0087.0011

11/4/16
0087.0011
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}

    quân sự đại-học Chấn-Vũ). Sau về Tàu, cụ giúp cách-mạng Tàu và làm đến chức Dinh trưởng (Thiếu tá) trong bộ Tham-Mưu của Trung-hoa Dân-quốc ở Bắc-Kinh.

    Tuy xa thế, làm việc như thế, nhưng đối với thời cuộc nước nhà cụ vẫn luôn luôn lóng tai để mắt về. Và bài này cũng là những cảm súc của cụ, của một nhà cách mạng bôn ba nơi hải ngoại ở trước những biến cố, những tai họa máu xương đang liên tiếp xảy ra trên cảnh đất nước nhà.


    Thường khi ngoảnh mặt về Nam,

    Trông về cố quốc chạnh niềm giang sơn.

    Tưởng trong nước đang cơn khủng bố,

    Đồng bào mình thân có ra chi.

    Thịt dao cá thớt thôi thì,

    Phen này mặc sức quân Tây chặt vằm.

    Chốn ngục thất ngàn trăm oan khuất,

    Thịt heo kềm da đứt với roi.

    Côn-lôn, Lao-bảo mấy người,

    Chân rừng góc bể là nơi chết già.

    Lại đến kẻ đem ra hành tội,

    Giữa pháp trường một lưỡi gươm theo.

    Thân bảy thước nhẹ bao nhiêu,

    Hồn chiến sĩ, đạn bay vèo cái xong !

    Nghĩ mình cũng đồng trong thanh khí,

    Cũng đồng tâm, đồng chí với ai.

    Cũng yêu giống, cũng thương nòi,

    Cũng chèo non nước, cũng vai sơn hà.

    Sao ai chịu vô vàn cực khổ,

    Mà thân ta lại được an toàn.

    Thân này tạm được bình an,

    Dám đâu yên hưởng mà sờn chí xưa.

    Làm sao có một lúc nào,

    Thúc ran nhịp trống dương cao ngọn cờ.

    Về đánh đổ Lang-sa đế quốc,

    Để trả thù rửa nhuốc anh cha.

    Lưỡi gươm Tây đã giết ta,

    Bây giờ ta lại quay mà giết Tây.

    Lại giết luôn cả bầy tẩu cẩu,

    Chịu cam tâm thờ lũ quốc cừu.

    Phá cách mạng, giết đồng bào,

    Gây nên khủng bố phong trào ngày nay.

    Mới hả dạ người nơi lũy tiết,

    Mới thỏa hờn ai chết trước mình.

    Mới không phụ chí bình sinh,

    Mới không uổng cái công trình xuất dương.

    Nôm na chắp vá mấy hàng,

    Xin người trong hội đoạn trường biết cho.



    Tống ôn thần


    Nói đến Vi-văn-Định, Tổng-đốc Thái-Bình trước, hẳn đồng bào ta không mấy ai không biết y ta là một con quỷ khát máu, một tên tay sai rất đắc lực của chính quyền Pháp ở Bắc-Việt.

    Kể cái tội tàn dân hại nước, phản nhân đạo của y thì thật khó có bút nào mà tả ra cho siếc.

    Vì thế người Pháp mới tặng y “đệ tam đẳng Bắc-đẩu bội tinh” và chính-phủ Nam triều của Bảo Đại mới gia cho y hàm “Thái tử thiếu bảo, hiệp tá đại học sĩ” để đáp lại “công lao”.

    Còn đồng bào, nhất là đồng bào tỉnh Thái-Bình, nơi y ngồi trấn nhậm, thì tặng cho y chức “ôn thần”, nên khi rời khỏi Thái-Bình để đi thay Hoàng-Trọng-Phu làm Tổng-đốc Hà-Đông, một chí sĩ vô danh mới có bài “Tống ôn thần” này phổ biến trong đồng bào và dán ở trước dinh Tổng-đốc Thái-Bình để tiễn chân y đi.

    Các bạn đọc bài này sẽ thấy trong những năm làm Tổng-đốc Thái-Bình, y đã đem lại những gì cho đồng bào tỉnh này để xứng đáng làm “quốc gia lương đống” cùng “dân chi phụ mẫu”... Và khi tiễn chân y đi, những người trong hạt đã phải “bùi ngùi nhớ tiếc” đến bực nào !...


    Vi trùng dịch tả đại-nhân,

    Ngài nên hiểu thấu tình dân Thái-bình.

    Thái-bình lắm nỗi bất bình,

    Vì đói khổ phải biểu tình năm xưa.

    Trả lời súng bắn như mưa,

    Chín, mười mạng chết còn chưa hả lòng.

    Lại còn đốt phá lung tung,

    Đồng-nho, Thanh-giám([1]) chỉ trong mấy giờ.

    Trâu bò gạch ngói trỏng trơ,

    Đống tro vô đạo bây giờ còn nguyên.

    Lời căm tức, tiếng rủa nguyền,

    Mấy năm nay vẫn còn truyền tụng nhau.

    Mùa này lúa lại bị sâu,

    Lấy gì nộp thuế nuôi nhau lúc này.

    Quan ông ngài tỉnh hay say ?

    Mà không hiểu thấu tình này cảnh kia.

    Lại còn vênh váo mũ hia,

    Lại còn báo hại dân quê Thái-bình.

    Lại còn kiếm chác từng trinh,

    Còn muốn bữa tiệc linh đình tiễn đưa.

    Vi-trùng dịch tả hiểu chưa ?

    Mấy nghìn phù thủy ([2]) phải đưa tiễn ngài.

    Số tiền góp một gấp hai ; ([3])

    Mấy nghìn bạc ấy của ai hỡi ngài ?

    Chúng tôi đoán nếu không sai,

    Sẽ rút ruột ngắn ruột dài của dân.

    Ơi ôn-thần, hỡi ôn-thần !

    Sao không biết nhục tấm thân râu mày ?

    Liệu mà xa chạy cao bay,

    Đừng quen kiếm chác vùng này nữa đâu !

    Gánh gồng vội cút cho mau !


    Vĩnh biệt các bạn ở trong tù

    của Nguyễn-hữu-Tiến một nhà cách mạng ở Nam-Việt bị bắt trong cuộc bạo-động năm 1940, làm trước giờ từ biệt các bạn ở trong tù để lên đoạn đầu đài.


    Tử biệt hôm nay có mấy lời,

    Giã từ các bạn khắp nơi nơi.

    Tinh thần gởi lại cùng non nước;

    Thù hận tung ra ngập đất trời.

    Nợ mới đô thành thôi phủ sạch ;

    Duyên xưa hải đảo hết mong rồi.

    Thăm nhau xin mượn con đường mới,

    Trong giấc mộng vàng sẽ gặp nhau.

    Khuyến cáo quốc dân ca


    Bài này của một nhà cách mạng Việt-Nam ở Đông-Kinh (Nhật-Bản) viết giùm cho Kỳ-ngoại-hầu Cường-Để gửi về khuyên đồng-bào nên thừa cơ hội trận Thế-giới đại chiến thứ hai, đứng dậy đánh đuổi thực dân Pháp để giành lại chủ quyền và đất đai, nhất là các anh em ở trong quân-đội Pháp nên quay mũi súng lại để diệt thù cứu nước.

    Kỳ-ngoại-hầu là cháu 5 đời Đông-cung Hoàng-tử Cảnh, con ông Hàm hóa hương công. Năm 1888, sau khi vua Hàm-Nghi bị bắt đày đi Phi-Châu, cụ Phan-đình-Phùng sai ông Hồ-quý-Châu bí mật về Huế đem ông ra thay làm Thủ-lĩnh để hiệu triệu quốc-dân. Nhưng đi đến nửa đường, ông Hồ mắc bệnh chết, ông phải trở lại. Khi ấy Kỳ-ngoại-hầu mới có 13 tuổi.

    Năm 1903, ông được cụ Phan-bội-Châu và các đồng chí cách mạng cử là hội-trưởng Việt-Nam Quang-phục Hội. Năm 1905, cụ Đặng-tử-Kính bí mật đưa ông sang Nhật học trường Chấn-võ lục quân. Năm 1908, các nhà cách mạng Việt-Nam bị chánh phủ Nhật trục xuất, ông phải qua Tàu, qua Xiêm, trở về Nam-Việt, và đi sang Âu-Châu. Sau một thời gian bôn ba, ông lại trở qua Nhật. Lần này ông được một yếu nhân Nhật là Thủ-tưởng Khuyển-dưỡng-Nghị bao bọc và giúp đỡ. Khi Nhật đảo chánh Pháp ở Đông-dương, người ta tưởng ông sẽ được Nhật cho về để thay ông Bảo-Đại. Nhưng mộng ấy bất thành. Rồi sau trận thế chiến thứ hai mấy năm ông mất tại Nhật, di cốt được đem về nước vào khoảng năm 1956.

    Bài “Khuyến cáo quốc-dân ca” này viết vào khoảng năm 1944, và theo các nhà cách-mạng thì cũng là một bức tâm thư cuối cùng được ký tên ông để gửi về nước vậy.


    Nước mất 80 năm rồi đó

    Quốc dân ta có nhớ hay không ?

    Kìa xem các nước Á-Đông,

    Diến, Phi đều đã thoát vòng Mỹ Anh !

    Chỉ còn có một mình ta đó

    Vẫn để cho Pháp nó đè đầu.

    Pháp kia còn có chi đâu,

    Từ ngày thua Đức đã hầu diệt vong.

    Gọi là nước thật không thành nước,

    Ấy thế mà vẫn được trị mình.

    Vẫn còn bạo ngược hoành hành,

    Mà ta lại vẫn trung thành lạ thay.

    Làm nô lệ đến ngày nào nữa ?

    Đến ngày nay chưa biết chán sao ?

    Hỡi hăm lăm triệu đồng bào !

    Chuyện ta ta phải tính sao bây giờ !

    Chẳng lẽ cứ ngồi chờ đến chết

    Giương mắt trông của hết dân cùng.

    Bảo nhau phải hết một lòng

    Phen này ta quyết chẳng dong quân thù.

    Ông cha trước bình Ngôn, sát Thát

    Nòi giống mình hèn nhát chi đâu !

    Sao ta lại chịu cúi đầu,

    Làm tôi tớ Pháp như trâu như bò !

    Mình khốn khổ ấm no chẳng đủ,

    Riêng sướng cho một lũ Tây đầm.

    Ai người có chút lương tâm,

    Nghĩ nông nỗi ấy cũng bầm tím gan.

    Nhiều kẻ vì thăng quan tiến chức

    Mà lỡ tâm bán nước hại nòi.

    Vị tiền lại cũng lắm người,

    Cơ hồ khắp nước chim mồi chó săn.

    Ai có chi cứu dân cứu nước,

    Thì lũ này sủa trước chẳng tha !

    Hỡi anh em chị em ta,

    Hiến thân cho nước mới là quốc dân.

    Pháp nó cậy có quân có súng,

    Động ti chi giết sống người mình.

    Thực thì khố đỏ khố xanh,

    Trừ bọn quan Pháp, toàn anh em nhà.

    Sao không biết đảo qua đánh nó.

    Nếu đồng tâm có khó chi đâu.

    Người mình mình chớ hại nhau,

    Xin quay ngọn súng trỏ đầu thằng Tây.

    Nay mai sẽ có ngày khởi sự,

    Các anh em xin chớ ngại ngần.

    Dốc lòng vì nước vì dân,

    Giúp ta ngoài sẽ có quân hùng cường.

    Nay dân tộc da vàng hợp sức,

    Đánh đuổi người áp bức bấy lâu.

    Đồng tâm ta phải bảo nhau,

    Có ra sức mới ngóc đầu được lên.

    Này ! những kẻ có tiền có của,

    Chớ của mình mình giữ khư khư.

    Đem tiền giúp nước bây giờ,

    Có công là sẽ có lời lãi to.

    Chẳng hơn cứ bo bo từng cuộn,

    Rồi đến thành giấy lộn vứt đi.

    Làm giàu cũng phải khéo suy,

    Trước là vì nước sau là bản thân.

    Nay cơ hội đã gần tới đó,

    Quốc dân ta xin cố sức lên.

    Nhất là nam nữ thanh-niên,

    Chớ quên cứu nước là thiên chức mình.

    Đừng say đắm hư vinh vật chất,

    Sự vui chơi nên vứt hết đi.

    Kìa trông hai nước Diến Phi,

    Họ đã độc-lập còn mình thì sao ?

    Không lẽ chịu thuộc vào Pháp mãi,

    Xiềng xích này ta phải phá ra.

    Ta không cứu lấy nước nhà,

    Khó mong cái sự người ta cứu mình.

    Phải quyết chí hy sinh phấn-đấu,

    Vì tự-do rơi máu cũng đành.

    Hãy vào “Phục Quốc Đồng-Minh”.

    Góp thêm sức mạnh làm thành việc to :

    Tranh độc lập, tự do cho nước,

    Cho nước mình cũng được như ai.

    Đứng trên thế giới vũ đài,

    Từ đây cũng có mặt người Việt-Nam.

    Bốn mươi năm đi làm việc nước,

    Thân già này chưa được truyện chi.

    Tuổi nhiều nhưng sức chưa suy,

    Thủy chung vì những lo vì nước non.

    Cũng chẳng tưởng đến con đến của,

    Cũng không mong làm chúa làm vua.

    Chỉ mưu đánh đuổi quân thù,

    Để gây dựng lại cơ đồ nước ta.

    Bởi vì thế bỏ nhà sang Nhật,

    Mấy mươi năm nếm mật nằm gai.

    Đã hay thành bại tại trời,

    Gắng công cũng phải tại người mới nên.

    Vậy nay có lời khuyên thành thực,

    Xin quốc dân hợp sức đồng lòng.

    Người xuất của, kẻ xuất công,

    Người ngoài vận-động, người trong thực hành.

    Sẽ có kẻ giúp mình thêm nữa,

    Việc phen này nếu sợ không xong.

    Cốt sao ta phải hết lòng,

    Thành công sẽ chỉ trong vòng năm nay.


    Lá huyết thư cuối cùng


    Nội dung bức thư này là lời của cụ Hoàng-hoa-Thám, người anh hùng dân tộc kháng chiến ở Yên-Thế, gửi cho cha nuôi là Bá-Phức để dứt tình phụ tử.

    Cụ Thám tục gọi là Đề-Thám, quê ở Bắc-Giang, một tỉnh miền Thượng-du Bắc-Việt. Trước sung vào đội Nghĩa quân chống Pháp rồi theo cha nuôi là Bá-Phức lên Vân-Nam vận động mau khí giới và chiêu mộ binh sĩ. Khi trở về, cụ Thám theo ông Cai-Kinh chống Pháp ở Lạng-sơn. Sau ngày ông Kinh tử trận, cụ thu thập Nghĩa quân đánh phá suốt vùng Vũ-Giang, Quế-Dương, Hiệp-Hóa, Việt-Yên, v.v...

    Thanh thế ngày càng rộng. Thấy dẹp mãi không được, thực dân Pháp mới phối-hợp việc hành quân với công tác chính trị. Tổng-đốc Lê-Hoan được cử ra đặc biệt hành-động chia rẽ, ám sát các cán bộ và tuyên truyền khủng bố dân chúng.

    Năm 1893, Lê-Hoan dụ hàng được Bá-Phức. Vì ham tiền của giặc, Bá-Phức đã phản lại cả tình nghĩa núi sông và luôn cả tình nghĩa cha con. Vâng lệnh của giặc và của tên phản quốc Lê-Hoan, Bá-Phức đem tạc đạn giấu theo trong mình vào chiến khu cụ Thám, lấy nghĩa cha vào thăm con, để thừa cơ hội gài tạc đạn giết con, lấy công dâng “nhà nước bảo hộ”.

    Nhưng âm mưu bại lộ, cụ Thám tương kế tự kế, mai phục đánh úp. Quân Pháp và lính khô xanh bị thiệt hại rất nặng. Thời gian này vào khoảng tháng 5 năm 1894.

    Nguyên do câu truyện là thế, và bài “Lá huyết thư cuối cùng” này là của ông Nguyễn-mậu-Chi, một nhà Nho ở Nam-Định (làm cách mạng bị Pháp bắt đày đi Côn-đảo) nhân sự tích viết ra với mục đích để kích thích tinh thần yêu nước diệt thù của các bạn thanh niên.

    Trước đây có một số người vẫn lầm cho là của Tố-Hữu. Nhưng hoàn toàn không đúng. Theo anh em chánh trị phạm được giải-phóng năm 1945 thì bài này ông Chi viết tại Côn-đảo vào khoảng năm 1944.


    Đọc mấy lời trong bức thư cha nhủ,

    Giòng lệ con hoen ố mảnh nhung y.

    Nhớ ngày nào mang chí lớn ra đi,

    Trong dĩ vãng cha ghi nhiều kiêu hãnh.

    Kìa lưỡi kiếm máu kẻ thù còn dính,

    Mà anh hùng tim lạnh bởi hư vinh.

    Trong phong ba vùng vẫy bóng nghê kình.

    Ham mồi ngon ủ rũ chốn chuồng con.

    Bả vinh hoa làm mất cả tâm hồn,

    Và lay chuyển cả lòng son dạ sắt.

    Mây Hồng-Lĩnh con mịt mù u uất,

    Sông Nhị-Hà còn chứa chất căm hờn.

    Thì đời con là của cả giang sơn,

    Dù thịt nát xương tan đâu dám kể.

    Rồi những lúc cha vui vầy vị kỷ,

    Là khi con rầu rĩ khóc non sông.

    Đêm canh trừng cha nệm ấm chăn bông,

    Nơi rừng thẳm con nằm gai mến mật.

    Cha hít thở hương trầm bát ngát,

    Pha lẫn mùi máu thịt của lê dân.

    Thì mũi con nghẹt thở, cổ khô khan,

    Tan vẳng tiếng hồn oan trong thảm cảnh.

    Cha, nơi ngực đầy mề-đay kim khánh,

    Con, bên sườn lấp lánh kiếm tiên cừu.

    Cha say mê bên thiếu-nữ yêu kiều,

    Con tận tụy với tình yêu tổ quốc.

    Nghĩa là cha đem tài năng trí óc,

    Mưu vinh thân là mục đích cuối cùng.

    Thì con thề đem xương trắng máu hồng,

    Ra cứu vớt non sông là chí nguyện.

    Cha với con thế là hai trận tuyến,

    Cha một đường mà con tiến một đường.

    Thôi từ đây hai chữ cang thường,

    Con mở rộng để dâng thờ Tổ quốc.

    Buổi đoàn viên thôi cha đừng mong ước,

    Cuộc hội đàm là đại bác thần công.

    Bức thơ đây là bức cuối cùng,

    Mà cha chỉ là cha trong dĩ vãng.

    Thôi hạ bút cho thâm tình gián đoạn,

    Để người đời kết án kẻ gian phi.

    Thanh gươm thần ta tuốt sẵn chờ khi...


    Nhật Hoàng khóc Hít-Le


    Bài này không biết tác-giả là ai mà chỉ biết là một bài thơ trào phúng nhái theo bài cụ tam-nguyên Yên-Đổ khóc cụ nghè Vân-đình Dương-Khuê và làm vào khoảng tháng 6 năm 1945, khi nghe tin quân Đức bại trận, trùm quốc xã Hitler tự tử... để mỉa mai cái tham vọng định chia nhau làm bá chủ hoàn cầu của bè lũ gây chiến.

    Nội dung tuy không sâu sắc lắm, nhưng đọc lên, chúng ta vẫn thấy vẫn còn giá trị để rót vào tai cho những kẻ đang bước vào vết xe đổ của bọn Trục : Đức, Ý, Nhật trong thế chiến vừa qua.


    Hít-Le thôi bác toi rồi !

    Bom bay đạn nổ tơi bời lòng ta...

    Nhờ từ thuở xông pha ngày trước,

    Trục Tam cường tôi bác cùng nhau.

    Tưởng rằng nuốt chửng năm châu,

    Ai hay lụn bại biết đâu cơ trời.

    Cũng có lúc hẹn lời liên kết,

    Cũng có khi gầm thét cùng nhau.

    Gớm ghê từ trước đến sau,

    Liệt oanh chẳng biết trên đầu có ai.

    Vốn đã biết bỏ đời là phải,

    Vội vàng chi bác phải ra ma.

    Chợt nghe tôi những xót xa,

    Đương thân bách thắng hóa ra thua dồn.

    Cờ chữ “Vạn” không còn phấp phới,

    Ai người đem thế giới nhuộm đen ?

    Máu tanh không có bạn hiền,

    Say sưa không khỏi không phiền không lo

    Thơ phát-xít đắn đo muốn viết,

    Viết đưa ai, ai biết mà đưa ?

    Trời Âu vừa tạnh gió mưa,

    Sóng dồn biển Thái, khổ chưa hỡi trời !

    Quân đổ bộ khắp nơi tua tủa,

    Thành Đông-Kinh khói lửa mịt mùng.

    Nào Nga nào Mỹ tấn công,

    Nào Trung-Hoa cũng quyết không chịu lùi.

    Bác biết trọn cái đời của bác,

    Trục, mình tôi gánh vác sao đang.

    Sóng dâng ngập cả ngai vàng,

    Khóc tôi khóc bác hai hàng chứa chan...









    [1]Hai làng ở Thái-Bình bị họ Vi triệt hạ.

    [2]Những tay sai của Vi và những quan lại hương chức dưới quyền Vi.

    [3]Mỗi người đi tiễn chân Vi phải góp 4 đồng và phải vào cửa 4 đồng nữa là tám.
  • Chia sẻ trang này