0101.00003

1/2/16
0101.00003
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}

    phải tìm đề trong sự nhớ thương.

    Về phần tôi, tôi không nghĩ thế. Tôi tin rằng, khi ông nhớ người tình nhân có quen biết hay không quen biết, ông có cảm thấy sự nhớ nhung khi lâm-ly khi man mác:

    Mình ai chiếc bóng đêm thâu,

    Nỗi riêng, riêng một mối sầu vì ai.

    Tâm sự ấy nói dài sao xiết,

    Giấy mực đâu vẽ hết du mà

    Dở dang là chữ tài hoa,

    Chắp tay vái lạy giăng già chứng cho

    ………………………………………

    Gập tờ giấy niêm phong hạt lệ,

    Nhờ cánh tem bay độ cung mây.

    Ái ân thôi có ngần này,

    Thề nguyền non nước đợi ngày tái sinh.”
    (K. T. C. II)​

    Hoặc:

    “Trông mây nước bốn bề lạnh ngắt

    Ngắm non sông tám mặt sầu treo.

    Đường xa gánh nặng bóng chiều;

    Cơn going biển lớn, mái chèo thuyền nan.

    … Nghĩ thân thế mềm gan lắm lúc

    Nhìn giang-san bạc tóc như chơi.

    Mong ai mỏi gối chân trời,

    Nhớ ai đi dứng ăn ngồi thẩn thơ.

    *

    **

    Văn-chương thời nôm na,

    Thú chơi có sơn-hà.

    Ba-vì ở trước mặt,

    Hắc-giang bên cạnh nhà,

    Tản-Đà.

    Ông Tản-Đà sinh trưởng ở chốn nguồn sông kẽ núi từ bé ông đã luôn luôn thấy Ba-vì ở trước mặt, Hắc-giang bên cạnh nhà.

    Sau này khi ông đã trưởng-thành, ông vẫn luôn luôn nhớ đến những cảnh nó đã bao bọc ông khi còn ngây thơ. Ông vẫn tự cho là hơn người ở chỗ được sinh vào nơi ấy:

    Sông-Đà núi Tản đúc nên ai,

    Thân thế xưa nay được mấy người… “

    Cái tình của ông đối với nước non một phần nẩy ra từ đó.

    Ông lại còn là một nhà nho đã đọc nhiều bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào Tàu và ta ông chịu rất nhiều ảnh-hưởng lãng-mạn sáng xuốt của họ.

    Theo các cụ nho, thì sông núi gió giăng là những vật có thể gợi cho các cụ cái quá khứ hoặc êm đềm, hoặc cay đắng.Nhưng nó không được làm bận trí các cụ, khi các cụ không đứng vào những cảnh ấy.

    Sông núi đối với các cụ là biểu hiện quốc-gia, biết bao nhiêu thi-sĩ đã đem những nỗi đau thương vì nước để gửi vào non sông.Bao nhiêu người đã đứng lặng ngắm non sông mà không khỏi tưởng đến những cuộc tang-thương ở đời, và gẩy những khúc nhạc ai oán.

    Ở cái tình đối với non nước của ông Tản-Đà, tôi phải phân biết tình tự nhiên mà có và tình do sự học đào-tạo ra.

    Tình tự nhiên của ông rất phức tạp, khi nó man mác khi nó đắm đuối, khi nó có vẻ không thành thực. Có một điều chắc chắn nhất là cái tình đối với non nước của phần nhiều là do ở “lòng quê” mà ra. Ông là một làng-sĩ (1) lang-thang quản bút với sơn-hà.Mỗi khi ông nhắc đến sông Đà núi Tản là ông nhắc đến quê-hương của ông.

    (1) Bohémien

    Mà có lẽ ông chỉ nhắc đến là vì thế : “ Từ bấy đến nay, tính ra đã bảy tám năm giời, chưa từng về đến gia-hương ; mây non Tản, sóng sông-Đà, chỉ tưởng xa trông mà nhận đó là nơi cố hương vậy… “

    “ Sóng dợn sông Đà con cá nhảy,

    Mây chùm non Tản cái diều bay.”​

    Yêu non nước không phải vì non nước ấy đẹp mà vì non nước ấy là cửa quê-hương; tình non nước phối hợp với lòng quê, kể cũng là một cái đặc-sắc trong cái tình đối với non nước của một nhà nho.

    Một đặc điểm nữa: có khi ông đứng trước một cảnh, ông thấy tâm hồn ông rung động mạnh, hình như có một tiếng huyền bí nó gọi ông, nó dục ông tan hòa vào với nó.

    “Hằng khi dưới bóng tà dương, một mình lơ lửng trên con đường đê cao, bên nọ sông Đà, bên kia núi Tản. Một mối cảm tình thanh thượng, lơ thơ như tơ liễu chiều xuân…

    “Lại đôi lúc sông Đà mùa nước, nước rộng mênh mông, gió cuốn mặt sông, sông nhô giòng nước, cái cảm tình phấn khích lại cũng muốn theo những sóng gió nước, mà tưởng như phá lãng thừa phong”.

    “Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán,

    “Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong.”​

    Chịu ảnh hưởng của bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, ông Nguyễn khắc-Hiếu cũng có những tình non nước mà tôi đã gọi là tình tiểu-thuyết.

    Những câu, đoạn văn gợi cái tình ấy ra chỉ là những cái khung cho một bài thơ, hoặc một đoạn văn:

    “Đỉnh non Tản mấy giờ man mác,

    Giải sông Đà bọt nước lênh đênh

    Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình,

    Nước kia mây nọ như mình với ta​

    Hoặc:

    “Bước chân ra khỏi cổng Hàn,

    Nước non man mác muôn ngàn dặm khơi.

    Gánh tình nắng lắm ai ơi!

    Tiền mang bạc giắt thuê ai đỡ cùng”.​

    Nhưng đối với ông Tản-Đà cái tình tiểu-thuyết có vẻ thực hơn rồi:

    “Hỏi mây nước mây xanh chẳng biết

    Hỏi cùng sông, nước biếc không hay.

    Sông nước chảy, núi mây bay.

    Mình ơi có biết ta đây nhớ mình”.​

    Lại như trong bài thơ tuyệt tác “Thề non nước” có mấy câu:

    Non cao những ngóng cùng trông

    Suối khô giòng lệ chờ mong tháng ngày.

    Xương mai một nắm hao gầy,

    Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.

    Giời tây chiếu bóng tà dương

    Càng phai vẻ ngọc nét vàng phôi pha.

    Non cao tuổi vẫn chưa già,

    Non thời nhớ nước, nước đà quên non”.​

    Đọc mấy câu thơ này, ta thấy cái tình của non đối với nước nặng bao nhiêu thì cái tình của thi-sĩ đối với non nước nặng bấy nhiêu.

    Tuy thế, ông Tản-Đà cũng không khỏi rơi vào những cái sáo của tiền-nhân, ông dùng thơ tả cảnh làm mũ cho bài thơ:

    “Trông giăng lại nhớ đến người”

    “Trông thấy giăng mà nhớ đến ai”…​

    Nhưng khi ta xét cái tình của ông, ta có đôi chút quan-niệm về lịch-sử, ta đặt ta về hai mươi năm về trước, ta công nhận cách tả cảnh tổng hợp của tiền-nhân, ta sẽ thấy ông có một ngọn bút tài tình:

    “Cong sông xuân nước chẩy lờ đờ.,

    “Thuyền trôi lững thững, giăng tờ mờ soi…

    Nước tuôn ngòi biếc trong trong vắt,

    Đá hỏm hom đen tối tò mò…

    Dưới đường sóng bể nhấy reo

    Như mừng bạn mới, như chào khách xa.”
    Khi ông tả cảnh cũng như khi ông gợi tình, ta nhận thấy cái đặc điểm “chơi” của nhà thi sĩ. Mà thật ra thì ông cũng như hầu hết các nhà nho, tả cảnh gợi tình chỉ để mà chơi thôi:

    “Chơi cho biết mặt sơn-hà

    “Cho sơn-hà biết ai là mặt chơi”.










    Ngông

    Ngông, làm thơ để ví mình với vua, tiên, làm văn để tỏ mình khác người, hơn người, đó là cái bệnh chung của các nhà nho, thứ nhất là các nhà nho yếm-thế, quay lưng lại thời cuộc, đi sống một đời riêng của mình.

    Từ Chu-mạnh-Trinh, Nguyễn-Du qua Nguyễn-Công-Trứ, Cao-Bá-Quát, Tú-Xương, bao nhiêu là kiểu-mẫu của cái ngông ấy trong lịch-sử văn-học.

    Tôi còn chưa kể thi-sĩ Tản-Đà.

    Ông Tản-Đà vốn giòng giõi quyền quí, tổ tiên xưa đã thi đỗ đỗ làm quan ; ông thân sinh ra ông làm đến chức ngự-sử trong kinh thế mà có bao giờ ông nói đến ; ông không cho thế là hơn người. Ông chỉ tự-hảo ở chỗ ông là người của núi Tản sông Đà.

    “Sông Đà núi Tản đúc nên ai,

    Thân thế xưa nay được mấy người!”
    Người ta tượng-trưng cái cao-thượng của người, ở đám mây trắng, cái quan-tử, bằng cây thông, ông tượng-trưng cái to lớn hùng vĩ của ông bằng cả quả núi ngọn sông.

    Ông là thi-sĩ, văn của ông là văn có số hạn, người ta khen ông cũng nhiều, chê ông cũng nhiều, nhưng ông tỏ vẻ khinh đời, không hề để ý đến những lời khen chê ấy.

    Văn-thơ của ông ê, ông đem lên chợ giời để bán cho tiên, cho giời. Và theo ông, các ngài có biết giời phê thế nào không ? Trời lại phê:

    “… Văn thật tuyệt,

    Văn trần được thế chắc có ít,

    Nhời văn tốt đẹp như sao băng,

    Ý văn hùng mạnh như mây chuyển,

    Êm như gió thoảng, tình như sương,

    Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết.”​

    Và lại có dịp để trời hỏi:

    “Chẳng hay văn sĩ tên họ gì?

    Người ở phương nào ta chưa biết.”​

    -Dạ bẩm lạy trời con xin thưa:

    Con tên Khắc-Hiếu họ là Nguyễn,

    Quê ở Á-Châu về Địa-cầu,

    Sông Đà núi Tản nước Nam-Việt,

    Thiên-Tào tra sổ, xét vừa song,​

    Đệ sổ lên trình Thượng-Đế trông:

    “Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc-Hiếu,

    Đày xuống hạ giới vì tội ngông.

    Trời rằng không phải là trời đày,

    Trời định sai con một việc này,

    Là việc thiên-lương của nhân loại,

    Cho con xuống thuật cùng đời hay”.​

    Cả cái ngông cuồng nhà thi-sĩ là ở đoạn thơ tôi trích trên đây.Tôi không cần bàn luận thêm nữa.

    Hai lần hỏng trường Nam đem lại cho ông sự thất vọng về công danh, lại đem cho ông sự tuyệt-vọng về tình-ái.

    Không được “võng anh đi trước võng nàng đi sau “, cô hàng tạp-hóa ở Hàng-Bồ đã để cho trái tim ông một vết thương nặng. Sự thật là thế, nhưng cứ căn-cứ ở văn-thơ ông thì đó chỉ là một truyện vặt ông đã kể qua khi ông viết Giấc Mộng Lớn mà thôi.

    Một mối tình của con người trần tục đâu ông thèm để ý đến.Sau này ông không có cô hàng tạp-hóa ở hàng Bồ nhưng ông có bao nhiêu mối tình “tiên” hơn.

    Một mỉm cười, một e-lệ của con người chưa thoát được vòng danh-lợi làm cho ông cảm động đâu bằng một nắm rau sắng chùa Hương của người tình không quen biết (!)

    Những lời thỏ thẻ của người con trần tục có mãnh lực đâu bằng những bức thư tâm-huyết của Chu-Kiều-Oanh, một người tình lý-tưởng của ông, một vị tiên đã cùng ông ngao du trên sông Ngân-Hà, ngoài bể Nam-Minh.

    Lại có lần ông cho ông là một vị tiên ăn trộm đào bị đầy xuống hạ-giới, còn nhớ trời có hai đứa con gái, Chức-Nữ với Hằng-Nga, ông viết thư lên hỏi, để cho trời mắng:

    “Tình riêng ra ngẩn vào ngơ

    Ngồi buồn lấy giấy viết thơ hỏi giời.

    Xem thư giời cũng bật cười

    Cười cho hạ-giới có người oái-oăm.

    *

    **

    Khách hà-nhân giả

    Cớ làm sao xuồng-xã dám đưa thư

    Chốn thiên cung ai kén rể bao giờ

    Chỉ những truyện vẩn vơ cùng giấy má,

    Chức-Nữ tảo phùng giai-tế giá,

    Hằng Nga bất nại bảo phu miên.

    Mở then mây quăng giả bức hồng-tiên

    Mời khách hãy ngồi yên trong cõi tục

    Người đâu kiếp trước Đông-phương-Sóc

    Ăn trồm đào quen học thói ngày xưa,

    Trần gian đầy mãi không chừa.

    Chắc mỗi lần nghĩ đến những giấc-mộng, những người tình của ông, ông phải hỏi: “Có ai tiên như ta, có ai được yêu như ta không?”

    Ta để ông trả lời, để ông được hơn người cho toại cái ngông của ông.

    Đã có lần tôi nói đến cái sứ-mệnh mà thi-sĩ đã tự đeo lên lưng thi-sĩ.Trừ việc thiên-hương trên, tôi còn muốn chép lại một vài câu chuyện, hoặc đã được đọc trên báo, hoặc đã được nghe người kể lại.Nghe đâu một người đàn bà vì yêu thơ của ông, muốn có một bức ảnh của ông.Người ấy viết thơ đến hai lần, thi-sĩ mới trả lời, mà trả lời ở đâu, ở trên An-Nam tạp-chỉ.Đại khái ông nói rằng đã từ hai ba mươi năm ông không hề chụp ảnh, vì vậy ông không có ảnh cho.Mà cần gì phải có ảnh của ông, văn-thơ của ông tức là hỉnh ảnh của ông vậy. Nếu khó tính chưa được toại lòng về bức ảnh ấy thì ông lại xin cho một bức ảnh khác rõ hơn : hình ảnh người gánh bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào ở bìa An-Nam tạp-chí và tất cả các bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của ông. Hình ảnh ấy, ai cũng rõ, tượng-trưng công-việc của ông, sứ-mệnh của ông.

    Thế vẫn chưa hết.

    Ông Tản-Đà cũng như mỗi nhà nho ta, trong bụng có một ông vua.Ông cũng làm thơ khẩu-khí vịnh “bù-nhìn”, “giang-sau”, ngông-nghênh coi như đất nước là của mình. Theo người bạn kể lại thì khi ông có cái đồn điền ở Vĩnh-Yên, ông sửa-sang làm như xứ-sở riêng của ông. Ông sung-sướng được làm chủ An-Nam với ngọn Cờ-Vàng.Ông có trách nhiệm bồi bổ xứ-sở làm cho mỗi ngày một tốt đẹp hơn.

    Tôi muốn ngừng lại đây để có thì giờ đi sâu vào những chuyện đã kể hơn là kể thêm những chuyện ngông còn lại của thi-sĩ.

    Tản-Đà là một nhà nho, khí-khải, quân-tử.Tản-Đà là một thi-sĩ có chân tài.Tản Đà là một khách đa-tình thất vọng vì tình, một người rất có chí, một kẻ chiến-bại trên đường công-danh.Tất cả cái ngông của Tản-Đà là ở đấy.

    Cái ngông đã giúp Tản-Đà khinh những cái mà đời trọng, tọng những cái cao quá sức người đời.Cái ngông đã giúp thi-sĩ Tản-Đà bầy tỏ cái chân-tài, cái khác đời của thi-sĩ.Cái ngông đã giúp khách đa tình của sông Đà núi Tản biểu-lộ những mối tình lý kỳ trên lớp trần-tục. Vì có cái ngông, con người bất đắc-chí ở trường Nam ,kẻ chiến bại trên trường ngôn luận đã tỏ được rằng mình hơn người, ít nhất là bằng người trong học-vấn và sự làm việc.

    Nói như vậy chắc có người hiểu rằng ngông tức là kiêu căng. Không, ta nên phân biệt; những chuyện tôi vừa kể trên chứng nhận một cách rõ ràng. Một thí dụ: Tản-Đà không đặt danh giá vào gia-thế, ông chỉ tự cao một cách nên thơ rằng ông hơn người ở chỗ ông là của núi Tản sông Đà. Mà của núi Tản sông Đà thì đã hơn ai.Một chuyện gần như khôi-hài. Chính cái nên thơ và khôi-hài ấy đem lại cho cái tự-cao của ông một tính cách riêng ; nó không phải cái tự-cao ta thường hiểu, mà là cái ngông của ông vậy.

    Tự cao người ta ghét, ngông người ta yêu, bác Tản-Đà của chúng ta vẫn được người ta yêu, không vì một cớ gì mà mỉa-mai nhà thi-sĩ của chúng ta được.

    Tôi viết câu này để trả lời mấy câu phê-bình khắc-nghiệt của một nhà văn mà tôi đã nhắc đến nhiều lần trong tập này:

    Ông tự cao tự đại… thứ nhất là làm bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào để tán tụng mình thì lại càng khó nghe lắm”.















    Một tín đồ của-chủ nghĩa khoái-lạc

    Ông Tản-Đà là một nhà văn lãng-mạn. Đã từng tế nàng Chiêu-quân ở Non-tiên. Vì chán đời có phen định tịch cốc để từ trần. Ông là tác giả những Khối-tình, Giấc-Mộng, Thề Non Nước, Trần Ai Tri Kỷ. Ông sáng tác ra thuyết thiên-hương.

    Ông là một nhà văn duy-tâm.

    Nhưng ông không phải là nhà văn duy-tâm thuần túy, Nếu văn thơ, đạo lý đem sự đầy đủ say-sưa cho tinh thần ông, sự ăn uống cũng đem sự khoái-lạc cho thân thể ông. Ông thích làm thơ, tan-hòa vào những cảnh đẹp, nhưng ông cũng thích uống rượu, ăn ngon.

    Trong văn-chương và tư tưởng của ông đã hơn một lần ông để lộ một bản-tính duy-vật rõ rệt chẳng kém gì bản tính duy-tâm.

    Ta không lấy làm ngạc nhiên. Sự mâu-thuẫn và phức-tạp của bản-tính ấy không phải là không thể có.Thứ nhất là ở một thi-sĩ, nghĩa là một người mà ta có thể ngờ được tất cả.

    Có người bảo rằng những tư-tưởng duy-vật của ông chỉ là kết quả của một đời lãng-mạn.Nhà nho Nguyễn Khắc-Hiếu chán đời mà mách ông cách quên đời bằng rượu. Nhà thi-sĩ Tản-Đà bi-quan bảo ông rằng thì giờ đi mau quá, ông chóng già và đời chỉ là một giấc mộng, không có một ý nghĩa gì khác, ông phải tận hưởng lấy những sự khoái-lạc, mê ly mà “giấc mộng” ấy có thể tạo cho ông.

    Ông tiếc khoái-lạc, tham đời, khát khao sự sống tự đấy.

    Nói như vậy là không công bằng với bản tính duy-vật của ông, hay nói cho đúng chỉ công nhận nó là một cái phụ của bản tính duy-tâm.Tôi không đồng ý về chỗ ấy, hơn thế nữa tôi đã có những suy nghĩ trái ngược lại. Tôi muốn xếp theo thứ tự về can hệ:

    Bản tính duy-vật

    Tâm hồn thi sĩ

    Sự đào tạo của nho-giáo

    Sự đào tạo của cuộc-đời.

    Bấy nhiêu đặc-tính đúc thành nhà thi-sĩ Nguyễn khắc-Hiếu của chúng ta.

    Vì cái giá trị của người ta là ở chỗ người ta có tâm hồn thi sĩ, người ta là một tín đồ của đạo giáo, một thức-giả trước cuộc đời đang thay đổi chứ không phải ở chỗ người ta là một người tôn thờ khoái-lạc, nên ở ông Tản-Đà, thứ nhất là trong văn thơ, nhà thi-sĩ, nhà nho yếm-thế lúc nào cũng lăm-le bóp chết Tản-Đà, môn-đồ chung thành của chủ-nghĩa khoái-lạc, hoặc khoác cho môn-đồ ấy chiếc áo của một con người ngông, của một văn-sĩ giác-ngộ.

    Bản-tính của ông là thích uông rượu, ưa ăn ngon, ham chơi. Muốn tìm một bài thơ vịnh rượu, ca tụng vịnh rượu, ca tụng cái say trong văn-nghiệp của ông là một việc ai cũng có thể làm được một cách dễ dàng. Ông thích rượu đến nỗi, gần đây bao nhiêu người hễ nói đến ông chỉ nói đến be lớn be con để mua lấy một nụ cười.

    Nhưng hãy khoan đã. Ta chớ vội cười ông, ông là giòng dõi lưu-linh nhưng ông đâu phải như những phường cục-mịch chỉ biết có cái thú say trơn.

    Ông thích rượu vì rượu là nguồn mộng, và nguồn cảm-hứng của thơ ông. Ta hãy nghe ông đại khái kể:

    Về sự uống rượu thì có kỷ-niệm sau này là lý thú hơn cả. Khi còn An-Nam tạp-chỉ mà ông in ở Vinh, tòa báo thì ở ngoài Bắc, ông thường phải đi từ Hà-Nội vào Vinh và từ Vinh ra Hà-Nội luôn. Hôm ấy trời hơi mưa.Ở Hà-Nội lên xe lửa ông có đem theo một chai rượu. Xe chạy quá Nam-Định có người con gái đẹp mang nem lại mời ông. Ông mua, nhưng không giả tiền ngay cứ bắt người con gái ngồi trước ong. Rượu say, hình người con gái mỗi ngày một mờ, một đẹp hơn. Thi-sĩ hứng thú, tưởng không bao giờ có dịp thứ hai như thế nữa; ông ngồi uống mãi cho đến lúc say quá nằm xuống xe, bên be rượu để ngủ.

    Tàu đỗ ở vinh, thi-sĩ vẫn ngủ.

    Đến Huế tàu bỏ toa lại, thi-sĩ vẫn ngủ. Đến sáng mặt giời đã lên cao, có người phu quét toa vào đánh thức thi-sĩ giậy.

    Sự thật hay là một giấc mộng đẹp! Thi-sĩ kết câu chuyện một cách mến tiếc.

    Ông uống rượu là để quên sự tang-thương ở đời. Ta hãy nghe ông ngâm:

    “Công danh sự nghiệp mặc đời

    Bên thời be rượu, bên thời bài thơ”

    “… cho vơi hũ rượu cho đầy túi thơ,

    Trăm năm thơ túi rượu vò

    Nghìn năm thi-sĩ sửu đồ là ai.”​

    Tín-đồ của chủ-nghĩa khoác-lạc ngồi uống rượu đã khoác chiếc áo của thi-sĩ Tản-Đà và nha nho yếm-thế Nguyễn khắc-Hiếu.

    Ông thích ăn ngon; ông thận trọng ở sự ăn. Đã có lần ông viết: “Đồ ăn không ngon thời không ngon, giờ ăn không ngon thời không ngon, chỗ ngồi ăn không ngon
  • Chia sẻ trang này