1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0088.4.0003 @Socnho (Soát xong, Wiki)

10/3/16
0088.4.0003 @Socnho (Soát xong, Wiki)
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    #0088.4.0003

    Đánh máy: LiemNT



    Ông Nghè Tàn ăn uống no-nê rồi, nửa tỉnh nửa say, gật-gù đọc đối lại rằng:

    « Tiết ba mươi gọi là Tết, chè lam, bánh chưng nhân đậu xanh, dưa hành đánh miếng một. »

    Tiếng dinh nôm gốc ở chữ doanh [] ra. Về phép binh chế, thì cứ năm trăm người là một doanh. Sau chữ doanh là tiếng dinh của ta dùng để chỉ nơi các quan ở. ̶ Hèo hoa: thứ trượng, gậy của nhà quan thường lằm bằng trúc có vằn lên như hoa. Ngủ: nắm cước ở trên một cái hèo hay cái giáo ̶ . Quân kiệu: tức là quân khiêng kiệu.

    Tiếng Tết nôm vốn ở chữ Tiết [] mà ra . Tiết tức là thời tiết. Theo âm-lịch một năm có tám tiết là lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông, xuân phân, thu phân, hạ chí, đông chí. Tết Cả thuộc về Tiết Lập xuân. ̶ Chè lam: thứ chè làm bằng đường và đậu xanh giã và nấu đặc.

    Câu của ông Nghè Tân rõ ra phô cái bề hách dịch của một vị quan sang. ̶ Câu của ông Nghè Cốc đối lại rõ ra tả cái cảnh đói khó của một anh học-trò kiết.

    Vì cái tình cảnh mà nên văn, câu văn thế là chân thật . Câu ra đã hay mà câu đối cũng khéo. Chữ doanh là chữ Hán lại đối với chữ tiết cũng là chữ Hán, chữ dinh là chữ Nôm ở chữ doanh ra lại cũng đối được với chữ Tết là chữ Nôm ở chữ Tiết ra, thế là dụng công phu lắm; ̶ Chữ đỏ đối với chữ xanh , sắc đối với sắc thế là cân; ̶ Chữ hành đối với kiệu lấy ý củ hành đối với củ kiệu thế là chọi; ̶ Hàng đôi đối với miếng một , số đếm đối với số đếm thế là chỉnh.

    Tựu trung phải chữ chè lam là chỉ có một thứ chè đối với võng, lọng là hai đồ vật khác nhau, bánh chưng nhân đậu cũng chỉ là một thứ bánh với nhân nó mà đối với cái hèo hoa và cải ngù của giáo là hai binh khí khác nhau không được xứng.


    CÂU ĐỐI MỪNG

    12. ̶ ĐÁM CÔNG DANH – NHỜ PHÚC ẤM

    Đám công danh, có chí thì nên, ơn làng giấy trắng, ơn vua giấy vàng, chiếu trung đình, ngất-ngưởng ngồi trên, ngôi tiên- chỉ đó cũng là rất đáng.

    Nhờ phúc ấm, sống lâu lên lão, anh cả bàn năm , anh hai bàn sáu,, đàn tiểu tử xêng-xang múa trước, tranh tam đa ai khéo vẽ cho nên

    Công danh: nói làm nên danh tiếng. Chữ trong Chiến-quốc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào:« Thành công-danh vu thiên hạ. ». ̶ Ơn làng giấy trắng: Khi được người làng tín-nhiệm bầu cho làm một việc gì, thì thường đem cấp cho một cái giấy tức như cái bảng, mà dùng giấy trắng. ̶ Ơn vua giấy vàng: sắc vua ban cho phẩm hàm, chức tướng thường dùng giấy sắc vàng.—Trung đình: nghĩa đen là trong đình ̶ Tiên-chỉ: tiên: trước, chỉ: giấy: nói người tên đứng trước, đứng trên hết cả mọi người trong làng. ̶ Phúc ấm: Phúc: những sự lành như giầu, sang sống lâu; Ấm: nghĩa đen là bóng cây , nghĩa mượn là che-chở; Phúc-ấm là nói phúc đức của cha mẹ để lại cho mình được hưởng đã như che-chở cho mình nương nhờ vậy. ̶ Bàn năm, bàn sáu: bàn thứ năm, thứ sáu theo trật-tự chỗ ngồi ở tại đình làng khi hội họp cỗ bàn. ̶ Xêng-xang: có ý nói xúng xính ta đây. ̶ Tam đa: Tam: ba, đa: nhiều; nhời chúc tụng cho người ta được ba cái nhiều: nhiều phúc, nhiều thọ, nhiều con giai. Người Tàu thường vẽ tranh hay nặn hình ba người: môt người mũ cao áo chùng, một người râu tóc bạc phơ, một người bồng đứa con, để bày tỏ cái ý tam đa. Cũng có người cho tam đa là: phúc, lộc, thọ, lấy lộc tức là có chức-tước làm quan làm tư thay vào đa nam.

    Đôi câu đối này, là của cụ Nguyễn-Khuyến làm để mừng, mà mừng chính cụ, về cái dịp cụ lên lão, ăn thọ năm mươi hay sáu mươi gì đấy.

    Đại ý câu này phất-phưởng cũng giống như câu « Quan chẳng quan » (xem câu số 42 dưới). Vế trên nói cụ ăn tiên-chỉ, cụ chiếm cái địa-vị cao nhất trong làng, ̶ Vế dưới nói nhà cụ đông-đúc anh em, con cháu, cụ được hưởng toàn cả ba cái nhiều ở đời. Ý nghĩa đã tương-tự, chữ dùng cũng trùng-kiến. Trong câu cũng thấy nhắc những chữ : Chiếu Trung đinh, ngất-ngưởng ngồi trên, đàn tiểu tử như câu « Quan chẳng quan » vậy.

    Về phần đối thì câu này nghe được vui tai lắm. Tựu-trung cũng phải mấy chữ : thì nên đối với lên lão, nặng nhẹ không được cân, trắng vàng đốt với năm, sáu không chỉnh, vi là màu sắc đối với số đếm . Lại phải câu trên đã có thì nên, câu dưới lại có cho nên hai chữ nên thế là trùng-kiến.

    13. MƯỜI MẤY KHOA – NĂM MƯƠI TUỔI

    Mười mấy khoa còn gì, nhờ giời có phúc, có phận

    Năm mươi tuổi mới đỗ, mừng ông càng dẻo càng dai

    Câu này người ta nói là của ông Bùi-Hoàn (?) làm thay vợ để mừng chính khi mình đổ cử-nhân. Kể thì không có ý vị gì hay. Nhưng được hai câu thành-ngữ : có phúc có phận, đối với càng dẻo càng dai dẫn vào cũng khéo. Câu này lại lưu lại được cho ta cái ảnh các cụ xưa thi hỏng hàng những mười mấy lần ba năm, dù đến năm mươi tuổi mới đỗ, mà cũng chưa lấy gì là muộn.

    14. ̶ TRÊN QUAN – TRONG HỌ

    Một người mới được làm lý-trưởng, có cụ cử làm đôi câu đối mừng rằng :

    Trên quan dưới dân sao cho trên thuận dưới hòa, lắm kẻ yêu hơn nhiều người ghét.

    Người làng trong họ quý hồ ngoài êm trong ấm, một câu nhịn là chín câu lành.

    Hai câu này, tuy không có gì đặc-sắc, nhưng cái ý thật tóm đủ cả bổn-phận của người đương chức lý-trưởng đối với quan, với dân, với làng, với họ, phải thế nào. Một đôi câu đối mừng mà thực rõ là một bài châm, tưởng người nhất lý chi trưởng lúc nào cũng nên treo trước mắt để ghi nhớ luôn trong bụng vậy.

    Được mấy chữ Trên-dưới. ̶ ngoài, trong, thuận, hòa, ̶ ấm, êm đứng-đắn và thuần-thục. Đáng khen nữa là hai câu tục-ngữ dẫn vào cứng-cát và ăn nghĩa lắm.

    15. ̶ NHẤT CẬN THỊ ̶ SỐNG Ở LÀNG

    Một người chánh-tông bị cách, sau lại được phục sự và nhân tiện làm nhà mới. Có người nhà đến xin cụ Nguyễn-Khuyến đòi câu đối để mừng . Cụ làm cho rằng :

    Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa khả phong, giai tị ốc.

    Sống ở làng, sang ở nước, mừng ông nay lại vểnh râu tôm .

    Cận thị : gần chợ. ̶ Cận giang : gần sông. ̶ Thử địa: đất này. ̶ Khả phong giai tị ốc: nhà nấy, nhà khác đều đáng phong cả. ̶ Nhất cận thị, nhị cận giang: [] câu tục-ngữ dịch nghĩa thứ nhất gần chợ, thứ nhì gần sông, vì gần chợ, gần sông, thì buôn bán và đi lại được thuận tiện có lợi cho mình.:rose::rose::rose: ̶ Khả phong giai tị ốc: câu này lấy chữ « Tị ốc khả phong » [] trong kinh Thư , nghĩa thẳng là liền nhà khả phong và có ý nói đời Nghiêu, Thuấn phong-tục thuần hậu, nhà nào nhà nấy đều đáng khen cả.

    Sổng ở làng, sang ở nước: câu tục-ngữ ý nói người ta sinh trưởng ở chốn làng mạc và vinh hiển ở khắp cả nước. ̶ Vểnh râu tôm: nói râu tủa cứng ra như râu con tôm.

    Vế trên toàn là chữ Hán. Vế dưới toàn chữ Nôm. Nhưng câu: Nhất cận thị nhị cận giang, tuy là chữ Hán, song ta dùng quen lắm có thể coi như là chữ nôm vậy. Câu tục ngữ của Tàu ấy đối với câu tục-ngữ ta : Sống ở làng, sang ở nước, tuy phải hai chữ nhất, nhị đối với sống, sang không được chỉnh, nhưng cũng là nghe được. Còn đoạn dưới : thử địa khả phong giai tị ốc mà đối với mừng ông nay lại vểnh râu tôm thì ta không biết cho là hay hay dở. Ta chỉ nhận chữ thử đối với mừng, phong đối với lại, vểnh đối với giai, tị đối với râu không được cân.

    Còn ý-tưởng hai câu này, thì câu trên nói về việc làm mới, câu dưới nói về việc phục sự như đắt chi lắm.

    16. ̶ CÓ TẬT ̶ ĐỨT TAY

    Có tật giật mình, cứu bệnh như cứu hỏa.

    Đứt tay hay thuốc, làm phúc như làm giàu.

    Ai đọc đôi câu đối này cũng biết là câu của thầy lang làm để dán nhà hay người ta làm để mừng thầy lang.

    Quả vây, câu trên nói đến bệnh tật, câu dưới nói đến thuốc thang, cái chức-vụ của thầy lang chẳng phải là bốc thuốc cho hay để chữa bệnh cho chóng, mà chữa bệnh là làm phúc, làm phúc tức lại là làm giàu là gì !

    Hai câu này, tách ra từng chữ, được cân xứng cả không phải chữ nào non, ép. Khéo là hai câu, cùng toàn lấy ở phương-ngôn, tục-ngữ ra, mà xa gần cũng thể ghép về việc làm thuốc được.

    Cứu bịnh như cứu hỏa : ý nói chữa bệnh phải cần kíp như chữa cháy. ̶ Đứt tay hay thuốc : Sách – Tả truyện có câu : « Tam triết quăng, tri vi lương y » nghĩa là ba lần gãy tay rồi mới biết làm thầy lang hay.

    CÂU ĐỐI PHÚNG

    17. ̶ KIẾM MỘT . ̶ XIN ĐÔI

    Có ông lão hàng xóm bảo con kiếm một coi giàu sang thưa với cụ Nguyễn Khuyến để xin một đôi câu đối về dán thờ ông bà, ông vải. Cụ Nguyễn – Khuyến nghe rõ cả. Nên lúc người con ông lão đem cơi giàu sang, cụ bảo : « Thôi ta không phải nghĩ gì nữa. Đôi câu đối ấy chính lão nhà anh đã làm xong rồi, để ta đọc cho mà chép lại.»

    Rồi cụ đọc rằng :

    Kiếm một cơi giàu thưa với cụ

    Xin đôi câu đối để thờ ông .

    Ông bảo lão đi xin câu đối về thờ , thế là trong tâm kính cẩn lắm. Cụ Yên-đổ nhắc lại những tiếng chính ông lão đã dùng mà bảo đã thành câu đối rồi, thì hình như cụ ra dáng xem thường, xem khinh quá. Nhưng không phải. Cụ làm như thế là cụ có ý muốn dạy rằng câu đối, câu đá mà cả mọi thứ văn-chương, chẳng qua cũng chỉ là những tiếng rất thường chắp lại với nhau mà thành, miễn là biết khéo xếp cho đúng luật thì thôi.

    Cứ thưc thể vế câu đối thờ tổ tiên, thì câu này không có gì là hay . Hoặc chỉ có mấy chữ ông, cụ và cơi giầu là diễn được cái ý cúng lễ tổ tiên mà thôi.

    18. ̶ GIẦU LÀM KÉP ̶ CÁ KỂ ĐẦU

    Giầu làm kép, hẹp làm đơn , tống táng cho yên hồn phách mẹ.

    Cá kể đầu, rau kể mớ, tình tang thêm tủi lũ đàn con.

    Đọc hai câu này ai cũng rõ ngay là hai câu của con là ả-đầu làm để thờ mẹ mới mất. Quả vậy trong hai câu này, ta lược thấy bao nhiêu chữ chị em thường dùng trong nghề hát xướng. Nào đầu, nào kép, nào phách, nào đàn, nào cả đến tiếng đàn tinh tang, tống, táng nữa.

    Chữ đã khéo nhặt được đủ và đối-đáp với nhau như thế, nghĩa dùng trong từng chữ và nghĩa cả câu giải ra nghe cũng xuôi lắm.

    Giầu làm kép, hẹp làm đơn (1) : câu – tục ngữ đây ý nói tùy của nhiều , ít mà làm ma, nhiều tiền thì ma to, ít tiền thì ma nhỏ, Tống-láng []


    [​IMG]
    1. Câu này có người cho là « Dày làm kép, hẹp làm đơn », và nghĩa là như vải lụa, tùy dày mỏng mà dùng làm áo kép, hay áo đơn. Nhứ thế thì được chữ kép đáp lại với chữ dày, nhưng dưới lại phải chữ đơn đáp lại chữ hẹp hông cân. Lại phải nói mỏng làm đơn mới xui được.
    Cho yên hồn phách [] mẹ : đưa ma cho hồn phách mẹ được yên.

    Cá kể đầu, rau kể mớ : cũng câu tục-ngữ, đây có ý nói mẹ mất đi, bây giờ con cái phải tính toán cặn kẽ không tiền đâu mà rặng tiêu như trước. Tình tang [] thêm tủi lũ đàn con : tình nghĩa con chôn mẹ lấy làm cực khổ lắm.

    Trong hai câu này có mấy chữ đối nhau như kép, đơn đối với đầu, mớ cùng là số đếm, mẹ đối với con hát chỉnh.

    [​IMG]

    19. ̶ MẸ SINH CON ̶ CON CHỞ MẸ

    Mẹ sinh con cánh ác, bóng gà, một tháng bốn mươi nhăm ngày thế mãi.

    Con chở mẹ mũ gai, áo bả, ba năm hai mươi bảy tháng mà thôi.

    Cánh ác : ác : con quạ, ̶ giống quạ che-chở cho con dữ lắm , hễ có việc gì nguy hiểm đến tổ, hại được các con là nó lấy cánh đánh rất dữ. Bóng gà : ý nói gà mẹ cho gà con nương nhờ dưới bóng, để che chở cho con. ̶ Mấy chữ cánh ác, bóng gà là nói cái lòng mẹ nuôi con thật tận tâm, kiệt lực vậy. ̶ Một tháng bốn mươi nhăm ngày : một tháng ta chỉ có 29 hay 30 ngày, nhưng đây nói tháng 45 ngày, là nói quá mạnh lên cốt ý cho rằng ngày nào cũng thế, hay quá thế nữa, chớ không ngày nào là ngày không . ̶ Mũ gai : mũ làm bằng sợi gai ̶ Áo bả : chúng tôi chưa được rõ áo bả là thế nào. Có người cho là thứ áo làm bằng bả gai để chở đại tang tức là áo quầy. Ba năm hai mươi bảy tháng : ba năm thì 36 tháng hay có năm nhuận 37 tháng. Ta thường nói tang cha mẹ, gọi là đại-tang, phải để ba năm, nhưng thực ra chỉ có hai năm và 3 tháng là 27 tháng mà thôi. Câu này có ý ngược với câu 1 tháng 45 ngày vì đây rút lại chứ không phải rôi ra.

    Hai câu này, công trên cốt ý nói công mẹ đối với con thực là đầy, mẹ săn sóc trông nom con đến con không lúc nào nhãn ; câu dưới lại cốt ý nói con biết ơn mẹ thực là bạc, khi mẹ mất có để tang cho mẹ thì lại mong cho chóng hết. Một bên hậu bao nhiêu đối với bên kia bạc biết mấy ! Ý của hai câu thực như đã nhắc lại câu phong-dao-cổ :

    « Mẹ nuôi con bằng giời bằng bể »

    « Con nuôi mẹ, con kể từng ngày »


    [​IMG]
    ̶ NGHÌN NĂM ̶ NHÌN TUỔI

    Nghìn năm bia đá, bảng vàng, tiếc thay người ấy !

    Trăm tuổi răng long, đầu bạc, khổ lắm con ôi !

    Hai câu này của cụ Nguyễn-Khuyến khóc con, mà con đã đổ phó-bảng.

    Vế trên nói con đỗ đạt như thế mà sao vội mất, thật là đáng tiếc !

    Vế dưới nói chính cụ tuổi già yếu mà còn phải khóc con, thật là đáng thương. Bốn chữ « Khổ lắm con ôi ! » ở vế dưới thật là thống thiết, đọc nghe tưởng như dao sắc xả mấy miếng thịt ra vậy.


    [​IMG]
    21. ̶ ĐẤT CHẲNG ̶ GIỜI MÀ.

    Một thầy đồ xứ Nghệ, vợ mấy, làm đôi câu đối khóc vợ rằng :

    Đất chẳng phải chồng, đem gửi thịt xương sao đặng ?

    Trời mà chết vợ, thử xem gan ruột mần răng ?

    Ta đọc đôi câu đối này mà biết là của người Đàng-Trong làm, vì có mấy chữ « đặng » nghĩa ngoài ta như được, « mần răng », nghĩa ngoài ta như làm sao, thế nào. Còn biết là câu đối khóc vợ, là vì bốn chữ « Trời mà mất vợ » đã là rõ ràng lắm, nhưng cốt nghĩa ở cả vế trên « Đất chẳng phải chống, đem gửi thịt xương sao đặng ». Người đàn bà đi lấy chồng, thường lấy câu tục ̶ ngữ « Sống gửi thịt,chết gửi xương » nói với chồng, đã như đem cái tinh-mệnh của mình mà phủ thác vào tay người chồng cả, sống cũng nhờ chồng, mà chết đi nữa, cùng còn nhờ chồng mãi. Thầy đồ bắt cái nghĩa vợ đã bảo gửi mình là chồng cả thịt lẫn xương, mà bây giờ vợ chết sao lại đem xương, thịt chôn vùi dưới đất, như gửi cho đất, thì đất có phải chồng đâu ? Nhân cái ý nói đến đất, tiếp luôn hỏi ngay giời, giá giời có vợ, mà vợ giời chết, thì không biết gan ruột của giời ra sao, có nung nấu, nẫu nà, héo hắt tim đen như gan ruột của người chăng ?

    Não nùng đau đớn thay câu khóc vợ của thầy đồ. Vợ vốn là người tự giời đất chung đúc ra, bây giờ vợ chết, lại giở về với giời đất, thì chẳng trách đất, hỏi giời sao đặng ! Vợ tức là người chung tình với mình, gửi thịt, xương mình, sống, chết cậy mình, mà bây giờ vợ bỏ mình, chẳng khiến cho mình khô gan, héo ruột làm sao đặng !

    Cái cảnh của thầy đồ sầu khổ quá như thế, cho nên câu văn của thầy đồ thảm đạm đến như thế ! Những chữ « đất, trời » tức là tiếng gào kêu gọi to nhớn của thầy, những chữ « vợ, chồng » tức là thầy nhắc lại cái tình ái ân người giá nghĩa trăm năm cùng thầy, những chữ « thử gan ruột », tức là những tiếng khóc xót-xa đau đớn của thầy, cả đến những chữ đệm của câu « sao đặng » với « mần răng » cũng là những câu cay đắng não nuột tự trong tâm can thầy vì khốn khổ quá mà phát ra vậy. Đôi câu đối này của thầy quả đã như hai đường huyết lệ rơi xuống dòng-dòng.


    [​IMG]
    22. ̶ NHÀ CỬA ̶ CONG VIỆC

    Người thợ rèn mới mất. Có người làm hộ người vợ đôi câu đối để thờ chồng rằng :

    Nhà cửa để lầm than, con thơ dại, lấy ai rèn cập.

    Công việc đành bỏ bễ, vợ trẻ trung, lắm kẻ đe-loi.

    Lầm than : tức là đồ thán [] đồ : bùn lầy, thán : than, nghĩa đen là nhem-nhuốc bửn-thỉu, nghĩa rộng là vất-vả khổ-sở. ̶ Bỏ bễ : bỏ hẳn không ai nhìn-nhận đoái hoài đến. ̶ Đe-loi : dọa nạt ức hiếp.

    Hai câu này ý-tưởng rất hay. Câu đối thờ chồng mà nói vì chồng mất để đến nỗi : nhà cửa khốn khổ, công việc đình trệ, com thơ không ai dạy, vợ trẻ nhiều người nạt, đau đớn thật là đủ cả ý của hết, việc bỏ, vợ hóa, con côi, cái nông nỗi khổ sở không còn gì hơn nữa.

    Hai câu này chữ dùng lại rất khéo. Tuy là nhời than khóc đau-đớn mà trong nói đủ vừa công việc, vừa đồ dùng của người làm nghề thợ rèn : nào rèn, nào cập, nào cái bễ, cái đe, cả đến lò than, tưởng không quên, không xót cái gì. Hoặc chỉ quên cái búa cũng là một đồ nghề thiết dụng của nghề.

    Câu đối nôm được như câu này thật là được toàn thể hiếm có vậy.

    23. ̶ THIẾP KỂ TỪ ̶ CHÀNG Ở DƯỚI.

    Thiếp kể từ lá thắm se duyên, khi vận tía, lúc cơn đen, điều dại, điều khôn nhờ bố đỏ.

    Chàng ở dưới suối vàng nghĩ lại, vợ má hồng, con răng trắng, tím gan, tím ruột với giời xanh.

    Đọc hai câu này, ai cũng biết ngay là câu của người vợ khóc chồng hay đán thờ chồng lúc sinh-thời làm nghề nhuộm.

    Quả vậy, trong hai câu, ta lấy được bao nhiêu chữ chỉ tinh về sắc nhuộm cả : nào thắm, tía, đen, điều, đỏ, nào vàng, hồng trắng, tim, xanh. Những chữ này lấy rời cốt ý tuy dùng chỉ màu sắc, nhưng đi với những chữ khác, lại thành có nghĩa đủ diễn được cảnh, một người vợ than thở khóc chồng. Lá thắm (thắm : đỏ thắm), dịch ở hai chữ hồng-diệp [] ra, mà hai chữ ấy là lấy ở cái điển hồng diệp lương môi, nói hai người lấy được nhau thành vợ chồng thành chồng vì một cái lá thắm làm mối. Bới vậy trong hai câu, dưới hai chữ lá thắm mới hạ hai chữ xe duyên. ̶ Vận tía : tía : sắc đỏ sẫm ; vận tía tức là vận đỏ. ̶ Điều : màu đỏ phơn phớt, đây dùng cái nghĩa như chữ việc. ̶ Bố đỏ : tiếng ở nhà quê vợ thường dùng để gọi chồng. ̶ Suối vàng : dịch ở hai chữ hoàng tuyền [] ra, và chỉ thứ suối chảy dưới đất ; xuống suối vàng tức là chết rồi mà chôn ở dưới đất vậy. ̶ Vợ má hồng : nói vợ còn trẻ đẹp má đỏ hồng hồng, ̶ Con răng trắng : nói con còn thơ dại ; trước kia, ta chỉ để răng trắng lúc còn nhỏ, hễ nhởn lên thì nhuộm răng ngay. ̶ Tím gan tím ruột : ý nói đau-đớn khổ-sơ lắm, gan ruột trong bụng tê-tái như tím bầm lại. ̶ Giời xanh : chỉ bầu giời có mầu xanh biếc, sắc nhuộm có sắc gọi là thiên-thanh hay ta gọi nôm là xanh da giời.

    Vế trên cốt ý nói xưa nay : thiếp lấy chàng, lúc sướng lúc khổ, điều hay điều dở nhờ chàng cả. ̶ Còn vế dưới, thì hỏi : bầy giờ chàng khuất đi, chàng để vợ dại con thơ lại, chàng có nghĩ gì đến cái nông-nỗi đau đớn cực khổ của vợ con chăng ?

    Khóc chồng mà than thở đến như thế, chẳng cũng là thảm-thiết đáng nên thơ lắm ru !

    Kể mặt đối, lấy toàn câu, thì nghe được lắm. Tựu trung, phải mấy chữ cân nặng, nhẹ không được xứng như: lại đối với duyên ; khi, lúc đối với vợ, con ; điều dại, điều khôn đối với tím gan, tím ruột.


    [​IMG]
    24. ̶ TRƯỚC CŨNG TƯỞNG ̶ NẾU CÓ BIẾT.

    Một người đàn bà An-nam lấy chồng Khách, chồng chết . Có cụ đồ làm hộ đôi câu đối khóc chồng rằng :

    Trước cũng tưởng Tần, Tấn một nhà, vậy mệnh bạc phải nhờ đất Khách.

    Nào có biết Bắc, Nam đôi ngả, đem gánh vàng đi đổ sông Ngô.

    Tần, Tấn : hai nước về đời Xuân-thu đời đời thường cứ người nước nọ lấy người nước kia. Bây giờ ta thường hay dùng hai chữ Tần Tấn để nói hai người lấy nhau. ̶ Mệnh bạc : bởi hai chữ bạc mệnh [] ra, nói cái số mệnh người đàn bà mong-manh. Tự cổ dai-nhân đa bạc mệnh : câu cổ thi của Tô-Thức nói : « Tự xưa đến giờ, người đẹp hay bạc mệnh » ; ̶ Đất khách : đất xa lạ của người. ̶ Bắc, Nam : nói hai người ly-biệt kẻ phương Bắc, người phương Nam, đây tức nói kẻ khuất, người còn. ̶ Sông Ngô : thực không có con sông nào mang tên là sông Ngô, sông Ngô có nhẽ là nói sông của Tàu, như nói người Ngô, nước Ngô. Ta gọi người Tàu là người Ngô, có nhẽ từ đời Tam-quốc Ngô-tôn-Quyền, về thời bấy giờ nước Nam thuộc về nước Tàu. Cả câu : « Gánh vàng đi đổ sông Ngô » là trích ở bài ca-dao cổ « Ai lên thủ Lạng » mà ra.

    Vế trên giải nghĩa là : trước thiếp tưởng : thiếp lấy chàng, chàng lấy thiếp, đôi ta xum-họp, một nhà, thì thiếp, phận gái mong manh, cũng được nhờ chàng sống gửi thịt, chết gửi xương cùng chàng. Tấm lòng trinh-thuận xiết bao, đường hi-vọng nương cậy khôn nói !

    Ôi thôi ! nào ngờ ! bây giờ chàng với thiếp âm, dương xa cách, khuất còn ly-biệt, bơ-vơ một mình, thẩn-thơ cùng bóng, bao nhiêu tình nghĩa thiếp đành giả lại chàng hết như đem đi đổ sông, đổ biển vậy. Ấy là cái nghĩa vế dưới.

    Hai câu ý hay như thế, chữ dùng lại càng đắt nghĩa. Quả vây, nói người ta lấy người Tàu mà dùng được những chữ : Tần, Tấn đối với Bắc,Nam, Khách đối với Ngô, thế là dụng công lắm. Lại những chữ một nhà đối với đôi ngả, bạc đối với vàng, đất đối với sông rất khéo. Chỉ tức phải chữ vậy đối với chữ đem không được chỉnh. Hoặc có nhẽ bởi chúng tôi chép sai chăng, để sau nghiên cứu được rõ thì xin sửa lại.


    [​IMG]
    25. ̶ NHÀ CHỈN RẤT – BÀ ĐI ĐÂU

    Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam, hay làm, thắt lưng bó que, sắn váy quai cồng, tất-tưởi chân nam, chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc.

    Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất-vơ, vất-vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá tọa, gật-gù tay đũa, tay chén, cùng ai kể-lể truyện trăm năm.

    Chỉn : chỉ vì như thế, một nông nỗi thế. ̶ Thắt lưng bó que : lối thắt dây lưng bắt múi ra đằng sau lưng và ra ngoài áo. ̶ Sắn váy quai cồng : sắn chỗ cạp váy xung quanh dây lưng cho gọn để làm việc. ̶ Tất-tưởi : có ý nói làm ăn bận-bịu, lúc nào cũng như vội-vàng, như sợ không đủ thời giờ. ̶ Chân nam, chân chiêu : chân nam : chân phải, chân chiêu : chân trái. Ta có câu thành ngữ « chân nam đá chân chiêu ». ̶ Tớ : tiếng tự xưng cũng như tao. Mày tao chi tớ : câu thành-ngữ. ̶ Vất-vơ vất-vưởng : Ý nói bơ-vơ không biết dựa-dẫm vào đâu. ̶ Búi tóc củ hành : nói tóc thưa búi lại nó chí bé như một củ hành. ̶ Buông quần lá tọa : nói cạp quần buông tỏa xuống chỗ dây lưng. ̶ Tay đũa tay chén : một bên tay cầm đũa, một bên tay cầm chén, nói người nhắm rượu. ̶ Truyện trăm năm : nói vợ chồng kể lể những truyện về sau này.

    Đôi câu đối này là câu của cụ Nguyễn-Khuyến làm để khóc cụ bà. Vế trên tả cụ bà, lúc sinh thời, vốn là người chịu khó làm ăn, không quản cái thân danh là một bực mệnh-phu, thắt lưng sắn váy lên mà coi sóc hết mọi việc trong nhà là một nhà rất thanh-bạch. Vế dưới cụ ông than thân, vì cụ bà mất đi, mà để cho cụ ông vất-vơ vất-vưởng, cái búi tóc thì nhỏ, cái cạp quần thì buông xuống, cụ không biết cùng ai chuyện trò, cụ phải đành nhắm rượu một mình cho khuây-khỏa vậy.

    Hai câu này nhiều người thuộc và ai cũng chịu là hay cả. Hay là vì khi ngâm đọc, gập những chữ âm giòn tan như làm, làm bó que, quai cồng, nam, chiêu, củ hành, và nhất là những chữ văn pháp bây giờ gọi là phó-từ (adverbe) : tất-tưởi, vất-vơ, vất-vưởng, gật-gù khéo đưa đẩy rất là nhanh nhẹn. Lại được câu tuy dài nhưng ngắt ra thành bao nhiêu đoạn, mỗi đoạn bốn chữ thành-ngữ song-song đi với nhau, hoặc chỉ năm đến bẩy chữ chắp lại là nhiều, mà đoạn nào đoạn nấy gãy-gọn phân-minh dễ nghe lắm. Đọc những đoạn như hay lam hay làm, vất-vơ vất-vưởng, thắt lưng bó que, sắn váy quai cồng, búi tóc củ hành, buông quần lá tọa… thật là khoái trá vậy. Đoạn cuối chữ đỡ-đần với hai chữ kể lể đệm cho câu đã như hạ giọng rất êm-đềm, thú-vị vậy. Hay hơn nữa, lại là được suốt trong hai câu, không thấy bóng một chữ Hán nào, toàn là chữ nôm, mà nôm thường, nôm tục hết cả. Những có điều đáng tiếc, là vì trong câu có những chữ quá nôm-na, tục tĩu như bó que, củ hành, sắn váy, buông quần, mà câu của cụ, tuy là câu khóc cụ bà mà không khỏi cái giọng trào phúng đã như cấu văn hý-hước vậy.


    [​IMG]
    26. ̶ MẦN RỨA ̶ NHẮN HỎI

    Một phú-ông, người xứ Nghệ, có một cô con gái rất đẹp. Phú ông muốn gả cho một anh học-trò nghèo, nhưng hay chữ. Người con gái cũng thuận. Chỉ một bà phú-ông nhất-định không chịu gả vì khinh là nghèo. Sau người con gái mang bệnh

    :rose::rose::rose:

Chia sẻ trang này