0088.4.0012 (Socnho, Đang soát Wiki)

21/3/16
0088.4.0012 (Socnho, Đang soát Wiki)
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    #0088.4.00012

    Đánh máy: linling


    161. __ THẦN NÔNG __ THÁNH SẦU

    __ Thần đối với gì nào?

    __ Thần thì phải đối với Thánh.

    __ Xứng lắm! Thần, Thánh cùng là bực anh lính, chính-trực cả… Thế nông đối với gì?

    __ Nông thì đối với sâu chớ gì?

    __ Chọi lắm! Nông, sâu trái hẳn nghĩa nhau…. Thế giáo đối với gì?

    __ Giáo tất phải đối với gươm.

    __ Chỉnh lắm! giáo là đồ binh khí, gươm cũng là đồ binh khí … Thế dân đối với gì?

    __ Dân, còn gì hơn đối với quan.

    __ Được lắm! quan là người cai trị, dân là người bị cai trị… Thế nghệ đối với gì?

    __ Còn phải hỏi. Nghệ đối với gừng.

    __ Hay lắm! Củ nghệ đối với củ gừng là hai củ củng có vị cay… Thế ngũ đối với gì?

    __ Còn phải nghĩ. Ngũ đối với tam.

    __ Giỏi lắm! Ngũ là chữ ngũ 五nghĩa là năm lại đối với tam là chữ tam 三nghĩa là ba… Thế cốc đối với gì cho được?

    __ Cốc ấy là, Cốc, tôi đối ngay với cò, có chịu không nào.

    __ Chịu. Chịu lắm! Con cốc đối với con cò còn gì hơn được nữa. Thế để bây giờ tôi thử chắp liền bảy chữ ra với bảy chữ đối xem thế nào nhé! Đây này:

    Vế ra rằng:

    Thần-nông giáo dân nghệ ngũ cốc.

    Vế đối rằng:

    Thánh sâu gươm quan gừng tam cò.

    Nào đã ngộ nhận ra chưa nào? Bảy chữ vế ra là bảy chữ Hán: Thần-nông giáo dân nghệ ngũ cốc 神農教民藝五穀và nghĩa là vua Thần-nông (1) dạy dân giồng năm giống (2) lúa. Thế mà vế đối là chữ gì và nghĩa làm sao? Ba chữ Hán: Thánh, quan, tam, và bốn chữ nôm: sâu, gươm, gừng, cỏ. Thánh sâu là ông nào? Gươm quan gừng là ông ấy làm gì? Tam cò là những cò nào? Thánh sâu gươm quan gừng tam cò. Hay! Hay tuyệt! Cái âm đọc rất giòn, mà nhất là cái nghĩa không thể sao cắt được…

    __ Rõ ai biết đâu! Trước tưởng ra từng chữ thì đối với từng chữ, chớ ai biết là ra cả một câu liền. Ừ, thì bây giờ đối câu liền ấy, thử tìm hộ một câu cho hay xem thế nào…


    162. __ BÂY GIỜ __ LÚC NÃY

    Người ta kể truyện rằng, một hôm, có một thầy đồ dốt đến trọ lại một hàng cơm kia. Cô chủ nhà trọ là một người ăn nói giỏi-giang và lại có chút nhan-sắc. Thầy đồ ra ý muốn quyến-luyến, thành dằn-dọc cả đêm không sao ngủ được.

    Rạng đông gà gáy, chợt thầy nghe thấy tiếng cô chủ gọi réo lên rằng:

    <>.

    Cách đối liều của thầy đồ đây cũng như cách đối mấy câu trên. Nghĩa là vất luận nghĩa câu ra làm sao, thầy cứ lẩy ra từng chữ và chọn từng chữ mà đối lại. Lúc nãy đối với bây giờ, lợn đối với gà,… đứng lên đối với giở dậy, thóc họ đối với tiền hàng, chắc không còn nhà văn-sĩ nào tìm được những chữ nào đối chọi hơn được nữa. Nên mới nghe ai chẳng phải chịu là thầy đồ giỏi, thầy đồ tài. :rose::rose:Nhưng xem đến cái nghĩa câu của thầy, thì lại chắc không có một người nào, dù cho dốt đến bậc nào, cũng không sao không ôm bụng mà nhịn cười được. Chẳng có gì, chỉ nói <> cũng đủ chết cười rồi!...

    163. __ CẦN CÂU TRÚC __ GỘC KÉO MAI

    Cần câu trúc câu con cá gáy, trúc hóa long, gáy cũng hóa long.

    Gộc kéo mai kéo mẹ chim gù, mai hoẻn hổ, gù cũng hoẻn hổ.

    Câu này cũng như mọi câu đối liều khác chỉ tìm từng chữ đối cho chọi, rồi chắp lại, chớ không có nghĩa gì cả. Như câu đối với kéo, con thì đối với mẹ, cá thì đối với chim v. v. __ Cá gáy tức là cá chép.


    164. __CHÙA NON NƯỚC __ PHỐ GIÀ CƠM

    Chùa Non-nước, trên non, dưới nước, non non, nước nước, nhất vui thay là phố Văn-sàng.

    Núi Già-cơm, trong già, ngoài cơm, già già, cơm cơm, ba buồn nhẽ là phường Vũ mẹt.

    Vế ra nói chùa Non-nước tức là chùa Thúy-sơn là một nơi thắng cảnh hiện ở giữa tỉnh-lỵ Ninh-bình. Cái tên Non-nước là do chùa làm ở trên một hòn núi, mà hòn núi ấy lại ở giữa sông (sông Vân-giang), thật là trên thì Non mà dưới thì nước vậ. __ Phố Văn-sàng là một phố tụ-hội ngay dưới chân núi Non-nước.

    Còn vế đối, mới thoạt nghe, ai cũng phải chịu là hay, hay lắm. Thật là chọi nhau từng chữ một: già đối với non, cơm đối với nước, ba đối với nhất, vui đối với buồn, nhẽ đối với thay, vũ đối với văn, mẹt đối với sàng. Chữ chọn đâu, câu đặt sao mà khéo quá làm vậy. Nhưng kỷ thực thì, phố Già cơm làm gì có, mà phường Vũ mẹt cũng không có bao giờ. Chẳng qua là họ đối liều, đối lĩnh, đối cho kỳ được, đối cứ nhặt từng chữ rời mà chắp lại thành câu thôi.


    165. __ HAI HÀNG __ MỘT NẮM

    Có một mụ đàn bà, chồng vừa mới chết đến xin cụ nghè Tân (1) một đôi câu đối dán thờ chồng, cứ một rằng: <> hai rằng: <>. Cụ Nghè liền viết cho đôi câu đối rằng:

    Tưởng những khi ban sáng, rỏ hai hàng nước mắt chảy xuôi.

    Nhớ đến lúc canh khuya, tóm một nạm lông… vật ngược.


    Kể cụ Nghè làm đôi câu đối này thì hay thật. Vế trên rõ ra cái ý thương, vế dưới tỏ được cái nỗi đau, theo đúng như nhời của mụ đàn bà. Nhưng vì đối khí tục và hơi liều, nên chúng tôi xếp vào mục Câu đối đùa nghịch vậy.
















    166. __ CON CUA __ CÁI DÙ

    Một anh dốt đặc lại muốn xin vào làm rể một nhà kén, người hay chữ. Ông chủ không văn bài gì, chợt trông thấy con cua đang bò, bảo rằng:

    <>! Đối được ta gả con gái cho.

    Anh kia lúng-túng chợt nom thấy cái dù cầm tay đối liền rằng:

    <> Tối đối rồi, ông gả cô ấy cho tôi.

    Ông cụ mắng là đối láo, đuổi ngay ra khỏi cửa.

    Anh kia ra về giận lắm. May gặp được cụ đồ hay chữ, bảo phải kiếm đủ 50 quan tiền, thì sẽ đến giảng giải cho kỳ được vợ. Anh kia chạy đủ số tiền.

    Cụ đồ liền đưa đến nhà cô con gái, bảo với ông chủ rằng:

    Câu đối, anh này làm lúc nãy, thật là hay nhất trần đời, sao cụ bảo là đối láo?

    __ Ông chủ nói: Con cua mà đối với cái dù là nghĩa lý gì? Sao bảo là hay được!

    __ Cụ đồ đáp: Thế để tôi xin giảng giải cụ nghe: Cụ ra nôm là <> thì tất lại phải đối nôm là: <> Nếu cụ lại cho là cụ ra chữ Con cua tức là: <> (1)橫行海外thì câu nó đối lại phải là chữ mà cái dù, nói chữ, tức là <<độc lập="" thiên="" trung="">>(2)獨立天中. Câu đối hay đến như thế, mà còn không gả con gái cho anh ta thì gả cho ai nữa.

    Ông chủ nghe xuôi tai, bằng lòng gả con gái cho anh kia?...


    V. __ CÂU KHÔNG ĐỐI ĐƯỢC

    167. __ DA TRẮNG

    <>

    Câu này, tương truyền là của bà Thị-Điểm ra cho ông Cống-Quỳnh, mà ông phải chịu, không sao đối được. Ông phải chịu, là vì câu ra tuy chỉ có năm chữ, nhưng chữ dùng đã oái-oăm mà nghĩa chữ lại kỳ-quặc. Nghĩa nôm hai chữ <> là chỉ tiếng kêu, nói khi ra lấy tay vỗ vào da (đùi vế chả hạn), tiếng nó kêu nghe bì bạch. Nhưng hai âm bì, bạch lại còn là hai chữ Hán bì皮và bạch白. Bì nghĩa là da, bạch nghĩa là trắng, vậy hai chữ bì bạch đây đã có một cái nghĩa nôm, lại thêm môt cái âm chữ.

    Ấy câu ra khó nghĩa, khó cả chữ như thế, nên kể muốn tìm một câu đối cho xứng, tưởng nghĩ bao lâu vỡ đầu ra cũng không sao tìm được. Đến như Trạng-Quỳnh mà phải chịu, không là vừa.

    Thế mà có người hậm-hụi vẫn không chịu, muốn trổ cái tài hơn Trạn.

    Người thì đối rằng:

    <>

    Người lại đối rằng:

    <>

    Câu trước làm sở-đắc là ở hai chữ chỉ chu紙硃nghĩa là giấy đỏ, đáp được hai chữ giấy đỏ trên cũng như bì bạch là da trắng đáp được hai chữ da trắng trên vậy. Sắc đỏ đối với sắc trắng cũng cho là hay. Nhưng hai chữ chỉ chu đây chỉ cho là hai âm chữ Hán thì được, chớ lấy âm nôm, thì lại không có nghĩa là gì cả. Và chính cả câu dù cắt nghĩa nôm hay chữ Hán cũng không rõ ra làm sao, giấy đỏ son đỏ là thế nào? Nên không sao nghe được.

    Câu sau lại càng tệ lắm. Chỉ được có một chữ nghĩa là giếng đáp lại với chữ giếng đầu câu mà thôi. Nhưng hỏi tỉnh-tinh vốn nghĩa là gì (tỉnh tinh sương?) mà bé tỉnh-tinh là bé thế nào thì chắc người tìm ra câu đối ấy phải ngậm miệng mà không nói ra sao được.

    168. __ BÒ LANG

    Bò lang chạy vào làng Bo.

    Bò lang là con bò lông loang-lổ. Còn làng Bo chúng tôi chưa chắc rõ ở vào hạt nào.

    Câu này khó đối là trên cất là chữ Bò lang, cuối lại đệm hai chữ làng Bo, mà làng Bo tức là tiếng nói lái của bò lang.


    169. __ GÁI TƠ

    Gái tơ chỉ kén ngài quân-tử.

    Câu này khó là ở bốn chữ: tơ, chỉ, kén và ngài đã dùng về cái nghĩa ở trong chữ, lại còn dùng về chính âm chữ nữa. __ Theo nghĩa dùng trong câu, thì tơ là trẻ tuổi non măng, __ chỉ là chỉ thế mà thôi, __ kén là lựa chọn lấy cái tốt, __ ngài là tiếng xưng hô người một cách tôn quí. Còn theo âm chữ, thì tơ lại chỉ tơ lụa, chỉ nói xợi chỉ may vá, kén là cái kén con nhộng nằm ở trong, ngài là con ngài tức là con tằm. Nghĩa đi thế, chữ đi thế, tưởng tìm cho ra một câu đối đáp cho đủ được các tư-cách, phi người có đại tài về văn nôm là không sao tìm được.

    Câu này đã có người thử đối rằng:

    <>.

    Kể nghĩa, thì cắt nghe cũng xuôi-xuôi, và như ý muốn phản-đối lại câu trên. Chị là gái hợm kén chồng những bực quân tử, nhưng ta đây bọn rầu mây (tu-mi), ta không ưa gái hồng-nhan (đẹp) đâu.

    Nhưng chữ dùng thì chưa đủ đáp được với vế ra mấy chút. Tuy được bốn chữ: râu, mày, chân mặt cũng thuộc về bộ mặt đối với bốn chữ tơ, chỉ, kén, ngài thuộc về tằm tơ, nhưng nghe như dùng chữ khi ép, chữ mày đối với chữ chỉ không cân, chữ chán đây là chán nản viết ch mà lại truyền sang chữ trán là cái trán viết tr như sai lạc đi vậy.


    170. __THẰNG QUỲNH

    Người ta kể truyện một hôm ông Quỳnh mò đến nhà bà Thị Điểm chực tròng ghẹo bà. Bà biết, thả chó giữ cho nó xông ra cắn. Quỳnh sợ cuống-quít, nhân thấy gần đấy có cây cậy, vội vàng leo lên trên ngồi. Bấy giờ, bà Điểm mới ra mặt, bảo ra cho đôi câu đối, nếu đối ngược, thì mới đổi chó, tha cho xuống. Quỳnh ngồi trên cây gật đầu, Bà liền đọc rằng:

    Thằng Quỳnh ngồi trên cây cậy, mặt (1) [đỏ hồng-hồng.

    Quỳnh nghĩ vỡ óc, không sao đối được, dành ngồi mãi đến tối, mới được ra về.

    Câu bà Điểm ra cốt khó về chữ cậy và hai chữ hồng-hồng.


    171. __ CHA CON

    Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử.

    Câu này khó đối là vì đầu có hai chữ Nôm: Cha con cuối lại có hai chữ Hán: Phụ-tử nghĩ là cha con; __ trên có hai chữ Nôm về quê; dưới lại có hai chữ hồi hương nghĩa là vế quê. __ lại mấy chữ hồi hương, phụ tử là tên hai vị thuốc vị hồi-hương và vị phụ-tử.


    172. __ SONG SONG

    Song song là hai cửa sổ, hai người ngồi trong cửa sổ song-song.

    Câu này người ta nói là câu của bà Điểm ra cho ông Quỳnh, mà ông chịu không tài nào đối nổi, Ông không đối nổi là vì, đầu câu đã cất hai chữ song là hai chữ Hán, song trước nghĩa là hai, đôi, song sau nghĩa là cửa sổ, cuối câu lại hạ hai chữ song, là hai chữ Nôm song-song đi với nhau và nghĩa là sánh đôi với nhau.


    173. __ NHÀ NÀY__ ?

    Xưa có người làm một đôi câu đối mừng người bạn làm nhà mới. Tiếc chúng tôi chỉ nhớ được có một vế hãy ghi qua đây, đợi sau hỏi được, thì xin ghi nốt; vế ấy rằng:

    Nhà này ắt hẳn trăm người chết, cha trước, con sau, vợ trước chồng.

    Câu mới nghe tưởng như là rủa, nhưng nghĩ kỹ thì thật là cái cảnh thuận và lâu dài lắm vậy.


    174. __ LÊN PHỐ MÍA

    Lên phố Mía, gặp cô hàng mật, cầm tay kéo lại, hỏi thăm đường.

    Câu này, người ta cho là của bà Hồng-hà nữ-sử ra cho ông trạng họ Nguyễn mà ông trạng cũng phải cúc cung đành chịu. Chịu là đáng, vì làm thế nào cho tìm được câu đối lại, mà trong câu cũng có đủ bốn chữ chọi được với bốn chữ cùng một xuất-xứ, cùng một vị ngọt như bốn chữ: Mía, mật, kẹo, đường trong câu này!


    175. __ CON QUÊ

    Con quê ở đất nhà quê, quê của, quê người, quê cả thói.

    Câu này khó đối, là vì trong câu, chỉ một chữ <> mà nhắc đi nhắc lại những năm lần.


    176. __ TÊN TÔI LÀ

    Tên tôi là Lễ, con nhà thi-thư, gặp đời xuân-thu, thì phải dịch.

    Câu này khí khó, là vì chữ dùng trong câu gồm đủ cả tên năm kinh của đạo Nho (1) là: kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ, kinh Dịch, kinh Xuân-thu. Theo nghĩa cả câu mà cắt, thì phải chữ dịch ở cuối cùng ý muốn nói gì không được rõ-ràng lắm. Dịch là đổi, vậy người tên là Lễ đây phải đổi cái gì hay đổi thế nào!


    177. __ TÔI LÀ

    Tôi là con gái Nghi-xuân, tôi đi chợ Hạ, mua cá thu về, chợ hãy còn đông.

    Câu này khó đối là vì trong câu tuy nói Nghi-xuân là tên huyện Nghi-xuân (thuộc tỉnh Hà-tĩnh đã sản ra cụ Nguyễn-Du và cụ Nguyễn-công-Trứ). __ chợ Hạ là tên một chợ ở về vùng Nghi-xuân. __ Cá thu là tên một thứ cá bể mình dẹt và dài, thịt trắng và ngon, người ta hay mắm rồi bán, kẹp vào hai miếng gỗ. __ Chợ đông là chợ có nhiều người họp, nhiều người mua bán, trái nghĩa với chợ vắng, nhưng cốt ý lại dùng bốn chữ xuân, hạ, thu, đông. để chỉ bốn mùa trong một năm.


    178. __ CÔ LAN

    Cô Lan bán giấycửa đông, kẻ nam, người bắc, chưa bằng lòng cô.

    Câu này ra có hai cái khó: Một là tên người là Lan, mà chữ Lan 闌viết ngoài có chữ môn門 là cửa, trong có chữ đông東là phương đông, rồi dưới chữ Lan lại hạ luôn hai chữ cửa đông.

    Hai là trong câu có ba chữ Đông, Nam, Bắc, chỉ ba phương giời.


    179. __ CON GÁI

    Con gái bên đông, lấy chồng bên tây, cứ ở lòng ngay, chớ hề nam, bắc.

    Câu này nghĩa thẳng giải ra thật rõ, tưởng tìm câu đối không có gì là khó. Nhưng cái phần khó, là trong câu có bốn chữ dùng chỉ bốn phương Đông, Tây, Nam, bắc.

    Câu này đã có người thử đối với:

    Con giai phương cấn, lấy vợ phương tốn, phòng khi thiếu thốn, đổ lộn càn, khôn.

    Câu này chỉ cốt lấy bốn chữ: cấn, càn, khôn, đối với bốn chữ: đông, tây, nam, bắc. Nhưng kể không ai nói phương cấn, phương tốn bao giờ mà cả câu: phòng khi thiếu thốn đổ lộn càn khôn, cái nghĩa cũng không rõ ràng ra làm sao cả.


    180. __ GÁI NHƯ-TRÁC

    Gái Như-trác xấu như ma, người ta thiết tha như ma như trác.

    Câu này khó đối là bởi bốn chữ như trác, như ma nhắc lại hai lần, mà mỗi lần có một nghĩa khác: hai chữ Như trác trên là tên đất hiện nay thuộc về huyện Nam-sang, phủ Lý-nhân, tỉnh Hà-nam. Hai chữ như trác sau là hai chữ Hán 如瑑và nghĩa là như dũa vậy, __ Hai chữ như ma trên là hai chữ nôm và nghĩa là như ma, như quỷ; hai chữ như ma dưới lại là hai chữ Hán 如磨và nghĩa là như mài vậy. __ Vậy bốn chữ như trác, như ma, trên là lấy về đằng nôm, còn bốn chữ như trác như ma dưới với cả hai chữ thiết tha切差 là mượn ở chữ Hán. Vốn trong kinh Thi, có một bài dùng bốn chữ: như thiết, như tha, nói về đạo học, và bốn chữ: như trác, như ma, nói về cách tự-tu.


    181. __ HẸ CẬU NGHỆ

    Hẹ cậu nghệ khóc gừng, rức lác láng diềng ỏm tỏi.

    Câu này sở-dĩ chưa ai đối được là vì trong câu đủ cả bao nhiêu đồ gia-vị hôi, cay, xưa nay ta vẫn ghép với nhau cho như thuộc về cùng mộc-loại: nào hẹ, nào nghệ, nào gừng, nào diềng (riềng) lại nào tỏi, không thiếu thức gì!


    182. __ NGỒI CỐNG

    Ngồi cống cao chàng, bắt chân chữ ngóe, uống rượu thịt ếch, cóc có tiền, lại nói ương.

    Câu này khó cũng như câu Hẹ cậu nghệ (số 181) vì trong câu nhặt nhạnh đủ cả các tiếng chỉ về loài cóc nhái (batracien) chẫu chàng (trong câu chỉ có chữ chàng, cao chàng) ngóe, ếch, cóc, ễnh-ương (trong câu chỉ có chữ ương, nói ương).


    IV. __ CÂU ĐỐI KHÔNG GIẢI NGHĨA

    CÂU ĐỐI TẾT

    183. __ KHÔNG DƯNG __ CÓ NHẼ

    Không dưng xuân đến chi nhà tớ.

    Có nhẽ giời nào đóng cửa ai


    184. __ TỐI BA MƯƠI __ SÁNG MỒNG MỘT

    Tối ba mươi, nợ réo tít mù, mới Tết!

    Sáng mồng một, rượu tràn quí-tị, ái chà xuân!


    185. __ NỢ CÓ CHẾT __ GIỜI ĐỂ SỐNG

    Nợ có chết ai đâu đòi mà chi, giả mà chi, cha Tết!

    Giời để sống lâu mãi tiền cũng có, bạc cũng có, mẹ đời!


    186. __ CÓ LÀ BAO! __ ƯỚC GÌ NHỈ!

    Có là bao! Ba vạn sáu nghìn ngày, được trăm bận Tết

    Ước gì nhỉ! Một năm mười hai tháng, cả bốn mùa xuân.


    187. __ UẨY TẾT ĐẾN __ KÌA XUÂN SANG

    Uẩy! Tết đến rồi đó, chẳng nhẻ dơ cùi cùng tuế nguyệt.

    Kìa! Xuân sang đến nhỉ, phen này mở múi với giang san.

    __ Câu này là của người học trò, Tết đến, cả nhà chỉ có một quả bưởi, nên vịnh Tết như thế. Trong câu có những dơ cùi, mở múi, tức là ám chỉ quả bười.


    188. __ CŨ HAY __ NẾP CÓ

    Cũ hay, mới cũng hay, tâm niệm kiền thành dâng Tổ Khảo.

    Nếp có, tẻ cũng có, cám ơn dày phận khỏi long-đong.

    Hai câu này là của người hàng sáo dán Tết. Nhận trong câu có chữ nếp chữ tẻ, chữ tấm chữ cám. __ Kiền thành 虔誠là kính thành. __ Phải hai chữ danh từ Tổ, Khảo nghĩa là ông cha, đối với hai chữ long-đong là hai chữ phó-từ đi đôi không được cân.


    189. __ MỞ TOANG __ KHÉP KHÍT

    (Câu đối cô Tư Hồng dán cửa)

    Mở toang ra, toác toạc toàng toang, nền Tạo-hóa chia ra đôi mảnh.

    Khép khít lại, khìn khin khít khịt, máy âm dương đưa đẩy một then.

    Nguyễn-Khuyến (?)


    190. __ CHIỀU BA MƯƠI __ SỚM MỒNG MỘT

    Chiều ba mươi, công nợ rối canh tân, ước những mười năm dồn lại một.

    Sớm mồng một, rượu chè tràn quí tị, trông cho ba bữa hóa ra mười.

    Nguyễn công Trứ (?)


    191. __ TẾT CÓ GÌ __ XUÂN THÌ CHƠI

    Tết có gì, cũng viết hoài, viết soài, cũng chữ loài, dửng với họ ra điều học hiệc.

    Xuân thì chơi, nào câu đối, câu điếc, nào pháo phiếc, chán cho đời những sự Tết tung.


    192. __ GIỜI NĂM TÍ __ ĐẤT HỘI SỬU

    Giời năm Tí thế nào, năm nay thế vậy, có tai, có mắt, nghe thấy cũng chẳng xa, mười hai tháng mới đổi một đương niên, (1) năm tuy mới, nhưng giời vốn cũ.













    Đất hội Sửu ở đâu, hội này ở đấy, không cánh, không chân, bay đi đâu mà ngại, muôn nghìn năm biết bao nhiêu mại chủ (2), ai rằng mất, nhưng đất vẫn còn.


    Đôi câu đối này là của ông Phạm-Thái làm về dịp Tết. Thực, chỉ có một vế trên nói về Tết còn vế dưới nói về ruộng, đất muốn bán. Nguyên cụ đẻ ra ông Thái đỗ Tạo-sĩ đời Lê, làm chức Tri-quan cho quan Đồn-trưởng ở Trường-An, có để lại ít ruộng ở Trường-an. Ông Thái muốn bán, có người can rằng nên đợi, không nên bán e rằng thiệt. Ông không nghe, cứ bán. Ta xem từ chữ <<…Muôn nghìn nâm.. đất hãy còn, thì đủ biết>>.

















    193. __ XUÂN MỚI GỌI __ TUỔI CŨNG THÌ

    Xuân mới gọi là xuân: xuân thiều quang thục úc (1) xuân xướng mậu huyên hòa (2), ai chẳng mong xuân mãi để vui đời, kìa xem nơi kia dinh, nơi nọ dáo, nơi ấy diếm dua, cờ người, kéo hội, bắt chạch, gieo đu, xuân năm ngoái vui lắm, năm nay lại vui ghê, muốn xuân mãi để nhẫn-nha (3) ngày tháng Bụt.












    Tuổi cũng thì là tuổi: tuổi phú quí vinh hoa, tuổi công danh sự nghiệp, ai chẳng muốn tuổi dài cho sướng kiếp, nhưng mà ngày nay cờ, ngày mai bạc, ngày kia chè rượu, quay đất, bài phu, tổ-tôm, sóc-dĩa, tuổi ngày trước dại vừa, ngày rày con dại mãi, nhiều tuổi chi cho tổn-ải (4) nước non giời.

    Phạm-Thái
  • Chia sẻ trang này