1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0088.4.0002 @Socnho (Soát xong, Wiki)

23/2/16
0088.4.0002 @Socnho (Soát xong, Wiki)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    #0088.4.0002

    Đánh máy: ngoctinhpham


    Những câu đối từ một chữ đến ba chữ gọi là câu tiểu đối

    Những câu đối năm chữ hay bảy chữ, thuộc về thể Thơ, nên gọi là câu đối thơ.

    Những câu đối bốn chữ hay sáu chữ cũng là câu đối thơ, vì thơ cũng có lối tứ ngôn và lục ngôn. Nhưng những câu ấy không theo luật thơ.

    Những câu đối tám chữ, thì cho thuộc về thể thơ hay thể phá cũng được.

    Những câu đối chín từ giở lên thuộc về thể song phú (Song-quan, cách-cú) nên gọi là câu đối phú.

    Câu đối phú thường chia làm hai đoạn, hoặc đoạn trên ngắn bốn, năm chữ, đoạn dưới dày bảy, tám chứ, hoặc đoạn trên dài bảy, tám chữ, đoạn dưới ngắn bốn, năm chữ.

    Những câu đối dài có khi có đến sáu, bảy mươi chữ cũng thuộc về hạng câu đối phú.

    Những câu đối bất-cứ mấy chữ mà lấy chữ sẵn ở trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào đối lại thì gọi là câu đối súc.

    Luật bằng trắc. – Cứ kể, thì đáng nhẽ chữ vế bên này trắc thì chữ vế bên kia phải bằng, hay chữ vế bên này bằng, thì chữ vế bên kia phải trắc. Thí dụ:

    Tôi tôi vôi

    Bác bác trứng

    Ba chữTôi tôi vôi bằng cả đối với ba chữ Bác bác trứng trắc cả.

    Lác-đác mưa sa làng Hạ-vũ

    Ỳ ầm sấm dậy đất Xuân-lôi

    Lác-đác trắc đối với Ỳ-ầm bằng, mưa bằng đối với sấm trắc, sa bằng đối với dậy trắc, làng bằng đối với đất trắc, Hạ-vũ trắc đối với Xuân-lôi bằng.

    Nhưng cái luật không bắt-buộc bao giờ cũng phải nhất-định như thế. Lắm khi những chữ ở trong câu bằng đối với bằng, trắc đối với trắc cũng được. Thí dụ:

    Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo

    Nhân tình trắng thế lại bôi vôi

    Thiên bằng đối với nhân cũng bằng, xác trắc đối với trắng cũng trắc cũng được.

    Những câu đối thơ, thì luật bằng, trắc theo như luật bằng, trắc hai câu thực sự hay hai câu luận trong bài thơ và cũng được cái lệ thứ nhất, tam bất-luận.

    (Xem rõ những biểu luật bằng trắc trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào Nam thi hợp tuyển quyển 1 trang 12, 13, 14 và 15).

    Những câu đối tám chứ không còn về thể thơ, mà cũng chưa vào thể phú, nên luật bằng trắc có khi theo thể thơ, có khi lại theo như phú. Thí-dụ:

    Thánh-tổ bảo Thánh-tôn ra mở nước.

    Thần hồn nát thần tính chạy về nhà.

    Câu này cho là theo thể thơ được vì nó thuộc về thể thơ bát ngôn và đi quán một hơi, thì chỉ cốt ở chữ cuối câu đúng bằng, trắc cũng được.

    Mười rằm giăng náu, mười sáu giăng treo.

    Tháng chạp sấm ra, tháng ba sấm dậy.

    Như câu này, thì lại cho như là thể phú, vì người ta có thể ngắt làm hai đoạn mà chấm đậu ở sau chữ náu và chữ ra, mà hai chữ ấy phải trắc đối với bằng,bằng đối với trắccũng như hai chữ ở cuối câu mới được.

    Những câu đối từ chín chữ giở lên, thì những chữ ở cuối câu, cùng những chữ ở các cuối đoạn trong câu, có thể chám đậu được, thì phải theo bằng trắc cho đúng. Thí dụ:

    Mở khép càn khôn có ra tay mới biết.

    Ra vào tướng tướng thử liếc mắt mà coi.

    Mỗi câu có hai đoạn, có thể chấm đậu – tức như bây giờ đúng phẩy (,) chấm phẩy (;) hay hai chấm :)) – ở dưới chữ khôn (vế trên) và dưới chữ tướng vế dưới, thì hai chữ ấy cùng hai chữ cuối câu là chữ biết với chữ coi phải theo đúng bằng, trắc.

    Lại nên nhận, nếu đoạn trên chữ cuối bằng, thì đoạn dưới chữ cuối phải trắc, hay trái lại, đoạn trên chữ cuối trắc, thì đoạn dưới chữ cuối phải bằng.

    Như câu trên đây đoạn trên chữ cuối <> bằng, thì đoạn dưới chữ cuối <> trắc (vế trên), đoạn trên chữ cuối <> : trắc, thì đoạn dưới chữ cuối <> : bằng.

    Những câu đối phú mà hoặc đoạn trên, hoặc đoạn dưới bảy chữ, thì đoạn bảy chữ ấy theo bằng, trắc như câu thơ thất-ngôn. Thí dụ:

    Cung kiếm ra tay, thiên-hạ đổ dồn hai mắt lại.

    Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một người thôi.

    Như hai câu đây, đoạn dưới bẩy chữ là: <> đối với <> theo đúng luật bằng, trắc của thơ.

    Những câu đối phú chia làm nhiều đoạn, thì những chữ cuối cả bao nhiêu đoạn trên mà bằng, thì chữ cuối đoạn dưới cùng phải trắc; trái lại những chữ cuối cả bao nhiêu đoạn trên trắc, thì chữ cuối đoạn dưới cùng phải bằng. Thí dụ:



    Đám công danh có chí thì nên: ơn làng giấy trắng, ơn vua giấy vàng; chiếu trung đình ngất-ngưởng ngồi trên, ngôi trên chỉ có cũng là rất đáng.

    Nhờ phúc ấm sống lâu lên não: anh cả bàn năm, anh hai bài sáu; đàn tiểu-tử xênh-xang múa trước, tranh tam-đa ai khéo vẽ lên tranh.

    Mỗi câu đấy chia làm bốn đoạn. Vế trên, ba chữ cuối đoạn trước là : nên, vàng, trên bằng, thì chữ cuối đoạn cùng là đáng phải chắc ; - Vế dưới, ba chữ cuối đoạn trước là : lão, sáu, trước trắc, thì chữ cuối đoạn sau cùng phải là tranh bằng.

    Những câu đối dài năm, bảy mươi chữ cũng theo luật bằng, trắc như những câu đối phú, nghĩa là những chữ cuối các đoạn có thể chấm đậu phải đúng bằng đối với trắc, trắc đối với bằng.

    Nhưng có khi không theo đúng như thế cũng được. Cần nhất là chữ chấm đậu trước đoạn cuối cùng thế nào cũng phải giữ cho đúng bằng, trắc thì thôi.

    Khổ độc. – Khổ độc tức là đọc không được xuôi tai. Như trong một câu, chữ đáng bằng mà làm ra trắc, hay chữ đáng trắc mà làm ra bằng thế là khổ độc.

    Mười mấy khoa còn gì, nhờ giời có phúc, có phận.

    Năm mươi tuổi thành tài, mừng ông càng dẻo, càng dai.

    Vế trên, chữ cuối đoạn trên <> đã bằng vế dưới chữ cuối cùng đoạn trên <> cũng bằng.

    Thất luật. – Câu đối, mà vế trên chữ cuối cùng đã trắc, vế dưới chữ cuối cùng lại trắc, hay vế trên chữ cuối cùng đã bằng, vế dưới chữ cuối cùng cũng lại bằng, thế gọi là thất luật. Thí dụ:

    Lúa tám, gặt chín tháng một.

    Nồi tư, mua năm quan sáu.

    Vế trên chữ cuối <> đã trắc, vế dưới chữ cuối <> cũng trắc.

    Câu đối chính mình làm cả hai vế, thì vế trên chữ cuối cùng bao giờ cũng phải trắc. Cho nên câu đối treo bao giờ cũng treo vế trắc bên tay phải, mà tay phải của người đứng ở ngoài quay vào trong nhà.

    Nhưng khi mình ra một vế cho người ta làm, thì chữ cuối câu trắc hay bằng cũng được.

    Một câu đối hay. – Một câu đối hay thì:

    Tư-tưởng phải cho tự nhiên,

    Ý-nghĩa phải cho minh bạch.

    Mạch-lạc phải liên tiếp.

    Nhưng vì câu văn đối ít chữ, cho nên một câu đối hay lại rất cần ở những chữ dùng và âm-hưởng các chữ ấy.

    Chữ dùng trong câu đối cốt phải cho:

    Chỉnh, nghĩa là đều nhau, bằng nhau,

    Như chữ danh-từ phải đối với danh từ: nhân đối với nghĩa, - hình-dung từ phải đối với hình-dung từ: xanh đối với vàng, hay đỏ; động-từ phải đối với động-từ: ăn đối với uống, - phó từ phải đối với phó từ: vô-cùng đối với bất-trị vân vân.....

    Cân, nghĩa là chữ nặng phải đối với chữ nặng, chữ nhẹ phải đối với chữ nhẹ cho xứng đáng.

    Như sắc phải đối với sắc: trắng đối với đen, vị đối với vị: chua đối với ngọt, số đếm đối với số đếm: năm đối với tám, chữ Nôm đối với chữ Nôm: tao đối với nó, chữ Hán đối với chữ Hán: Hạ-vũ đối với Xuân-lôi, thành ngữ đối với thành ngữ: sắn váy quai cồng đối với buông quần lá tọa, tục ngữ đối với tục ngữ: lắm kẻ yêu hơn nhiều người ghét đối với một câu nhịn là chín câu lành v. v.....

    Khi nào các chữ đối như đối đầu hẳn được với nhau Phật đối với ma, ngườiđối với vật, hay đối với dở, lành đối với, giầu sang đối với nghèo khổ như thế thì nói là đối chọi nhau.

    Âm hưởng các chữ dùng trong câu thì phải cho giòn, nghĩa là khi đọc lên, tiếng nge kêu sang-sảng.

    CÂU ĐỐI TOÀN NÔM

    CÂU ĐỐI TẾT

    1. – THỊT MỠ - CÂY NÊU
    Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ.

    Cây nêu, tràng pháo, bánh trưng xanh.

    Hai câu đối này không ai là không thuộc, không ai là không, hàng năm, cứ tối ba mươi Tết, được nghe trẻ nó nghêu-ngao ở trước cửa, nó tán tụng chúc mừng xong, rồi nó xó đối, nó đối một câu, là cái câu kết bài Khóa-sắc, khóa xẻ của chúng nó.

    Tết là cái gì? Cái gì làm nên tết? – Hay chẳng qua, rút lại, Tết chỉ ở một cái mồm được ăn thịt mỡ với dưa hành, với bánh chưng, tai được nghe tiếng pháo nổ, mắt được trông cây nêu giồng ở ngoài sân, ngoài ngõ? - Ấy Tết đấy. Cái đặc-tính của Tết chỉ có thế. Không lạp-xường, không hạt dưa, không sì-gà, li-cơ vẫn không mất Tết, chớ không thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng, không cây nêu, tràng pháo, đôi câu đối, thì không còn có cái gì là Tết.

    Nên câu đối này, tuy rất tầm thường, mà thực sự đã dựng hẳn được cảnh Tết, vẽ được rõ cái cách ăn Tết của cả dân-tộc Việt-Nam ta.

    Về mặt văn, thì dễ chỉ có chữ đỏ đối với chữ xanh là như có vẻ sắc. Còn thì tinh là những chữ danh-từ chỉ mấy từ đồ-vật chắp lại cho đi với nhau mà thôi.

    Vế dưới đôi câu đối này, hoặc có người còn đọc: <> thay vào bốn chữ <> Đọc như thế, không được chỉnh, vì chữcao là hình-dung từ, chữ nổ là động-từ mà đối với chữ mỡ chữ hành là danh từ không được chỉnh Thịt-mỡ dưa hành, là hai danh-từ kép, thì lại phải đối với cây nêu, tràng pháo cũng là hai danh-từ kép thì mới cân.

    Tuy vậy cái phép làm câu đối cho là: Nêu cao, pháo nổ, cũng được. Vì nếu cho như thế, thì thịt mỡ đối với dưa hành mà nêu cao đối với pháo nổ. Cái phép đối mấy chữ vế trên đối với mấy chữ cũng vế trên và mấy chữ vế dưới lại đối với mấy chữ vế dưới như thế gọi là Tiểu đối.

    Trong nhiều câu đối chữ Hán, người ta thường dùng lối tiểu đối ấy.


    2 – DUYÊN – NỢ

    Duyên với giang sơn nên dán chữ.

    Nợ gì giời đất phải giồng nêu.

    Câu này người ta tương truyền là của Bà Huyện Thanh-quan là để dán trước nhà về dịp Tết.

    Vế trên nói chính về việc dán câu đối ngày Tết cho như mình có duyên với nước non nhà mình thì mình phải kiếm chữ để biểu hiện cái duyên ấy ra.

    Còn vế dưới nói về sự giồng nêu, mà chữ nợ, là lấy cái điển, Tết đến, người ta sở dĩ giồng nêu, là do cái tục cổ muốn giữ cho quỷ không dám đến đòi đất của người ở, chỗ nào có cây nêu cắm là đất của nhà Phật, cây nêu tức đã như cái mốc phân địa giới đất của Phật với đất của ma quỷ vậy.

    Chữ nợ đối chữ duyên chỉnh lắm. Hai chữ giời đất, tuy là nôm, đối với hai chữ giang sơn nghe cũng được, vì hai chữ giang sơn tuy là chữ Hán nhưng ta dùng đã quen, cho như là nôm cũng được.


    3. – THIÊN HẠ - NHÂN TÌNH

    Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo.

    Nhân tình trắng thế lại bôi vôi.

    Thiên-hạ tức là thế-giới; xưa cho rằng giời ở trên, đất ở dưới, nên gọi tất cả chỗ dưới gầm giời gọi là thiên hạ. Lại vì cái nhẽ đời xưa giao thông không được rộng, nên người ta thường xưng người một nước cũng là thiên-hạ; như người Tàu xưng thiên-hạ tức là xưng Trung-quốc vậy.

    Xác: kiệt hết cả, không còn gì nữa. – Nhân-tình: tình nghĩa người ta. – Bôi vôi: cái tục ngày Tết hay rắc vôi bột xuống đất làm hình cung, tên, bàn cờ.

    Đôi câu đối này là của ông Trần Kế Xương, mà có nhẽ là câu hay nhất trong cả bao nhiêu câu của ông. Ông cũng là nhân Tết mà ngâm vịnh, song câu của ông đây, không phải là vì vui, nhưng vì buồn mà ông ngâm. Hai câu cảu ông đã như hai nhời than vãn rất đau đớn vậy. Chao ôi! Túi đã rỗng, nợ như đìa, sơ như giộng, xác như vờ, mà Tết đến, còn cố lo tiền để mua pháo! Đáng tiếc thay một sự tiêu phí trong cơn bấn túng, - Khốn chửa! Con cãi cha, vợ đánh chồng, tôi đánh chủ, anh em, bè bạn lừa lọc nhau luôn, nhân-tình đã bạc thế, lại còn bôi vôi vào cho nó bạc thêm là sao! Đáng thương con người đã ở vào cái đời bạc, lại cứ làm cho bạc thêm!

    Cái ý ông Tú cay đắng như thế, nên câu văn của ông rất thảm-đạm. Hai câu văn đây thật giản-dị, bình thường, nhưng thật là gọn gàng sâu-sắc, khiến cho người ta đáng ngâm đọc luôn, mà cũng khiến cho người ta, Tết đến, nên viết vào giấy đỏ mà dán lên tường để tỏ chút lòng ưu thời, mẫn thế vậy.


    4. – AI NẤY – TA NAY

    Ai nấy dại vô-cùng, pháo pháo, nêu nêu kinh như quỷ.

    Ta nay nhàn bất trị, chè chè rượu rượu sướng bằng tiên.


    Nói pháo, nêu, rượu, chè, thế là đúng với cảnh ăn Tết. Nhưng cái cảnh ăn Tết đây, tác-giả chia rẽ ra làm hai đàng khác xa nhau.

    Một đàng ăn Tết, chỉ cốt pháo đốt cho kêu, nêu giồng cho cao, không phải để vui chơi gì, nhưng chỉ vì sợ quỉ, muốn đuổi quỉ cho xa. Thiên-hạ ăn Tết thế, là thiên-hạ dại lắm, vì ăn Tết theo lối mê tín dị đoan, chỉ nhữn quỉ với ma, có đâu nghĩ đến chính người.

    Còn một đàng ăn Tết, lại chỉ lấy một người làm cốt, cầu cho người tha-hồ được nhàn vui sung sướng. Nào chè cho ngon, nào rượu cho say, chè rượu, rượu chè thỏa thích mấy ngày Tết thật sướng bằng tiên. Ta ăn Tết thế, là ta biết hưởng nhàn, ta khôn đáo để, vì Tết chẳng qua là cái dịp để cho người biết cùng vui với con Tạo với cái tiết Xuân mới êm-đềm, đầm-ấm vậy. Ăn Tết cách này, tức là ăn Tết của các nhà tri-thức.

    Về mặt đối, được những chữ vô-cùng đối với bất-trị, quỷ đối với tiên, thật là chọi và nghe giòn lắm.

    5. – THIÊN HẠ DẠI – NAY ÔNG KHÔN

    Thiên-hạ dại vô cùng, pháo nổ đì đùng thêm mất chó.

    Ông nay khôn bất-trị, rượu say túy lý lại lắm mèo.

    Hai câu này người ta cho là của cụ Nguyễn Khuyến làm và đại-để cũng gần giống như hai câu trước.

    Câu trên cụ nói thiên-hạ dại về cái gì? – Dại về cái đốt pháo, pháo nổ điếc tai, nhức óc đã không có ích chi mà lại thêm cái thiệt nữa, là chó nó sợ, nó trốn đi mất.

    Câu dưới cụ nói cụ khôn về cái gì? – Khôn về cái để tiền mua rượu uống, uống đến say bét-nhè, rồi nằm một xó chẳng công truyện gì cả.

    Cứ kể đến cái dại của thiên hạ như thế cũng chưa phải là thực dại, mà cái khôn của cụ như thế cũng chưa gọi là thực khôn. – Đây chắc cụ có ý than đời, cái đời bây giờ, dù Tết đến, được gì là vui, mà còn đốt pháo ầm-ỹ như bộ lấy làm mừng-rỡ lắm. Chẳng thà, Tết đến, cứ rượu say rồi nằm ỳ một chỗ gác hẳn truyện đời ra ngoài cho xong. Nhưng dám hỏi những ai thanh nhàn được như cụ và cho ai cũng được thanh nhàn như cụ, thì phỏng có ích gì cho đời chăng?

    Hai câu đối nhau thật chỉnh không phải chữ nào là ép cả. Khôn đối với dại, bất-trị đối với vô-cùng, rượu say đối với pháo nổ, mèo đối với chó, thật hay không còn gì hơn nữa. Lại được cái âm-hưởng, câu trên đùng đi với cùng, lại câu dưới lý đi với trị nghe giòn và khoái lắm.

    Bất-trị nghĩa là không trị nổi, không ai bàng được nữa.

    Túy lý: nói say lắm, say khướt không biết gì nữa.

    Nằm mèo: nằm xuống không có việc gì làm cả.


    6. – TỐI BA MƯƠI – SÁNG MỒNG MỘT

    Tối ba mươi, khép cánh kiền khôn, ních chặt lại kẻo Ma-vương đưa quỉ tới.

    Sáng mồng một, lõng then tạo-hóa mở toang ra cho Thiếu-nữ rước xuân vào.

    Kiền khôn: kiền còn đọc là càn, càn (chữ Trung Quốc) quẻ trong bát quái chỉ giới. –Khôn(chữ Trung Quốc) quẻ bát quái chỉ đất. Hai chữ càn khôn thường dùng nghĩa là giời, đất. Đây nói cánh cửa là cánh kiền khôn vì Tết đến, ở một cánh cửa thường người ta viết hai chữ Càn khai(chữ Trung Quốc) nghĩa là giời mở, còn một cánh người ta viết hai chữ Khôn hạp(chữ Trung Quốc) nghĩa là đất đóng – Ních: đóng nêm thật chắc. – Ma-vương: theo bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào Phật, là loài quỉ giữ cho người ta không được làm điều lành Ma-vương chính là kẻ cừu của đức Thích-ca. Nói Ma-vương đưa quỉ là do cái sự mê tín xưa cho cứ ngày Tết ma quỉ đem nhau đến thế-gian để nhũng nhiễu loài người, tự tối hôm 30 đến ngày mồng bảy là ngày lễ Khai hạ tức là ngày thuộc về người (nhân nhật) thì mới thôi. – Tạo hóa: nói giời đất gây dựng lên vạn-vật trong thế gian. Lóng then tạo-hóa: tức là mở lỏng then cửa ra. – Mở toang: mở tung hết cả cửa ra. – Thiếu nữ: người con gái nhỏ, tức là chỉ người làm hai câu đối này là một bạn gái. Thiếu nữ rước xuân: tức là nói tác-giả đón Tết, Tết ăn về mùa xuân hay gọi là tân xuân (chữ Trung Quốc), mùa xuân mới (đúng nghĩa chữ renouveau).

    Hai câu này của thiếu nữ Xuân-Hương làm để dán nhà vào dịp Tết. Ta cứ xem ngay mấy chữ ních chặt, mở toang thì cơ thể chắc là cái giọng văn của nàng họ Hồ không sai được. Vế trên, ra cái ý kín đáo, khép nép, giữ gìn, sợ hãi bao nhiêu, thì vế dưới lại ra cái ý long-leo, phóng-túng tha hồ mà vui-vẻ.

    Chữ nào đối cũng cân xứng, già-giặn cả.


    7. – CHIỀU BA MƯƠI – SÁNG MỒNG MỘT

    Chiều ba mươi, nợ hỏi tít-mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.

    Sáng mồng một, rượu say túy-lý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.

    Vế trên, nói hôm ba mươi Tết, thì rõ ra một kẻ cùng-kiết, nợ như chúa Chổm, hết sức mà đuổi cái Nghèo ra khỏi cửa.

    Vế dưới, nói hôm mồng một Tết, lại rõ ra một người phong-lưu, rượu tít cung thang, gắng công mà đón lấy sự Hạnh-phúc vào được nhà.

    Hai câu này là của cụ Nguyễn Công Trứ làm vào dịp Tết. Mà lúc bấy giờ, chắc cụ đang gặp cái cảnh bấn túng khốn khổ đáng nên than thở lắm. Nhưng dù thế nào lòng cụ cũng vẫn chứa chan hi-vọng rồi làm nên sự-nghiệp to. Bởi vậy, cũng một đôi câu đối mà mỗi vế diễn ra một cái tư-tưởng trái hẳn nhau. Cái tiểu sử của cụ thực chứng rõ như thế, trước cụ lừng danh công-tử xác bao nhiêu, thì sau cụ lại nổi tiếng trượng- phu kềnh bấy nhiêu.

    Hai câu này thật đối chan-chát từng chữ, chữ nào cũng cân xứng già-giặn lắm. Chiều, sáng – co cẳng, giơ tay, - đạp, bồng, - thẳng, ông, - cửa, nhà là những tiếng phản nghĩa rất tương-đương.

    Tít-mù: nhộn-nhịp rối-rít cả trước mặt. – Cẳng: đồng nghĩa với chân – Bần: chữ bần (chữ Trung Quốc)là nghèo – Túy lý: nếu có phải là hai chữ Hán túy lý(chữ Trung Quốc), thì là nói trong lúc say, còn ta thường dùng lấy cái nghĩa là say lắm, say khướt không biết gì nữa – Phúc: đây tức là hạnh phúc(chữ Trung Quốc) sự may mắn sung-sướng.


    8. – BẬT CẦN NÊU – ĐÙNG TIẾNG TRÚC

    Bật cần nêu đem mới lại cho mau, già, trẻ, gái, giai đều sướng khiếp.

    Đùng tiếng trúc đuổi cũ đi đã đáng, cỏ, hoa, non, nước cũng mừng xuân.

    Đôi câu đối dán Tết này người ta cho là cụ Chiêu Lỳ làm. Câu đối làm về dịp Tết nhiều không biết bao nhiêu mà kể, nhưng được như hai câu này, tưởng cũng mà hiếm, đáng nên ghi chép vậy.

    Tóm lại hai ý câu thật đủ cả: Nêu pháo, (trúc, tức là pháo), - tống cựu: (đuổi cũ đi đã đáng), nghênh tân (đem mới lại cho mau) – mọi hạng người đều vui về Tết (già, trẻ, gái, giai đều sướng khiếp), - cả vạn vật cũng lấy Tết làm vui (cỏ, hoa, non, nước mừng xuân).

    Ý-tứ đã đủ, dùng lại nhanh-nhẹ và có sức mạnh lắm. Nói cần nêu mà hạ chữ Bật, nói pháo nổ, mà hạ chữ Đùng, - nói tống cũ mà hạ chữ đuổi, lại đệm hai chữ đã đáng, nói rước mà hạ chữ đem lại đệm thêm hai chữ cho mau, - nói vui mà hạ những chữ sướng khiếp, mừng xuân, bấy nhiêu chữ thật nàng bốc đưa đẩy cả câu khiến cho thâm nhập vào óc người ta một cách dễ-dàng mà mạnh-mẽ vậy.

    Chữ đối cũng chọi nhau không chữ nào ép cả.


    9. – BẦU MỘT CHIẾC – NHÀ HAI GIAN

    Bầu một chiếc lăn chiêng, mặc sức: Tam dương khai thái.

    Nhà hai gian bỏ trống, tha hồ: Ngũ phúc lâm môn.

    Bầu tức là bầu rượu. – Lăn chiêng: bỏ ngả-nghiêng. – Tam dương khai thái: (chữ Trung Quốc)ba khí dương mở sự thịnh vui, Tam dươngtức là chỉ tháng một nhất dương sinh. – Bỏ trống: bỏ không, không có đồ-đạc gì cả. – Ngũ phúc lâm môn:(chữ Trung Quốc) năm điều phúc tới cửa. Năm điều phúc là: Thọ (sống lâu), phú (giàu có), khang ninh (mạnh khỏe, yên vui), du hiếu đức (ưa làm việc phúc đức), khảo chung mịnh (sống cho hết số mệnh, nghĩa là chết già).

    Hai câu này không có gì là lỗi-lạc. Tổng ý chỉ nói một ông nhà nghèo không có gì, và ông chỉ cốt lấy rượu chè làm thích. Tết đến ông cứ bỏ mặc cả, rồi mà xuân, rồi phúc mà đấy. Nhưng được cách đặt câu thật là nhanh-nhẹ, gọn-gàng và chữ dùng cũng rất khéo. Phần trên câu, thì là những chữ nôm thường đối với nôm thường. Phần dưới dẫn mấy chữ Hán lại đối với mấy chữ Hán, mà những chữ ấy là những chữ Tết người ta vẫn viết ra giấy đỏ mà dán ở cánh cửa như câu đối, hay dán ở trên dầm chỗ cửa bước ra bước vào như là bùa vậy. Lăn chiêng đối với bỏ trống nghe được; Mặc sức đối với tha hồ lại hay hơn, còn Tam dương khai thái đối với Ngũ phúc lâm môn rất chỉnh.


    10. – LÁ PHƯỚN – TIẾNG CHUÔNG

    Lá phướn phất ngang giời, bốn bể đều trông nêu Phật.

    Tiếng chuông kêu dậy đất, mười phương cùng tưởng pháo sư.

    Ai đọc câu này cũng biết ngay là câu của nhà sư làm để dán chùa vào dịp Tết. Mà nhà sư ấy là một người có tài văn-chương, lại có chí tang bồng lắm.

    Tết đến, ở chùa, nhà sư cũng giồng nêu như các nhà thường, nhưng trên cây nêu, đặc biệt lại có lá phướn, mà lá phướn ấy phất ngang giời đâu đó bốn bể đều nương vào bóng được cả.

    Tết đến, ở chùa, nhà sư cũng đốt pháo, nhưng khác nhà thường, là tiếng pháo của nhà sư không phải là tiếng đì-đạch ở cuộn giấy đỏ, giấy xanh nổ ra, mà là tiếng chuông đồng inh-ỏi vang lừng, chuyển động cả mười phương trên mặt đất.

    Những chữ chuông, phướn, Phật, sư, - mười phương (trong kinh Phật hay có câu <>) thế là nhắc rõ là câu đối của sư làm để dán trước nhà Phật. Còn những chữ: ngang giời, dậy đất, - bốn bể thế là tỏ được nhà sư tuy ở trong tăng-gia mà có cái chí đại-lộ bao-la được khắp cả trần-gian.


    11. – DOANH QUAN LỚN – TIẾT BA MƯƠI

    Ông Nghè Tân, lúc bấy giờ đang làm Tổng-đốc nức tiếng là hay Nôm. Tối ba mươi Tết, ông Nghè Cốc giả làm học-trò nghèo, vào xin ăn, xin tiền. Ông nghè Tân tưởng là học trò nghèo thật nhân nhà có thừa cỗ, gọi dọn ra cho ăn uống tử-tế, rồi bảo ra cho đôi câu đối, hễ đối được thì mới cho tiền. Câu rằng:

    << Doanh quan lớn gọi là Dinh, võng lọng, hèo hoa ngù giáo đỏ, quân kiệu sắp hàng đôi.>>
    :rose::rose::rose:

Chia sẻ trang này