong trời đất,

    Ai là người không tai mắt thông minh.

    Có đầu óc biết nhục vinh,

    Cuộc đời há dễ làm thinh sao đành.

    Việc thế giới bất bình lắm nỗi,

    Vận nước nhà chìm nổi đòi phen.

    Người sang sao chịu ta hèn,

    Người đua ta phải đua chen với đời.

    Bước tiến thủ lấy ai chỉ đạo,

    Cờ tiền phong có báo đưa đường.

    <> kêu vang.

    Gọi người đang lúc canh trường chiêm bao.

    Hỡi xa gần kiều bào năm vạn,

    Cánh bèo trôi, chiếc nhạn lạc đàn.

    Lòng mình tự hỏi mình xem,

    Đêm khuya tờ báo ngọn đèn với ta.

    Đồng bào hỡi tỉnh chưa? chưa tỉnh?

    Thù non sông ta tính sao đây.

    Đoàn là bạn, báo là thầy, (1)

    Được thua hơn thiệt tính bày dạy nhau,

    Nhớ lấy câu máu chảy ruột mềm.

    Lòng mình tự hỏi mình xem,

    Lắng tai nghe lấy nhịp kèn gọi ta!...

    (1) Đoàn là đoàn thể. Báo là báo chí



    Khóc Phạm-Hồng-Thái

    Phạm-hồng-Thái chính tên Phạm-cao-Đài (lại có tên nữa là Phạm-thành-Tích). Ông sinh năm 1901 là con trai cụ Huấn-đạo Phạm-cao-Điền ở làng Xuân-Nha, tổng Văn-viên, phủ Hưng-nguyên tỉnh Nghệ-an (Trung Việt).

    Ông là người có chí khí cách mạng, nên đang học ở trường quốc học Vinh, bỏ ra Bắc làm trong nhà máy xi-măng của Pháp ở thành phố Hải-phòng để hoạt-động. Năm 1922, ông cùng một số đồng chí xuất dương qua Xiêm rồi qua Tàu. Tại Quảng-đông, ông được các nhà cách mạng kết nạp vào Việt-Nam Nghĩa hiệp đoàn, một tổ chức cách mạng sơ khai thời bấy giờ.

    Khi tên Merlin, toàn quyền Đông-dương sang Nhật trở về ghé Quảng-đông, Nghĩa hiệp đoàn quyết định tiêu diệt kẻ thù của dân tộc.

    Trong cuộc hội nghị, ông Thái xung phong lãnh trách nhiệm, và được toàn thể anh em tán thành, giao phó cho công việc.

    Giả làm phóng viên nhiếp ảnh của một tờ báo Tàu, ông vào được tô giới Pháp ở Sa-diện và đem bom theo trong người được tới khách-sạn Vực-đa-duy-Á, nơi đãi tiệc Merlin.

    Bom nổ, tên trùm thực dân này không chết. Nhưng ảnh hưởng làm chấn động cả dư luận hoàn cầu..

    Còn về phần ông thì bị lính tô giới đuổi bắt rất ngặt, khi chạy đến sông Châu-giang, ông mượn dòng nước xanh để kết liễu cuộc đời. Lúc ấy khoảng độ 9,10 giờ đêm ngày 19 tháng 6 năm 1924. Ông Phạm-hồng-Thái mới 23 tuổi.

    Thi hài ông được các nhà cách mạng Trung-hoa táng chung vào nghĩa địa Hoàng-hoa-Cương với 72 vị liệt sĩ tiền-phong cách mạng Trung-hoa dân quốc. Trước mộ, có tấm bia đá khắc <>

    Bài <> này là của cụ Đặng-tử-Kính một bực cách mạng tiền bối cùng thời với các cụ Phan-tây-Hồ, Phan-sào-Nam. Cụ xuất dương qua Tàu, qua Xiêm hoạt động, sau mất tại đây.

    Theo các nhà cách mạng, cụ viết bài này ở Phi-Chịt (Xiêm) vào dịp các Việt-kiều ở đây làm lễ kỷ niệm Đệ-tam chu-niên liệt sĩ Phạm-hồng-Thái, tức năm 1928.


    Nước Việt-Nam bốn ngàn năm có lẻ,

    Bẩy mươi năm đáo để lầm than,

    Mịt mù một áng khí oan,

    Sông sôi máu chảy non chan lệ sầu.

    Hồn liệt sĩ ù ù gió quạt,

    Dạ ah hùng tím ngắt lá gan.

    Nhớ xưa người ở Nghệ-An,

    Là Phạm-hồng-Thái cả gan anh hùng.

    Thẹn vì nước mắc vòng tôi tớ,

    Giận Mặc-lanh (Merlin) là đứa gian hùng,

    Ra tay một tiếng sấm vang,

    Năm châu dậy đất Mặc-lanh đi đời.

    Tám giờ tối tàu binh ghé lại,

    Hắn lần lên Sa-Diện rong chơi.
  • Chia sẻ trang này