0088.4.0009 -@Trần Lê Hương (soát xong)

Jan 14, 2016
0088.4.0009 -@Trần Lê Hương (soát xong)
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    #0088.4.00009

    Đánh máy: linling


    • Ghi chú: những từ tô highlight là nhìn không rõ chữ


    chữ đồng 同mà thôi. Tư hay đọc tí đây nghĩa là nha thự của quan. Min tiếng Đàng Trong nghĩa như ta, tôi.


    [​IMG]
    113. __ CHÀY CHÁY __ HÔM MAI

    Chày cháy trôi sông chú ngư ~ ông ngỡ cá.

    Hôm mai vượt bề, người tinh tướng xem sao.

    Đại ý vế ra: cái chày (chày cối) cháy dở trôi ở dưới sông mà người đánh cátưởng rằng là cá.

    Đại ý vế đối: nhà thiên-văn buổi sớm buổi chiều đi qua bể để xem sao.

    Giải cái nghĩa xuôi như thế, thì hai câu này không có gì là tài tình cả. Hai câu sở-dĩ cho là tài tình là cốt ở những chữ đã có cái nghĩa như trên nói, lại còn thêm có cái ý khác. Vế trên tuy nói cái chày cháy trôi sông, nhưng lại còn ám chỉ ba thứ cá: cá chày, cá cháy và cá trôi. __ Vế dưới tuy nói buổi sớm buổi chiều nhưng lại còn ám chỉ ba ngôi sao: sao Hôm sao Mai và sao Vượt. Cả chữ cá ở cuối câu vế trên lại đáp với chữ ngư vì ngư 魚nghĩa là cá, (ngư ông漁翁: người đánh cá); __ chữ sao ở cuối câu vế dưới lại đáp với chữ tinh, vì tinh星 nghĩa là sao.(Tinh tướng星相: người xem sao tức là nhà thiên-văn)

    Kể chữ đối thì vượt đối với trôi, bể đối với sông thật chọi và hay lắm.


    114. __ AO THANH-TRÌ __ SÔNG NGÂN-HÀ

    Một thầy đồ ngồi dạy học tại làng Thanh-trì, nhân đêm thu tức cảnh, ra cho học-trò một đôi câu đối rằng:

    <>.

    Học trò đáp lại câu rằng:

    <>.

    Vế ra: Thanh-trì là tên làng ở Hà-đông (1), mà chữ thanh清 lại nghĩa là trong, chữ trì 池nghĩa là ao; ngắc-ngư nói dáng cá lội mà chữ ngư魚lại nghĩa là cá.

    Vế đối: Ngân-hà là con sông ở trên giời mà chữ ngân銀lại nghĩa là bạc, chữ 河nghĩa là sông; ấm-áp nói ôn-độ vừa ấm mà chữ áp 鴨lại nghĩa vịt.

    Vế ra oái-oăm, vì có mấy chữ vặn đi vặn lại khi là chữ nôm, khi lại chữ Hán, đã ao lại trì, đã thanh lại trong, đã cá lại ngư. __ Vế đối tìm được cũng đủ những chữ: đã sông lại hà, đã ngân lại bạc, đã vịt lại áp, chọi lại với những chữ kia cân xứng như thế thật là tài tình vậy. Hoặc còn phải chữ bạc đối với chữ trong hơi tức một chút.

    Còn ý tưởng thì hai câu được cả, thật tả rõ được cái cảnh mùa thu nước trong, mây tạnh.


    [​IMG]
    115. __ PHỤ LÀ CHA __ MẪU LÀ MẸ

    Phụ là cha, tử là con, công cha con không dám phụ.

    Mẫu là mẹ, tử là con, biết mẹ con còn nói mẫu.

    Phụ =父 : cha; Tử =子 : con; phụ =負: phụ bạc.

    Mẫu =母 : mẹ, tử =子 : con, mẫu: kiểu mẫu.

    Câu ra chỉ khó về hai chữ phụ: chữ phụ trên 父là cha, chữ phụ dưới負 là phụ bạc.

    Câu dưới đối được trên chữ mẫu母là mẹ, dưới chữ mẫu là mầu-mẽ, thật là khéo, nghe rất thuận tai. (Nói mẫu còn có chỗ gọi là nói kiều và nghĩa là tuy biết là xấu, nhưng cũng cứ nói cho hay, cho đẹp.)


    [​IMG]
    116. __ PHU LÀ CHỒNG __ NGÃ LÀ TA

    Một viên quan bắt một người học-trò đi phu. Người học-trò trốn tránh, quan bắt vợ phải đi thay. Người học-trò chạy đuồi theo, thế nào vấp ngã. Quan liền cho lính dẫn lại, sai nọc đánh. Người kia kêu là học-trò không chịu nổi đòn. Quan bảo, nếu quả là học-trò, thì phải đối ngay đôi câu đối quan ra, quan mới tha.

    Câu đối quan ra rằng:

    <>

    Người học-trò ứng khẩu đối ngay:

    <>

    Câu ra chỉ khó vì trên có chữ phu夫là chồng, dưới lại có chữ phu chỉ phu-phen.

    Câu đối lại rứt tài tình, vì trên tìm được chữ ngã 我là ta, đối với chữ phu là chồng, dưới lại tìm được chữ ngã là té xuống đất, đối với chữ phu là phu-phen.

    Câu đối lại được cái ý hay là quan ra nói đến vợ chồng, mà người học-trò đối lại nói đến, mày, tao, tuy rằng gọi vợ là tự xưng với vợ, nhưng tựu trung lại ngu cái ý ngạo-nghễ mày tao chỉ tớ với quan.


    117. __ CÂY XƯƠNG RỒNG __ QUẢ DƯA CHUỘT

    Một hôm, ông Quỳnh mon-men đến ghẹo bà Thị Điềm. Bà tức mình ra cho một đôi câu đối và bắt phải đối ngay. Câu rằng:

    <>

    Ông Quỳnh lúng-túng, nghĩ mãi không ra, sau phải đọc, đối liều rằng:

    <

    Hai câu này, câu ra của bà Điểm vừa hay vừa chín-chắn bao nhiêu, thì câu đối của ông Quỳnh vừa bậy vừa chớt-nhả bấy nhiêu.

    Câu của bà, ý đã sâu-xa, vì bà có ý mắng ông Quỳnh rắn mày, rắn mặt, cứ giữ cái tính chớt-nhả mãi không sao chứa được, khác nào như cây sương-rồng là cây có gai góc, giồng vào chỗ đất rắn mà nó cứ long ra không sao chặt rễ được. __ chữ lại khéo dùng: trên có chữ rồng, dưới có chữ long龍 nghĩa là con rồng; trên có chữ rồng, dưới lại có chữ rắn, rồng, rắn ta thường nói đôi cho như đồng loại; trên có chữ rồng, một con vật trong tứ linh, dưới lại có chữ giồng nghĩa là giồng giọt cây cối.

    Còn câu của ông Quỳnh trên nói quả dưa chuột, thẳng tuột (hay thẳng buột) một gang rồi dưới tiếp thử chơi thì thử, thì không rõ ông có ý ám-chỉ cái gì hay ông vẫn quen cái tính tròng ghẹo chớt-nhả bà Điểm mà ông đâm liều, đâm lĩnh đối bậy, đối bạ, cho gọi là có đối thì thôi. Tuy vậy, cứ kể đối được chữ quả đối với chữ cây, chữ chuột đối với chữ rồng là chọi, dưới lại được chữ thử tuy nôm nghĩa là thử thách, mà chữ lại là chữ thử 鼠 là con chuột. Chữ thử đáp với chữ chuột cũng như chữ long đáp với chữ rồng vậy (1).





    118. __ CHÂN ĐI __ TAY HÁI

    Chân đi hài hán, tay bán kẹo đường, tình tông tính tống.

    Tay hái rau tần, chân lần gốc sở, ký ngố kỳ ngô.

    Hài hán: hài: tức là giầy, hài hán một thứ giầy Tàu. Xưa người lịch-sự, ngày Tết, ngày hội, hay đi một thứ giầy gọi là giầy văn hài làm bằng vải vóc chớ không đóng bằng da. __ Rau tần: một thứ rau mọc ở chỗ nước nông, bốn cánh xòe ra trông như cái hoa. __ Sở: thứ cây lá như bàn tay, hoa nhỏ, cành cứng, xưa hay dùng làm roi để đánh người có tội. __ Tinh-tông, tính-tống, ký-ngố, kỳ-ngô: có nhẽ là những tiếng đặt ra nói người bán kẹo líu-lo, và người hái rau hì-hụi như thế.

    Ý nghĩa hai câu này không có gì là lạ. Vế trên chẳng qua tả một chú Chiệc đi bán kẹo đường miệng nói líu-lo, líu-lường. Còn vế dưới, thì nói một người đàn bà đi hái rau tần, ra dáng vất-vả khó nhọc lắm.

    Nhưng chữ dùng rất khéo. Trong câu ra có chữ Hán 漢 chữ Đường唐 và chữ Tống宋 chỉ ba Triều ở bên Tàu, thì trong câu đối cũng có đủ ba chữ chỉ ba triều khác đáp lại là: Tần秦Sở楚 và Ngô吳 Khéo nữa là bên ra là chân, thì bên đối là tay, bên ra là tay, thì bên đối lại là chân, bên ra có chữ bán bắt vần với chữ hán, thì bên đối cũng chọn được chữ lần bắt vần với chữ tần.

    Có bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào cho câu này là của nàng họ Hồ ra cho một chú Ngô, chú không đối được, nên chỉ có một vế trên là:

    <>.


    [​IMG]
    119. __ MŨ LÔNG GÀ __ ÁO CÁNH DIỆC.

    Mũ lông gà ra khai quốc, công đã nên công.

    Áo cánh diệc về canh nông, quốc thì mặc quốc.

    Vế trên ý nói: Đầu đội mũ lông gà (hay lông công) ra mở nước đã thành công.

    Vế dưới ý nói: mình mặc áo cánh diệc về cày ruộng, mặc việc nước.

    Vế trên tất là của một người võ giỏi thừa tài thao lược ra dẹp loạn và đã gây dựng lại được giang sơn.

    Vế dưới lại là của một người ẩn-dật chán đời đành lui về cầy cấy, gác việc nước ra ngoài không hề màng đến.

    Ý nghĩa hai câu trái hẳn nhau như thế. Còn chữ dùng thì khéo về cái, câu trên có ba chữ chỉ ba tên chim là: gà, cuốc (hay quốc) và công, thì câu dưới cũng có ba chữ chỉ ba loài chim là: diệc, nông (bồ nông) và cuốc.


    120. __ BỐN CỤ __ MỘT ĐẠO

    Người ta kể rằng một hôm, bốn ông cụ đạo đang ngồi chè chén hách-dịch lắm. Có một người ra dáng thư-sinh ngông-nghênh bước vào như muốn ngạo-nghễ với các cụ.

    Các cụ hứng chén, đọc một câu rằng:

    Bốn cụ ngồi một cỗ, cụ đủ điều, cụ chẳng sợ ai.

    Chữ cụ thứ nhất:具 là cụ già, chữ cụ thứ hai:具 là đủ, chữ cụ thứ ba:懽 là sợ.

    Người kia liền đọc một câu đối lại rằng:

    Một đạo chẳng hai đường, đạo là trộm, đạo đừng nói láo.

    Chữ đạo thứ nhất: 道 là đường, chữ đạo thứ hai: 盗 là trộm, chữ đạo thứ ba: 道 là nói.

    Tìm được ba chữ đạo đối với ba chữ cụ như đây là tài tình lắm. Nhưng xét kỹ, thì câu ra hai chữ cụ trên viết giống nhau tức là một chữ, chỉ có chữ cụ thứ ba mới viết khác, mà câu đối chữ đạo thứ nhất với chữ đạo thứ ba mới là một, còn chữ thứ hai lại khác, thì không được cân. Lại còn chữ láo của câu đối đối với chữ ai của câu ra cũng không được chỉnh. Cả chữ chẳng đối với chữ ngồi cũng không xứng.


    121. __HUYỆN TAM-DƯƠNG __ QUAN TỨ-KỲ

    Huyện Tam-dương có ba con dê, đứng núi đá trông về Lập-thạch.

    Quan Tứ-kỳ đi bốn xe ngựa, vâng mệnh giời ra trị Thừa-thiên.

    Huyện Tam-dương三陽hiện thuộc về tỉnh Vĩnh-yên. __ Huyện Lập-thạch立石hiện cũng thuộc về tỉnh Vĩnh-yên. __ Huyện Tứ-kỳ四岐hiện thuộc về tỉnh Hải-dương. __ Thừa-thiên:承天 chỗ vua đóng hay sinh trưởng ở đấy. Hiện bây giờ Thừa-thiên là tỉnh ở giữa Trung-kỳ về đời Lê, vua đóng ở Hà-nội, thì gọi là Thuận-thiên ở về phủ Hoài-đức tỉnh Hà-đông bây giờ.

    Hai câu này ý tưởng không có gì. Giải thẳng ra, nghĩa cũng khó nói cho xuôi.

    Nhưng về chữ dùng, thì thật khéo, mà cốt khéo ở cái chữ Hán, chữ nôm đã dùng về âm lại dùng về nghĩa vặn đi vặn lại mà thành câu.

    Quả vậy, hai chữ Tam-dương 三陽vốn nghĩa là ba khí dương, mà đây lại lấy nghĩa tam dương三羊là ba con dê, trên có chữ Hán Tam-dương, dưới lại có chữ nôm, ba dê như giải thích. __ Hai chữ Hán Lập-thạch立石nghĩa là đứng đá, mà trên có hai chữ nôm đứng đá như dịch chữ ra.

    Còn vế dưới hai chữ Tứ-kỳ四岐vốn nghĩa là bốn ngã-ba, mà đây lại lấy nghĩa Tứ-kỳ四騏 là bốn con ngựa tốt, trên có chữ Hán Tứ-kỳ, dưới lại có chữ nôm bốn như giải nghĩa. __ Hai chữ Hán Thừa-thiên承天 nghĩa là vâng giời, mà trên có hai chữ nôm vâng mệnh như dịch chữ.

    Cái cách đối lạ-lùng, câu ra cầu kỳ như thế, mà câu đối tìm được như thế thực cũng là tử công-phu mà cho là thần tình lắm vậy.


    [​IMG]
    122. __ MẶC ÁO __ LÀM ĐĨ

    Xuân-Hương tiếp cái thơ của Chiêu-Hổ (xem ở trên) thấy Chiêu-Hổ lên mặt là mần cha thằng xích-tử mà ruồng rẫy chửi cái gái hồng-nhan, thì lấy làm giận lắm. Nàng liền gửi thư nữa vào, định mỉa lại, xem đối đáp ra làm sao. Trong thư có câu:

    Mặc áo giáp, giải cài chữ đinh, mậu, kỷ, canh, khoe mình rằng quí.

    Lúc bắt được thơ giả nhời, mở ra xem, thì thấy câu đáp như sau này:

    Làm đĩ càn, tai đeo hạt khảm, tốn, ly, đoài khéo nói rằng khôn.

    Xuân-Hương đọc thấy câu ấy, càng lấy làm bực mình, tủi phận. Chẳng bực, chẳng tủi sao được! Mình đã dụng tâm, lược những chữ trong thập can để riêu Hổ là mới được tập-lọngmặc cái áo giáp. nghĩa là đi làm quan, chưa chi đã vội khoe mình là quí lắm; Hổ lại có ý, lược những chữ trong bát quái để mà mắng lại mình đã làm con đĩ càn mà lại còn nói rằng khôn, thì khôn với ai?

    Áo giáp là áo trận đời xưa làm bằng da loài vật hay bằng sắt lá để giữ cho ngọn gươm, giáo không đâm được vào người. Nếu thật Chiêu-Hổ đi tri-huyện là làm quan văn, mà lại nói áo giáp là áo của quan võ thì tưởng là dùng ép chữ mà thôi chớ không được đúng. Cài chữ đinh là cài cái lối như chữ đinh丁. Hạt khảm: tức là hạt sà-cừ đàn bà trong Nam xưa hay đeo cái chầm có cuống trên có cái cúc to làm bằng mã-não hay sà-cừ. Xuân-Hương chọn được 6 chữ trong thập can (giáp, ất, binh, đinh, mậu, kỷ, canh, tàn, nhâm, quí) hiểm hóc, mà Chiêu-Hổ lại chọn được cũng 6 chữ trong bát quái (càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài) để đối lại, mới lại là già hơn nữa. Khéo nhất là đĩ càn đối với áo giáp, hạt khảm đối với chữ đinh, khôn đối với quí.


    [​IMG]
    123. THI VÀO HẦU __ VŨ CẬY MẠNH

    Một viên quan võ, một hôm ra vế câu đối, trêu một viên quan thị rằng:

    Thị vào hầu, thị đứng thị trông, thị cũng muốn (1), thị không có ấy.







    Viên quan thị đáp ngay lại để riễu viên quan võ rằng:

    Vũ cạy mạnh, vũ ra vũ múa, vũ gặp mưa (1) vũ ướt cả lông.

    Câu trên rõ ra chế một viên quan thị chỉ làm cái nghề hầu hạ, (thị:侍hầu hạ), đứng mà trông (thị: 視trông) người ta làm, bung thèm muốn đến chết (thị:嗜muốn) nhưng không làm gì được, vì không có cái ấy (thị:是ấy).

    Câu dưới rõ ra bác một viên quan võ chỉ cạy ở cái sức khỏe (vũ: 武khỏe) múa may quay cuồng (vũ: 舞múa) gặp lúc mưa (vũ: 雨mưa) ướt hết cả lòng (vũ: 羽lông) nghĩa là gặp kẻ khỏe hơn nó đành cho xơ-xác cả người.

    Một bên chế trước, một bên riễu lại như thế thật là đối đáp được với nhau bên tám lạng, bên nửa cân vậy. Hoặc chỉ phải chữ là mưa đối với cũng muốn, ướt cả lông đối với không có ấy không được chỉnh lắm mà thôi.


    [​IMG]
    124. __ CÁI LÀ TƯỢNG __ TU LÀ HỔ

    Cái葢là tượng, tượng象là voi, voi châu cửa cái.

    Tu羞là hổ, hổ虎là cọp, cọp bắt thầy tu.

    Có người cho câu trên là của một nhà sư ra, câu dưới là của ông Hoàng-phan-Thái đối lại.

    Câu ra sở dĩ khó, là vì lấy chữ Hán dịch nghĩa ra chữ nôm, lại lấy chữ vừa Hán vừa nôm dịch ra hẳn nôm, xong lại đặt nối bốn chữ lộn ngược lên chữ đầu câu đem xuống thành làm chữ cuối câu.

    Chữ cái 葢 hoặc còn viết 蓋 là chữ mào đầu câu ở trong các bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào Tàu mà xưa nay ta quen học nghĩa là tượng, chữ tượng 象, tiếng ta là con voi (hay vàm). Thế là chữ tượng lấy ở nghĩa chữ cái ra, chữ voi lấy ở nghĩa chữ tượng ra, rồi nối luôn mà đặt câu: voi chầu cửa cái. Cửa cái tức là cửa chính, cửa ra vào nhớn nhất, đối với cửa con.

    Oái-oăm và xuyên-tạc lắm! Đối thế nào cho chói được? Thế mà ông Thái ứng khẩu đối liền ngay được, ấy mới là đại tài. Tài thực! câu ông đối cũng đủ chữ Hán, nghĩa chữ Hán lấy làm chữ, chữ lại dịch ra nôm, mà câu đặt cũng nối, cũng lộn y như câu ra. Ông đã có tài nhanh về văn, ông lại thêm được cái tính đối đầu với người, chọi người cho kỳ được hẳn người ông mới nghe. Kể câu ông đối rõ ràng mạnh mẽ hay hơn câu nhà sư ra nhiều lắm. Nhà sư chắc không những phải phục ông là tài, mà lại còn được chịu ông xược đến nước nữa. Chữ Tu 羞nghĩa là hổ. (xấu-hổ), chữ hổ 虎 nghĩa là cọp đối với hai chữ cái và chữ tượng thật chỉnh (cọp đối với voi còn gì hay bằng!) cọp bắt thầy tu đối với voi chầu cửa cái thật là chọi từng chữ, hay hơn nữa, mà chắc khiến cho nhà sư nghe thấy tất phải giận dữ đỏ mặt tía tai lên không làm gì được, đành ngồi tấm-tắc khen mà chịu ông Thái vậy.


    [​IMG]
    125. __ BƯỚM ĐẬU __ GÀ ĂN

    Bươm bướm đậu cành sen, liên chi hồ-điệp.

    Gà sống ăn rễ thóc, cốc để hùng kê.

    Hai câu này thần-tình vì mỗi vế bốn chữ đoạn dưới là bốn chữ Hán, mà bốn chữ ấy chính chỉ rõ cái nghĩa y như bốn chữ đoạn trên.

    Liên 連 là sen, chi 枝 là cành, hồ-điệp 蝴蝶 là bươm bướm. __ Cốc 榖 là thóc, đế là rễ, hùng kê 雄鷄 là gà sống.


    [​IMG]
    126. __ CỐC-CỐC __ TÙNG-TÙNG

    Cốc-cốc đánh mõ dình cót thóc, thử đêm nay chuột có cắn không.

    Tùng-tùng hồi trống đào cây thông, ô cành nọ quạ không đậu được.

    Vế trên: Cốc cốc nôm là tiếng mõ kêu, mà chữ cốc榖 lại nghĩa là thóc; __ thử nôm là xem có được không mà chữ thử鼠lại nghĩa là con chuột.

    Vế dưới Tùng tùng nôm là tiếng trống đánh mà chữ tùng松lại nghĩa là cây thông. __ Ô nôm là tiếng kêu như ô hay, mà chữ ô烏lại nghĩa là con quạ

    Hai câu này sở-dĩ hay là chỉ vì vặn chữ ra nôm, vặn nôm ra chữ lấy chữ Hán đọc ra âm nôm, đã dùng chữ Hán lại có cả nghĩa chữ Hán, mà đôi bên oái-oăm đối-đáp chọi nhau được cân chỉnh như thế. Tùng-tùng mà đối với cốc cốc, trống đối với mõ, nọ đối với nay, không đối với có, ai cũng phải chịu. Phải chữ hồi đối với đánh, ô đối với thử nghe không được xuôi.

    Còn ý nghĩa thì câu trên nghĩa là: đánh mõ để dình xem đêm chuột có ra ăn thóc không __ và câu dưới nghĩa là: đánh trống để đào cây thông làm cho quạ không đậu được cành thông.


    [​IMG]
    127. __ ÔNG THÔNG __ ÔNG TÚ

    Ông thông đến gốc cây đề, ông thông không đi là ông thông lại.

    Ông tú đi qua cửa cống, ông tú nhảy được, thì ông tú tài.

    Vế trên khéo là nói ông thông không đi nữa, tất ông thông giở lại, mà chữ lại đi theo luôn chữ thông, thành ra hai chữ <>通chỉ người giúp việc ở nhà các quan. Trong câu có chữ đề cũng có ý chỉ là <<đề lại,="">> ông thông, ông đề thường đi với nhau.

    Vế dưới khéo là nói ông tú đi qua của cống, nếu ông nhảy được, thì ông là người tài nhảy, mà chữ tài đi theo luông chữ tú thành ra hai chữ liền <>秀才 chỉ người đỗ thi hương bậc dưới. Trong câu có chữ cống cũng là có ý chỉ <> ông tú, ông cống, (tức là ông cử) thường đi với nhau.


    [​IMG]
    128. __ QUÂN TỬ __ KHỔNG MINH

    Một người học-trò nghèo, bấn-túng quá, một hôm, không có gì ăn, phải đem quần áo đến một nhà kia cầm. Nhà ấy lại là một nhà của một vị quan hồi hưu. Nhà nho thấy nhà nho gặp phải cái cảnh như vậy, lấy làm thương tình, ông quan bèn gọi người học-trò vào bảo:

    __ Bác có thực phải là học-trò, tôi ra cho đôi câu đối này, nếu bác đối được, thì tôi cấp tiền cho ăn học, không phải lo lắng cầm cố gì nữa. Rồi ông quan liền đọc câu rằng:

    <>

    君子固窮君子窮君子固

    Người học-trò chỉ nghĩ qua, rồi đối luôn rằng:

    <>

    孔明擒縱孔明縱孔明擒

    Câu của ông quan ra, là cốt mượn bốn chữ quân-tử cố cùng君子固窮 ở câu quân-tử cố cùng, tiểu-nhân cùng lư lạm lũ, 君子固窮小人窮斯灆矣 trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào Luận-Ngữ. Chính câu ấy dịch nghĩa là: <>. Còn câu của ông quan đây ra. <> nếu dịch thẳng, thì nghĩa là: Người quân-tử lúc cố cùng giữ được bền lòng, người quân-tử cùng khổ, người quân tử bền lòng. Dịch như thế, thì thực chỉ có bốn chữ trên mượn ở bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào là có nghĩa còn sáu chữ dưới tưởng đặt ra cái nghĩa chẳng ra sao cả. Nhưng ông quan sở-dĩ mà đặt câu như thế là cốt ông lấy cái ám chữ cố, dùng xuyên-tạc ra cái ý cầm cố mà cho cả câu thành cái nghĩa rằng: Người quân-tử, cố cùng, tại người quân-tử cùng (khổ) mà người quân-tử, phải (cầm) cố.

    Câu của ông quan ra chữ mượn, câu đặt, ý nghĩa dùng oái-oăm lắt-léo là như thế. Tưởng tìm được một câu có đủ cả những tư-cách như thế để đối lại cho thật chọi cũng không phải dễ. Thế mà người học-trò tìm được, ấy mới giỏi, ấy mới tài. Quả vậy, câu của người học-trò cũng đủ cả chữ mượn ở trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào Tam-quốc chỉ la chữ cầm 擒 (nghĩa là bắt) và chữ 縱 tùng (nghĩa là tha), đủ cả cái âm cầmđối với cố, đủ cả cái ý xuyên-tạc chữ cầm là cầm bắt ra cái ý cầm là cầm cố, lại đủ cả cái nghĩa câu thành ra rằng: ông Khổng-minh bắt, tha, tại ông Khổng-minh túng (túng tiền) mà ông phải (đem đồ đi) cầm. Lại cứ thực kể, về cái nghĩa chữ Hán thì câu của người học-trò có thể cho là hơn câu của quan được. Hai chữ cùng, cố sau, trong câu của ông quan, nói người quân-tử cùng, người quân-tử cố, thật ra cái nghĩa làm sao, không cắn, giá đưa người Hán xem, thì họ không tài nào hiểu dược. Chớ câu của người học-trò, thì hai chữ túng cầm sau, nói Khổng-minh túng, Khổng-minh cầm, cái nghĩa, bắt, tha vẫn ăn với chữ Khổng-minh mà lại đối đáp được với hai chữ cầm túng trên là tha bắt vậy; cả câu nghĩa: ông Khổng-minh bắt, tha, ông Khổng-minh bắt (rồi) ông Khổng-minh (lại) tha nghe thật xuôi tai mà rất hợp nghĩa. Thừa tướng nước Thục đời Tam-quốc xưa chẳng bắt bắt, tha tha những bảy lần bắt, lại bảy lần tha tên Mạnh-Hoạch là gì?

    Về mặt chữ đối, thì dù nghĩa có xuyên-tạc nhưng bằng trắc thật là được cả, vì mỗi vế tuy gọi là mười chữ mà những là nhắc đi, nhắc lại, chớ thực chỉ có bốn chữ mà thôi.


    [​IMG]
    129. __ TỨ THỜI __ NGẠN LIỄU

    Tứ thời, bát tiết canh chung thủy.

    Ngạn liễu, đôi bồ dục điểm trang.

    Hai câu này là của hàng thịt lợn dán ở trước cửa nhà về dịp Tết.

    Vế trên ý nói: quanh năm, lúc nào cũng có bát tiết canh. __ Vế dưới ý nói: ngạn liễu, có đôi bồ dục tô điểm đẹp đẽ.

    Hai câu này lấy về mặt nôm, thì ý nghĩa như thế. Nhưng lấy về mặt chữ Hán, thì cái nghĩa lại khác hẳn. Vì hai câu này vừa là nôm mà lại vừa là chữ. Ấy mới oái-oăm mà tài tình, ấy mới lạ-lùng mà thú vị.

    Quả vậy, hai câu ấy viết ra chữ Hán, thì là:

    四時八節更終始

    Tứ thời, bát tiết, canh chung thủy.

    岸柳堆蒲欲點粧

    Ngạn liễu, đôi bờ, dục điểm trang.

    Và nghĩa là: vế trên = bốn mùa, tám tiết đắp-đổi sau trước; trong một năm có bốn mùa (tứ thời) và tám tiết (bát tiết) (lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông, xuân phân, hạ chí, thu phân và đông chí), bốn mùa, tám tiết ấy cứ đi luôn theo nhau, rồi lại quay giở lại (chung nhỉ phục thủy). __ Vế dưới = cây liễu ở bờ sông (ngạn liễu), cỏ bồ mọc ở đống đất (đôi bồ) muốn trang điểm (cho Tạo-hóa). Hai câu giải ra như thế thực rõ ra tả cái cảnh Tết, tổng ý câu trên nói năm mới, năm cũ đắp-đổi, tổng ý câu dưới nói tiết xuân đằm ấm, liễu, bồ tươi-tốt.

    Nên nhận: cách tiểu đối hai chữ tứ thời đối với hai chữ bát tiết, hai chữ ngạn liễu đối với hai chữ đôi bồ.

    NỬA NÔM NỬA CHỮ


    [​IMG]
    130. __ CON CHIM ĐA __ CON CÁ ÚC

    Con chim đa mà đỗ cành đa, cất tiếng gáy: <<đa đa="" ích="" thiện="">>多多益善

    Con cá úc mà nằm luống úc, vẩy vây lên <<úc úc="" hồ="" văn="">>郁郁乎文

    Chim đa tức còn gọi là gà gô. __ Cá úc: một loài cá bể giống cá nheo và to hơn. __ Luống úc: chúng tôi chưa tra được nghĩa là gì. __ Đa đa ích thiện: bốn chữ này lấy ở bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào Hán Cao-tổ khi nói truyện dùng binh, Hàn-Tín hỏi Hán Cao-tổ, bấy giờ còn là Lưu-bang, thì Hán Cao-tổ nói rằng: chỉ <> nghĩa là khéo dùng được tướng. Khi Hán Cao-tổ hỏi lại Hàn-Tín, thì Hàn-Tín nói rằng: <<đa đa="" ích="" thiện="">> nghĩa là dùng binh càng nhiều lại càng hay. Vì câu ấy mà Hán Cao-tổ sinh ra bụng hiềm Hàn-Tín, sau đến giết chết Hàn-Tín. Ta bây giờ muốn cầu cái gì nhiều, càng nhiều được bao nhiêu cho là càng hay bấy nhiêu, thường hay dùng đến bốn chữ ấy. __ Úc úc hồ văn: bốn chữ này lấy ở bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào Luận-ngữnghĩa là rực-rỡ văn-vẻ và có ý nói nhà Chu so với nhà Hạ, nhà Thương thì văn nhiều hơn chất. __ Cả hai câu ý nghĩa không có gì là lỗi-lạc, chỉ khéo được cái chữ dùng, câu trên nói chim đa, cành đa lại hạ được hai chữ đa đa lấy ở <<đa đa="" ích="" thiện="">> trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào ra; __ câu
  • Share This Page