1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0101.00002

1/2/16
0101.00002
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    Hoặc: “ Đôi lúc sông Đà mùa nước, nước rộng mênh mông gió cuốn mặt sông, sóng nho giòng nước, cái cảm tình phấn khích lại cũng theo với những sóng gió, nước mà tưởng như phá lãng thừa phong.”

    Nhưng:

    Ông lãng-mạn, ông phải đem cái bản-ngã của ông ra mà hiến thiên hạ.Ông muốn diễn những tư tưởng lãng-mạn của ông, ông phải dùng một thứ văn xuôi dịu dàng, bóng bẩy, hoặc vận văn.

    Khó cho ông lắm!

    Ông sinh trưởng vào hồi mà ảnh hưởng của văn-hóa âu-tây ở xứ ta chưa rõ rệt cho lắm, lúc bấy giờ mỗi người còn như đang sống vào thời cổ điển, còn khư khư giữ lấy những ý tưởng nghiêm khắc, cho cái ta là đáng ghét”: một người nói đến cái bản ngã của mình là một người tự đắc bất lịch sự.

    Khi ông Nguyễn khắc-Hiếu xuất-bản tập “Giấc Mộng Con”, ông Phạm-Quỳnh phê-bình:

    Người ta, phi người cuồng, không ai trần chuồng mà đi ngoài phố.Nhà làm bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào cũng vậy, không ai đem cái thân thế mình mà làm chuyện cho người đời xem.”

    Ông làm thơ nôm giữa lúc người ta cho rằng “Vận văn chỉ là cái đồ thích tính đào tình, tiêu khiển trong lúc trà-dư tửu-hậu “ hay là:

    Tiểu-thuyết-ký-sự, luận thuyết, diễn thuyết là những văn chương hữu dụng, còn thơ phú, ca dao, có vần có điệu chỉ dùng để ngâm nga, không suy ra sự thực… những lối ngâm hoa vịnh nguyệt dù hay cho quỷ khóc thần kinh cũng không đáng giá một đồng tiền kẽm”. (Nguyễn-bá-Trác)

    Giữa lúc ai ai cũng sốt sắng nâng cao trình độ quốc-văn, hấp thụ lấy văn mình âu-tây, ông sống biệt một nơi để phụng sự những ý tưởng lãng-mạn của ông. Ông mang tiếng là một người “ngồi không ăn dưng”.

    Thời gian qua, người ta bắt đầu hiểu ông ca tụng ông và chịu ảnh-hưởng của ông.














    Mộng và Mộng.

    Ông Nguyễn khắc-Hiếu nói:” Mộng là mộng, đời người cũng là mộng, mộng là cái mộng con, đời là cái mộng lớn chỉ khác nhau vì giài ngắn lớn nhỏ mà thôi”.

    Cái quan-niệm về đời người ấy không phải ông Hiếu đã có đầu tiên; từ hai ba mươi thế kỷ, người ta đã lẩm bẩm “đời là giấc mộng”, người ta đã không tin ở phần vật chất của đời.

    Nhưng trái hẳn với tiền-nhân, ông Nguyễn khắc-Hiếu không đem cái quan-niệm ấy ra làm một quan-niệm triết-lý, một lý-thuyết hẳn. Ông là một nhà ngụy-thuyết (un sophis-te). Khi ông nói đời là một giấc mộng, ông còn nhìn thấy mảnh giấy, cán bút, ông còn đang nghĩ một cách thông suốt, ông không phải ở tỏng một cõi mộng. Ông biết thế nhưng ông cũng cố tưởng rằng ông đang ở trong mộng ông muốn đánh lừa trí tưởng tượng của ông rồi, ông mới đếm cái quan-niệm kia ra để phụng sự một vài trí hướng của ông.

    Ông mộng. Đời ông là một giấc mộng lớn, trong giấc mộng lớn ông lại có những giấc mộng con, có giấc mộng con thứ nhất rồi lại giấc mộng con thứ hai, rồi lại giấc mộng con thứ ba, ông mộng rồi ông lại mộng, ông chỉ sống vì mộng mà thôi.

    Vì thế mỗi khi đọc ông, người ta tưởng tượng ngay một người nét mặt hàng giờ không thay đổi, trí “tiêu dao những chốn mộng ảo bất kinh”.

    Ta có thể tìm được những cớ nó đem ông vào “cõi hư tưởng” như ông Phạm-Quỳnh đã nói.

    Theo ông thì “đời là một chỗ bắt người ta phải ở”.Sống riêng với cái đời vật chất, người ta chỉ thấy những cái nhỏ nhen đáng chán.Sống như vậy thì còn ý-vị gì nữa.Muốn tìm thấy ý-vị người ta phải thoát-ly cái đời vô vị ấy, người ta phải vượt khỏi cái đời bao la, tuy thân ta vẫn phải nhẫn nại ngồi trong ấy. Ta chỉ cần rời hẳn cái đời mà ta đang sống mà thôi. Tìm một thế giới khác đó là một sự nhu-cầu của một linh hồn đã chán cái đời hiện tại.

    Nhưng nếu một lần ông đã xa hẳn cái thế giới ta đang sống, ông lại sống vào những cảnh đáng buồn thứ hai, thứ ba nữa… Không, khi ông mộng, ông được sống những cuộc đời mới mẻ đẹp đẽ, tự ông vẽ ra theo trí tưởng tượng của ông. Chính trong những cuộc đời ấy, ông mới có thể có được “cái tự do trong sạch, cái độc lập thanh nhàn” mà từ trước đến nay óc lãng-mạn của ông vẫn ao ước. Chính trong những lúc ông ngao du như vậy, ông mới có thể thấy những “cảnh bao la bát ngát” mà trí tưởng tượng của ông vẫn khát khao, nào núi tuyết, nào rừng băng, nào sông Ngân-Hà, nào bể Nam-Minh. Lại tỏng mộng ông mới cỏ thể gặp được những người lý tưởng.

    Ông cho tình ở hạ giới là hèn ông tự vẽ ra một người vừa đẹp, vừa giỏi văn-chương. Rồi ông cũng bắt tình với người ấy, ông cũng thư từ thăm hỏi, ông cũng biệt cũng ly, ông cũng cùng tình nhân ngao du trên mặt sông: “Một giải nước trong không đáy, hai thuyền con nhè nhẹ cùng bơi; ra đến giữa dòng sông thật là “thu thủy trường thiên nhất sắc”, khi đó gác rầm cùng buông thuyền cho trôi xuôi”.

    Nhưng cái động-lực nó bắt ông mộng mị luôn có lẽ là tính ngông của ông.Cái gì thuộc của ông là ông muốn cho khác đời, cái tình của ông cũng lạ; văn-chương thi-ca của ông, ông cũng muốn nó là văn-chương độc nhất; thi tứ của ông, cũng muốn từ xưa đến nay chưa từng có. Ông dùng cái mộng của ông để cho đời biết rằng văn của ông là “văn có số hạn”, từ xưa đến nay từ nay về sau chắc không ai bằng, ý ông nghĩ là những ý tưởng ly kỳ người tri thức tầm thường không thể thấu được”; những văn ấy có trời hiểu và trời đã phê-bình một cách xác đáng:

    Giời lại phê cho : văn thật tuyệt!

    Văn trần được thế chắc có ít

    Nhời văn chuốt đẹp như sao băng

    Khi văn hùng mạnh như mây chuyển

    Êm như gió thoảng! tinh như sương

    Dầm như mưa sa! Lạnh như tuyết”.

    Những văn thơ của ông không thể bán ở trần gian, đã mấy lần ông đem nó lên tận chợ giời để bán.

    Về phương diện tư-tưởng, cái quan-niệm về đời thường của ông Tản-Đà thật đáng trách.Ông là người có thiên tài, lúc nào ông cũng có cái mộng làm một nhà văn-học kiêm triết-học, ông lại có những tư tưởng ly-kỳ ấy được.Ông là người lúc nào cũng toan ghé vai vác quả địa cầu thế mà vì chán đời ngồi rồi mơ tưởng đến những sự không có, để mất thì giờ. Ông viết:

    Nhân hồi towngr từ nửa đêm nay thuộc năm Quí-dậu trở về trước, giấc mộng con là mộng, giấc mộng lớn cũng là mộng.Duyên trái Hà-Thành, thì bay Nam-Định đã là mộng, chủ bút báo Hữu-Thanh, chủ sự báo An-nam chẳng qua cũng là mộng. Diễn thuyết Tri-tri giảng học Hồng-bàng đã là mộng; thư điếm phố Hà-nội, biệt thự Vĩnh-yên chẳng qua cũng là mộng. Nghĩ vậy thời lại thấy bao nhiêu năm trước Quí-dậu đó đều cũng chẳng có chi là giá trị mà cứ gì Quí-dậu một năm”.(Tản-Đà Xuân Sắc).Nếu như vậy không kể những năm đã qua, còn những năm sẽ tới ông còn coi nó ra gì, nghĩ mà tiếc cái tài của ông.

    Khi quyến Giấc Mông Con của ông xuất bản, ông Phạm-Quỳnh chủ nhiệm báo Nam-phong, có đứng về phương diện tư tưởng mà phê-bình một cách cay nghiệt ông, coi quan niệm của ông Tản-Đà là một quan niệm đứng đắn, một quan niệm triết lý, một lý thuyết và “lý thuyết ấy có nhiều người công nhận không, hay chỉ là sự mơ tưởng của một bọn chán đời, của mấy tay yêu quái trong làng văn”. Ông coi quyển Giấc Mông Con là một tập văn nghị luận, vì thế ông HIếu nói chơi ông bắt buộc lời ông phải thật , rồi ông cứ đem những văn chơi ấy ra mà bẻ, bẻ một cách hóm hỉnh:

    Ông đương ở Sài-Sơn, hốt nhiên thấy vào Sài-gòn, đương ở Sài-gòn hốt nhiên thấy sang Đại-Pháp, đang ở Đại-Pháp hốt nhiên thấy sang Mỹ-châu, đang ở Mỹ-châu hốt nhiên thấy lên Bắc-Cực, đang ở Bắc-Cực thẳng tới bể Nam-Minh như chim bằng trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào Trang-Tử. Vùn vụt lại vùn vụt, chẳng biết đầu đuôi duyên cớ làm sao. Nhưng lạ thay! Đã đi đến thế sao không quá bước lên cung mây hỏi thăm chú Cuội:” (Nam-phong 1918).

    Ông quên rằng những quyển Giấc-Mộng đều kê vào loại tiểu thuyết của ông Hiếu cả.có trách chỉ nên trách ông Hiếu đã tự đem ông ra làm vai chính trong tiểu thuyết của ông. Khi viết tiểu thuyết, ông lại quên rằng ông viết cho đồng-bào xem, ông cứ tự tiện tán tụng ông, khen ông, đặt ông lên trên mọi người.

    Nay ta thử đứng riêng về phương diện văn chương mà xét mấy Giấc Mộng của ông.

    Ta không nên tin ở cái đầu đề ông đã chọn, ông nói cuốn “Ba mươi bảy năm Nguyễn Khắc-Hiếu” của ông là Giấc Mộng Lớn, nhưng ta đọc Giấc Mộng Lớn ta không thấy gì là mộng cả. Nó không khác gì những tập ký ức, những pho tự thuật của các văn sĩ Âu tây. Nó là “một phiến ảnh của tác giả đưa cùng các bạn tương thân tương ái ở gần xa, có quen biết hay không quen biết”, Nó có thể gọi là tập ký ức viết bằng quốc văn thứ nhất của ta. Từ khi nó ra đời, người ta đã bắt đầu mạt sát nó, ngày nay người ta đem nó lên xe lửa bán giao, nhưng sau này nó sẽ rất có giá trị cho ai muốn khảo cứu về thân thế và văn chương của ông.

    Còn mấy quyển Giấc Mộng Con chẳng qua chỉ là một phương tiện để cho cái tâm hồn thi sĩ của ông phát triển. Trong ba Giấc Mộng, cảnh và nhân vật đều có vẻ nên thơ. Những bức thư của tác giả, của những người trong mộng như Chu Kiều Oanh đều đầy một thứ tình êm đềm và ý vị. Những bài thơ làm trong khi ông mộng hoặc khi ông đã tỉnh mộng đều là những áng thơ tuyệt tác. Ta hãy giở trong tập thơ của ta từ mấy trăm năm nay, ta tìm thế nào cho thấy những bài thơ như bài:

    Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi,

    Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi,

    Nghĩ đời lắm lúc không bằng mộng

    Tiếc mộng bao nhiêu dễ chán đời.

    Những lúc canh gà ba cốc rượu

    Nào khi canh điệp bốn phương giời

    Tìm đâu cho thấy người trong mộng

    Mông cứ mê đường biết hỏi ai”.

    Để mà kết, ta không nên quá nghiêm khắc khi xét mấy cái mộng của ông. Khi ta đọc xong, ta không xét xem có phải “mộng là cái mộng con, đời là cái mộng lớn” hay không, ta chỉ nên biết rằng ông đã tìm được trong cái quan niệm của ông những thi tứ lạ và đáng yêu mà thôi.










    Tình Cảm

    Ông Nguyễn khắc-Hiếu cũng thờ ông Khổng ông Mạnh, nhưng ông không thể sai khiến được tình-cảm của ông.Ông là đồ chơi của tình-cảm của ông.Ông là một nhà văn hoàn toàn trữ-tình lạc vào một thế-giới khô khan, sống vì đạo lý.

    Trong tập Nhàn Tưởng của ông, ông viết: “ Lấy cảm tình mà nghĩ thời cân cả thế giới với một người chưa hẳn đã bên nào nặng hơn “ Chỉ xét câu ấy cũng đủ biết cái tình của ông nặng đến bực nào và muốn biết thế không gì bằng tìm những nguồn tình cảm của ông, cách phát triển của những tình-cảm ấy:

    Cứ tin ở Giấc Mộng Lớn của ông thì văn nghiệp của ông bắt đầu bằng hai câu thơ:

    Đêm thu buồn lắm chị hằng ơi,

    Trần giới em nay chán nửa rồi.”

    Năm ấy ông mới mười chín tuổi theo học trường Quy-thức ở phố Gia-Ngư. “Ở phố Hàng-Bồ số nhà hơn hai mươi về bên lẻ có một người con gái ngồi bán hàng tạp hóa không biết có phải người tuyệt-sắc hay không mà tự con mắt mình khi bấy giờ thì như ngoài người ấy không có ai là người con gái”.

    Ông đem lòng yêu.

    Rồi “mỗi buổi chiều tan học ở Gia-Ngư về phố Hàng-Nón trừ khi trời mưa gió, thường tất phải đi quanh qua phố hàng Bồ”

    “ Tấm lòng ao ước ngỏ cùng một người an hem bạn học đồng canh. Người bạn đi nói giúp việc mối. Cứ bên nhà người con gái thời việc có lẽ xong : bên nhà [ông ] thời ông anh chỉ bảo một câu rằng : “nhà ta nghèo như thế lấy đâu song-mã mà cưới”.

    Ông bị thất-vọng vì tình khi ông 20 tuổi.

    Ông vốn đa tình từ bé, khi còn đi học, học “ Ấu học ngũ ngôn thi “, ông ưa nhất hai câu:

    Hoa cù hồng phấn nữ.

    Tranh khán lục y lang.

    Tả lúc học trò thi đỗ về, con gái thành phố ngấp nghé nhìn.

    Một người như ông mà mãi đến 20 tuổi mới yêu?Không.Ông đã yêu, một cách kín đáo và từ khi mới 13 tuổi. Về sau khi ngồi buồn, ông lại nhớ đến mối tình ngây-thơ của ông:

    Ngồi buồn lấy giấy viết thư chơi,

    Viết bức thư này gửi đến ai,

    Non nước thề nguyền xưa đã lỗi!

    Ân tình nay có bốn xu thôi”

    (K. T. C. II)

    Trong văn-nghiệp của ông, chỉ có dấu vết của hai mối tình trên.

    Đối với một người trong lòng lúc nào cũng mang nặng cái “khối tình” , thì tôi thiết tưởng hai mối tình cũng chưa thể làm “ vợi được cái nguồn thương nỗi nhớ “ của ông.

    Ông phải tưởng-tượng ra, một tình nhân, một tình nhân … không quen biết ; ông tưởng-tượng ra rồi ông cũng yêu, cũng nhớ, rồi ông:

    Ngồi buồn lấy giấy viết thư chơi.

    Viết bức thư này gửi đến ai,

    Non nước xa khơi tình bỡ ngỡ,

    Ai tri âm đó! Nhận mà coi.”

    (K. T. C. II)

    Trong thư ông tỏ rõ rằng ông nhớ, ông mong. Một sự kỳ dị trong sự nhớ mong của ông là ông nhớ một người ông chưa từng gặp, mà sự nhớ của ông cũng man-mác lâm-ly mới lạ :

    Giải sông cũ đầy vời cữ nước,

    Đỉnh non xưa tản mác ngàn mây.

    Nước mây ngày tháng đổi thay.

    Non sông ngày cũng một ngày khác xưa.

    Tình thư gửi đến chưa ?chưa đến?

    Nước non này ai hỏi hỏi ai !

    Ngư nhàn trông mất tăm hơi,

    Nước mây man mác cho người sầu thương…

    Thế mà gửi tình thư hai bức

    Những là mong tiêu tức tám năm

    Phải rằng ai hẳn vô tâm,

    Núi sông mây nước cũng nhầm bấy nay.”

    Ông viết đến bức thư tình thứ ba thì thôi vì không có ai trả lời cho ông cả ; ông coi như trên đời ông không có ai là “ người tình nhân không quen biết “.

    Sau đấy ít lâu, bà Song-Khê, em ruột Tương-Phô nữ-sĩ dưới cái biệt hiệu Đỗ-tang-Nữ gửi tặng ít rau sắng ; kèm với rau có mấy câu:

    Kính dâng rau sắng chùa Hương,

    Tiền đò đỡ tốn, còn đường đỡ xa,

    Không đi thì gửi lại nhà,

    Thay cho dưa khú cùng là cà thâm.”

    Bà giả lời mấy câu của ông viết trong tập Khối Tình Con:

    “Muốn ăn rau sắng chùa Hương,

    Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa,

    Người đi ta ở lại nhà

    Cái dưa thời khú, cái cà thời thâm.”

    Bà Song Khê tức là một người tình nhân không quen biết của ông vậy.Ở trên đời, còn có bao nhiêu người cũng yêu ông, mến ông nhưng chưa hề quen ông.

    Câu chuyện tình trên này của ông sẽ được người ta nói đến mãi.

    Như thế không những là vì mấy lá thư của ông gửi cho tình-nhân của ông lời lẽ lâm-ly mà lại vì nó là một chuyện tình oái oăm. Nó sẽ được người ta nói đến chẳng khác gì mối tình của Arvers bên Pháp.

    Yêu một số đông người người không quen biết còn chưa thể nhẹ được cái khối tình của ông, ông còn yêu độc giả An-nam tập-chí, “ yêu không lúc nào rước “, như ông thường nói, yêu tất cả mọi người:

    “Kể từ độ lọt đầu se tóc,

    Cũng cùng mang tiếng khóc mà ra.

    Cõi sầu ta lại với ta,

    Lọ quen biết mới gọi là tương tri.”

    (K. T. C. II)

    Yêu hết người sống, ông yêu đến người chết ; ông nhớ chị Xuân-Hương, nói chuyện với Hàn-Thuyên, với Nguyễn-Trãi.

    Yêu hết người sống và người chết, như đã nói, ông yêu người trong mộng.

    Cô Chu-kiều-Oanh là một người yêu lý-tưởng của ông.Ông rất yêu phục cô, trái lại cô cũng rất mến yêu ông.Cô là người có sắc lại giỏi văn-chương.Ông được gặp cô trong mấy giấc mộng của ông. Cô gửi cho ông những bức thư đầy rẫy tình yêu, ông cũng gửi cho cô những bức thư rất thân mật.

    Người ta thường nói “yêu nhau một cách cao thượng “ yêu bằng một mối tình lý-tưởng. Nếu ở trên đời thực có tình lý-tưởng thì mối tình của ông Tản-Đà phải là một.Còn gì cao thượng bằng yêu một người mình tưởng-tượng ra, còn gì nên thơ bằng yêu một người mà mình chỉ có thể gặp được ở trong mộng.

    Nếu những mối tình với cô bán hàng tạp-hóa ở Hàng-Bồ… mà được người ta nhắc đến, thì mối tình Chu-kiều-Oanh phải được người ta ca tụng đời đời.

    Đã có người nghi rằng cái tình của Tản-Đà không thực, những tình-cảm của ông là những tình tiểu thuyết. Khi ông nói rằng ông nhớ ông thương, ông chỉ nói thế cho có chuyện mà thôi, thực ra ông không nhớ không thương ; ông cần nặn ra thơ, thì ông

Chia sẻ trang này