0101.00004

1/2/16
0101.00004
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    thời không ngon, không được người cùng ăn cho ngon thời không ngon “ – Ăn ngon.

    Nói chuyện văn-chương thi-sĩ còn viết:

    “Văn-chương có giống như mâm gỏi.Đĩa cá lạng, đĩa giấm ngọt thời người thường để ăn, còn miếng mắt, miếng xương phải đợi con nhà gỏi.

    Văn-chương có giống như thịt chim, sào thuôn, nướng chả thì dễ chín, hấp cách thủy lửa không đến mà nhừ hơn.

    Văn-chương có giống như ngũ-vị…”

    Và:

    “Từ khi về ở quê, đương ăn rau đổi ra ăn thịt. Mỗi ngày cũng chỉ có một bữa ăn; mỗi bữa ăn hoặc là cái thủ heo hoặc con gà, con vịt, hoặc con cá, tất toàn thể đặt trong mâm với con dao đĩa muối; rượu thì uống hũ không uống chai. Bữa ăn cũng rất vô thường; nếu về phần đêm thời có khi thắp hai mươi tám ngọn nến gọi là nhị-thập-bát-tú, thắp bảy ngọn nến gọi là thất-đình-đàn. Bữa ăn nếu về phần ngày, thời sau khi ăn xong tất phải có con dao thanh quắm đi chém phạt ít nhiều cành cây như không thế thời không thấy sướng. Lại như những con gà con vật nếu không được tự tay mình cắt tiết thời ăn không thấy ngon “Giấc Mộng Lớn”.

    Đó, ông thích ăn nhưng cái thú, ông không đặt ở miếng ngon như người ta, ông đặt ở nghệ-thuật ăn. Một công việc ở miếng đất của vật-trất, ông nhắc lên miếng đất của tinh-thần.

    Ông tưởng-tượng một ngày kia ông già, hơn thế nữa, một ngày kia ông chết, ông sẽ không được hưởng những sự khoái-lạc ở đời… Nghĩ thế ông sợ già, sợ chết.Ông càng sợ bao nhiêu, ông càng vồ-vập tham lam trong cuộc đời vật-trất bấy nhiêu.

    Tôi nói vậy nhưng các ngài đừng vội đi tìm một sự biểu-lộ sống sượng của tâm-lý ấy.

    Nhà nho Nguyễn khắc-Hiếu đâu có quyền khát sống và sợ chết.

    Tâm-lý ấy chỉ được biểu-lộ một cách dụt dè trong một thi-tứ cũ-kỹ của cổ nhân truyền lại : tiếc xuân.

    “Người có tình xuân không có tình.Mình tiếc xuân, xuân tiếc chi mình; mình thương xuân, xuân chẳng thương mình, thời mình thương tiếc mình hơn tiếc xuân:

    Xuân kia sáu bẩy mươi lần

    Của giời tham được độ ngần ấy thôi.

    Chơi hoang mất nửa đi rồi

    Ngẩn ngơ ngồi nghĩ thân đời mà lo.

    Trông gương luống đã thẹn thò

    Một mai tóc bạc vai gù mới dơ.

    Thương thay xuân chẳng đợi chờ

    Tiếc thay xuân những hững hờ với xuân…​

    Cái tài của ông Tản-Đà, con người phức tạp là ở chỗ ấy. Ta phải khen Tản-Đà thi-sĩ văn-sĩ đã khéo lợi dụng để Tản-Đà thờ khoái lạc phải giúp mình trong việc xây một sự-nghiệp văn-chương tinh-túy.




    Văn-sĩ

    Vào đầu thế - kỷ thứ hai mươi, giữa lúc người ta còn say mê khoa-cử, giữa lúc người ta còn cho tiếng ta là một thứ tiếng nôm na không đáng để ý, một số ít người dám đứng lên hô hào vun đắp thứ tiếng ấy để sau này có thể thành một nền văn-chương.

    Ngày chủ-nhật 4 Aout 1907 ở hội quán hội Trí-tri Hà-Nội, ông Nguyễn văn-Vĩnh đã đọc bài diễn-văn nói nước ta muốn tiếp kịp người phải hấp-thụ lấy những tư-tưởng mới và muốn những tư-tưởng ấy được phổ thông thì phải dùng những bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào dịch ở chữ nước ngoài ra tiếng An-nam làm phương-tiện truyền bá.

    Ông khởi-xướng công việc dịch bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, vấn đề dùng chữ quốc-ngữ thay chữ nho, hai thức chữ khó học và khó hiểu.

    “Nước Nam ta mai sau này, hay dở là ở như chữ quốc ngữ “ đó là câu tâm-huyết của ông.

    Năm 1917, Ông Phạm-Quỳnh xuất bản tạp-chí Nam-Phong với mấy lời nói đầu:

    “Mục này sẽ mở để hoan nghênh các nhà văn-sĩ mới nước ta, nhất là những nhà đã khéo đào luyện cái chất nôm mở đường cho lối văn-chương riêng bằng quốc-ngữ.Chúng tôi mong ở các nhà văn-sĩ mới ấy lắm, vì bao giờ lời nôm ta có được bằng nhập-tịch vào cõi văn-chương thì sự học trong nước mới có cơ phát-đạt lên được.Văn-chương vốn là cái máy truyền đạt tư tưởng rất nhậy.Cái trất nôm tuy còn mộc mạc như xúc gỗ chưa thành đồ nhưng nếu khéo đẽo trạm thì có ngày “trắc gụ” cũng nên”.

    N.P. số 1, 1917

    Ông Nguyễn khắc-Hiếu cùng với các ông Vĩnh, Quỳnh, là người đã gây cái mầm quốc-văn ấy.

    Việc sây đắp một nền thi-ca mới, tôi sẽ nói đến trong một mục sau, bây giờ tôi hãy chỉ nói đến cái công việc của ông đối với văn suôi ta.

    Ông đã viết được : ba Giấc-Mộng-Con, Giấc-Mộng-Lớn, Thề-Non-Nước, Trần-Ai, Tri-Kỷ…

    Ông dịch Đại-Học, Đàn-Bà-Tầu, Đài Gương. Đó là mới kể những văn đã in thành bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào.Nếu ta lục những tập báo cũ như Hữu-Thanh, Đông-Pháp thời-báo, An-nam tạp-chí, ta còn thấy bao nhiêu công-trình trứ-tác, đáng giữ một địa vị quang-trọng trong nền văn-chương Việt-Nam.

    … Người học trò bậc trung đẳng nào chẳng thuộc lòng, hoặc nhớ những bài “Cái chưa trong bụng người “, “Đánh bạc…”

    Khi Tản-Đà thư-cục vừa thành lập, ông gom góp nhiều bài tản-văn ngắn dài, luận về tình-cảm, sự đời, in thành tập Tản-Đà tản-văn. Người phê-bình bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào vào thời bấy giờ còn ít, chúng ta không có một dấu vết gì về dư luận, tôi không căn cứ vào đâu mà định cái giá trị và ảnh-hưởng riêng cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào đó về thời bấy giờ. Tôi chỉ có dịp chép ra đây mấy lời tựa của ông Dương bá-Trạc :

    “ Nước ta xưa nay trước-thuật thuần dùng chữ Tàu, văn quốc âm chỉ văn vần còn có đôi bài mà tản-văn bói không ra một quyển. Mới mười lăm năm nay sĩ-phu trong nước mới có cái khuynh hướng về văn quốc âm, lấy bút sắt thế bút lông, mà dóng trống mở cờ cùng nhau đua đuổi trên trường hãn-mạc. Giọng Hàn-Thuyên, hồn Đại-Việt đã lập lòe có một tia lửa sáng xuất-hiện trong văn-giới hoàn-cầu. Ông Nguyễn khắc-Hiếu Sơn-Tây chính là một kiện-tướng trên trường hãn-mạc ấy.”

    Một vài nhà phê-bình trước tôi, cho rằng văn suôi của ông Tản-Đà không được minh-bạch và chính sác ; không được thâm thúy như văn ông Phạm-Quỳnh, dản dị như văn ông Nguyễn văn-Vĩnh.

    Người ta có ý chê ông.

    Nhưng ông là một thi-sĩ, chịu ảnh hưởng của nho học hơn là tây-học.Tuy đã có lần ông nói rằng về văn suôi, ông nghĩ thế nào viết thế nhưng không nên tin ở lời ông làm.Ở ông cũng như bất cứ như thi-sĩ nào khác ý muốn viết cho dản dị và chính xác, nhưng cái thi-năng ẩn núp trong ngòi bút bắt ông phải viết cho có âm-điệu.Ông là một cây đàn ngàn phiếm.Khi ông nghiêm-nghị chỉnh tề, ông gẩy thành những khúc nhạc đã đành, khi ông cầm đàn lơ đễnh vuốt phải sợi tơ, nó cũng nổi lên những điệu déo dắt.

    Vì vậy muốn thưởng thức văn ông, tôi không muốn tìm những đặc-sắc khác cái đặc-sắc của nhà thi-sĩ làm văn suôi.

    Ảnh hưởng của văn suôi của ông có lẽ không mạnh bằng văn của các ông Quỳnh ông Vĩnh. Nhưng từ 1920 hình như nhà văn ta bắt chước lối hành-văn của ông cũng nhiều. những cuốn tiểu-thuyết như “Giọt lệ sông Hương” của Tam-Lang, “Kiếp hồng nhan “ của Nguyễn công Hoan có lẽ chỉ là những tiếng dội của lối văn Tản-Đà.

    Nhưng có một điều ta có thể chắc chắn hơn là văn suôi ấy có ảnh-hưởng rất lớn cho sự đào tạo cái nhạc-năng của các thi-sĩ ở những lớp sau này.

    Ta hãy đọc:

    “ Ông Nã-phá-Luân khi ở đảo Thanh-hy-Liễn, mây giời man mác, nước bể mênh-mông tiếng sóng sa tai ngọn cờ khuất mắt, mà tưởng-tượng công việc trên mặt đất cõi Âu-châu.

    Bà Chiêu-Quân khi ở đất Hồ, mặt đất cát bay đầu non gió thổi mà nhớ đến cung-điện trốn Trường-An.

    Vua Đường-Minh-Hoàng khi vào Ba-Thục, chuông chùa khuya đưa, mây ngàn sớm đuổi mà thương người dưới dốc lê…

    Và :

    “Thử trèo bức tường đổ trông quãng đường sa, mồ con mả lớn, chỗ năm chỗ ba, chẳng quan thì dân, chẳng trẻ thì già, trước cũng người cả, bây giờ đã ma ! Nào tiền nào của, nào cửa nào nhà, nào con nào vợ, nào lợn nào gà, nào câu đối đỏ, nào mành mành hoa, nào đâu đâu cả mà chỉ thấy sương mù nắng dãi với mưa sa! Cuộc nhân thế từ xưa mãi thế, làng chơi ta phải biết, trăm năm khôn dại dễ ru mà.”

    Ta đừng vội tìm tư-tưởng trong những câu ấy, ta lắng nghe cái dư âm của lời ta đọc đang dắt déo như là cung đàn. Và ta hãy bằng lòng nhận lấy có thế, thứ nhất là ta khi còn phải chờ ở ông một sự nghiệp về triết-lý và thi-ca nữa.




    Thi-sĩ

    … Nhưng nếu sau này ông sẽ được cùng thời gian mà sống thì có lẽ ông chỉ sống vì thơ của ông mà thôi. Còn những tập tản văn, những tiểu-thuyết, tập An-nam tạp-chí của ông, hậu-sinh sẽ chỉ giờ bằng mấy ngón tay vô tình.

    Ông Nguyễn Khắc-Hiếu là một thi-sĩ có tài.

    Xét tác-giả những tập Khối tình xin phân biệt nhà sáng-tác thi-đề và người “thợ thơ”.

    Người ta nói ông Tản-Đà không có tư tưởng, ông không thích suy-nghĩ, ông thích mơ-mộng, ông thích sống trong cõi mông-lung.

    Nói vậy không phải là không đúng. Ta cứ giờ mấy tập thơ của ông đọc qua mấy đầu-đề, ta chỉ thấy nào là nhớ chị hàng cau, nhớ độc-giả An-nam tạo-chí, nhớ ông Trâu-Quỳ, nhớ người không quen biết, nhớ người ông đã gặp trong mộng, nào là nói chuyện với gió, với trăng, với bóng, ông không bao giờ đem những tư tưởng về nước, về đời, những tư-tưởng đúng đắn làm tài-liệu cho bài thơ. Đọc thơ ông người ta không cần phải ngừng lại ở một chỗ nào để suy-nghĩ, để nhận lấy một vài tư-tưởng mới lạ.Đọc một bài thơ của ông chỉ như hát một khúc ly-tao, ngâm một câu hát vặt?

    Nếu ông không trú-trọng về tư-tưởng chỉ cốt gọt câu cho đẹp, ghép vần cho hay là vì tuy ông là một con hoang của thời-đại nhưng ông vẫn còn giữ được những ảnh-hưởng của thời-đại nó đã nuôi ông.

    Ông vẫn còn cái quan-niệm về thơ của tiền nhân : thơ nôm chỉ là một đồ chơi làm ra tỏng những phút an-nhàn lãng-mạn, sau những giờ khô khan với kinh-luân, sử; những thi-đề thông thường là con sông dẫy núi, cái quạt giấy, thẳng bồ nhìn… những chuyện đứng đắn không được đem ra làm đồ chơi cho một lũ ăn không ngồi dưng.

    Cũng như vua Lê thánh-Tôn, ông vịnh thằng bồ nhìn, cũng như ông Nguyễn công-Trứ, ông vịnh phỗng đá, vịnh hoa sen, nhưng ông cũng đã tìm ra được thi-đề mới ; những thi-đề này rất cần cho cái trữ-tình của ông, ông đã ngâm những sự nhớ nhung thương tiếc kỳ-dị; ông nhớ người chưa từng quen biết, người trong mộng, ông cho non nước mượn những tình lâm-ly, những ước vọng mơ hồ, Những bài Thư đưa cho người chưa quen biết, Thề non nước, là những bài thơ chưa từng có trong văn thơ Việt-Nam.

    Nói về thi-đề của ông Tản-Đà, ta nên nhận kỹ cái đặc-sắc này với những câu chuyện sống qua, ông là một thi-sĩ thường, nhưng khi ông nói ông nhớ mà không biết nhớ ai, ông thương mà không biết thương ai, ông than mà không biết than về cái gì, thì ông là thơ sống, và thơ của ông là trất thơ trong như lọc, với những cảnh-tượng không rõ rệt, với những hình ảnh mờ mờ, ông vẽ nên những bức tranh tuyệt bút, với những tư-tưởng lâng lâng, với những cảm giác mơ màng, ông làm nên những câu thơ tuyệt-mỹ.

    Nhưng giá-trị trong thơ của thi-sĩ Tản-Đà không phải tư-tưởng, giá trị phần nhiều ở tiếng, ở câu, ở điệu thơ.

    Đối với thi-sĩ mỗi tiếng có một trất thơ riêng.

    Khi muốn tả một cảnh ngoạn mục, một cảm-giác lâng lâng man-mác, thi sĩ dùng những tiếng rất dịu dàng:

    Nước đi, đi mãi không về cùng non…

    “Nước kia dù hãy còn đi

    “Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui…”

    Khi muốn tả một cảnh đặc sắc về hình tượng, thi sĩ tìm những tiếng chỉ mới nghe đọc cũng đã nhận được cái đặc sắc ấy rồi, ông phối hợp “âm” với “ý” :

    Con sông xuân nước chẩy lờ đờ

    “ Thuyền trôi lững thững, giăng tờ mờ soi…

    “ Nước trong xanh lơ lửng con cá vàng,

    “ Mưa mưa mãi giời mưa rả rich

    “ Hạt mữa thu dạ khách đầy vơi.
    Về điệu thơ.

    Một hôm, một nhà thơ “tự-do” ngồi đàm luận về văn-chương nói rằng: thơ đường-luật mà cứ đem đọc lên thì bài nào cũng giống bài nào ; bài của một đại thi-hào cũng giống bài của một người thợ thơ tập-sự.

    Bây giờ ta đưa cho một người tốt giọng đọc, hay hơn nữa, ngâm hai bài thơ, một bài làm đúng luạt của một thi-sĩ vô dành nào đó, ta sẽ thấy hai bài tương tự giống nhau và đều có một điệu mềm mỏng nên thơ. Thơ thường làm để mà đọc, để ngâm, thế mà đọc, ngâm lên người ta khó lòng mà nhận được cái giá-trị đặc-biệt của bài thơ, đó chẳng phải là một điều khuyết-điểm hay sao.

    Sự khuyết-điểm ấy do luật thơ mà ra. Luật thơ Đường cũng nhất định như các luật thơ khác, nhưng nghiêm-khắc quá.

    Số tiếng, số câu nhất định, âm-thanh nhất định, chỗ “nghỉ” cũng nhất định.Ngoài cái “nhất tam ngũ bất luận” ta không còn một sự xuất-qui nào nữa.Cái luật bằng trắc chỉ là một cái khuôn mà mỗi thợ thơ phải dùng.Điệu thơ là ở vần, ở chữ và chỗ nghỉ thề mà vần, chữ, chỗ nghỉ đã định trước cả rồi, thì cái điệu cũng phải định trước rồi.Vì thế, một thi-sĩ ta không như một thi-sĩ Pháp, Anh… có thể đem diễn cái đặc sắc của mình trong điệu thơ được.

    Bao nhiêu năm, người ta vẫn ngâm những điệu đã có sẵn, người ta ngâm mãi mà không chán, không hề nghĩ đến sự thay đổi, người ta cho những luật ấy là thần thánh, bất di-dịch.

    Ý kiến này là của những người không yêu thơ cũ, biện-luận để đánh đổ thơ cũ, nhưng tôi thiết tưởng cũng có một phần chân-lý.

    Tuy nhiên ta không nên tin hẳn ý ấy và vội vàng kết tội một thể thơ đã làm vinh-dự cho bao nhiêu thi-sĩ.

    Với những thi-sĩ có chân tài, những luật nghiêm-khắc chỉ làm tăng giá trị của thi-sĩ mà thôi.

    Vả lại, trong một bài thơ đường-luật bằng trắc có nhất định nhưng vẫn còn một sự tự do rất lợi cho sáng-tác điệu thơ.

    Trong chữ hán, nói về thanh của tiếng, có bốn loại : bình-thanh, thượng-thanh, khứ-thanh, nhập-thanh.

    Loại trên thuộc về loại bằng, và ba loại dưới thuộc về loại trắc của ta. Nhưng ở quốc văn ta, ta lại có thể phân biệt trong bình-thanh hai loại : tiếng bình-thanh không dấu, thí dụ âm, và tiếng bình-thanh có dấu huyền, thí dụ ầm.

    Trong những thanh về sau cũng thế, cứ một thanh của Tàu là có hai thanh của ta.

    Khi làm thơ, thí dụ trong luật bắt buộc chỗ này phải là tiếng bằng, thi-sĩ ta có thể đặt một tiếng bằng không dấu, hay bằng có dấu huyền được. Chính sự tự do này làm cho âm điệu của thơ có đặc-sắc riêng.

    Như thi-sĩ Tản-Đà đã nói trong một số An-nam tạp-chí, luôn luôn thi-sĩ lợi dụng sự tự-do ấy. Trong bài thơ Ngày xuân tương tư:

    Trách cái tầm xuân nhả mối tơ,

    Làm cho bối dối mối tương-tư.

    Sương mù mặt đất người theo mộng

    Nhạn lảng chân trời kẻ đợi thư.

    Nghìn dặm dám quên tình lúc ấy,

    Trăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa.

    Tương-tư một mối hai người biết,

    Ai đọc thư này đã biết chưa…

    Nếu ta đổi câu thứ tư như sau này:

    “ Nhạn lảng chân mây kẻ đợi thư, “, như thế nghĩa không khác mấy, luật cũng đúng, song tiếng “mây” điệp-thanh với “thư” ở vần, như thế điệu không được mềm mỏng bằng điệu của câu trên.

    Làm thơ thi-sĩ Tản-Đà, không những trú-trọng về toàn bài mà lại trú trọng về điệu từng câu, một phần câu nữa.

    “Đỉnh non Tản mây giời man mác,

    Giải sông Đà, bọt nước lênh đênh;

    Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình,

    Nước kia mây nọ như mình với ta…

    “Hỏi cùng núi mây sanh chẳng biết,

    Hỏi cùng sông nước biết không hay

    Sông nước chảy núi mây bay,

    Mình ơi có biết ta đây nhớ mình.”
    (Thư trách người tình-nhân không quen biết)

    Trông mây nước bốn bề lạnh ngắt,

    Ngắm non sông tám mặt sầu treo,

    Đường xa gánh nặng bóng chiều,

    Cơn going biển lớn mái trèo thuyền nan.,

    Nghĩ thân-thế mềm gan lắm lúc,

    Nhìn giang sơn bạc tóc như chơi,

    Mong ai mỏi gối chân trời,

    Nhớ ai đi đứng ăn ngồi thẩn thơ.
    (Thư lại trách người tình-nhân không quen biết)

    Nói về điệu của toàn bài, thì như điệu của bài Thề non nước có thể gọi là hoàn toàn:

    “Nước non nặng một lời thề

    Nước đi đi mãi không về cùng non,

    Nhớ lời nguyện nước thề non,

    Nước đi chưa lại non còn đứng trông

    Xuối khô giòng lệ chờ mong tháng ngày

    Xương mai một nắm hao gầy;

    Tóc mây một mái đã dầy tuyết-sương

    Giời tây chiếu bóng tà-dương,

    Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.

    Non cao tuổi vẫn chưa già

    Non thời nhớ nước, nước đà quên non​
  • Chia sẻ trang này