0109.0004

1/1/16
0109.0004
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:


    - Tâu bệ-hạ, Nhân-huệ vương nói chí phải, xin bệ-hạ cho chia quân ra đóng giữ các nơi hiểm yếu, sai đại-tướng thống lĩnh đại-quân, giữ chặc cửa ải, nhất định không cho mượn đường, nếu có sinh sự đánh nhau, thì ta liệu thế tùy cơ mà đánh, bằng cho nó mượn đường, thì không khác nào mở cửa cho hùm vào trong nhà.

    - Đã đành ngươi nói thế là rất phải, nhưng trẫm chỉ e rằng thế lực của Nguyên-triều, gấp mười gấp trăm của nước ta, không biết đánh có nổi được không?

    Hưng-đạo vương lại tâu rằng :

    - Quân Nguyên tuy mạnh hơn ta, nhưng tự bên ấy sang bên này, đường sá xa xôi, muôn non nghìn nước, trải bao nhiêu vất vả mới đến được đây. Nếu ta văn võ đồng lòng, trên dưới hiệp sức, biết dùng mưu đặt mẹo mà đánh, thì chắc là phá được.

    Vua lấy làm hợp ý lắm.

    Chiêu-văn vương Nhật-Duật bước ra tâu rằng :

    - Quân Nguyên chỉ chăm sự tranh bờ lấn cõi, tham lam vô cùng, không khác nào giống lợn lòi, rắn độc, nếu vua tôi chuyến này không hết sức đồng lòng mà đánh, thì để vạ về sau còn nhiều.

    Vua thấy nhiều người chủ về mặt đánh, cũng hợp với ý mình, mới hỏi rằng :

    - Các ngươi nói sự đánh, thì trẫm cũng thuận lắm, nhưng trong các vương hầu có ai làm được Nguyên-súy, thống lĩnh đại quân ra đánh giặc cho trẫm không?

    Chiêu-văn vương tâu rằng :

    - Chúng tôi tài nhỏ trí mọn, không ai làm nổi được đại-tướng. Duy có Hưng-đạo vương văn võ toàn tài, trí mưu xuất sắc, bệ-hạ nên cất làm đại-đô-đốc, thì mới có thể phá được giặc.

    - Phải lắm ! Hưng-đạo vương nên giúp cho trẫm việc này.

    Hưng-đạo vương từ nói rằng :

    - Tâu bệ-hạ, tôi học còn thiển, không kham nổi được tài đại-tướng, xin bệ-hạ cử người khác cho.

    - Thôi ! trẫm đã biết tài sức của vương, vương chớ từ nữa.

    Hưng-đạo vương bấy giờ mới chịu nhận.

    Bàn-định một hồi rồi bãi hội. Bấy giờ có Hoài-văn hầu là Trần-quốc-Toản, mới 15, 16 tuổi cũng theo ra hội, vì còn ít tuổi không được dự bàn, chỉ đứng ngoài nghe lóng, Quốc-Toản lấy làm xấu hổ, căm tức vô cùng, trong tay cầm quả cam bóp vỡ nát ra lúc nào không biết.

    Khi tan hội, các vương hầu ai nấy về dinh, sắm sửa khí giới, thuyền bè, chiêu mộ quân-sĩ, dự phòng đi đánh giặc. Quốc-Toản về nhà, cũng tụ họp được hơn một nghìn thân-thuộc, sửa đồ khí giới, may cờ đề sáu chữ : “Phá cường-địch, báo hoàng-ân” lăm lăm chực đi đánh giặc.

    Trần-khánh-Dư vì chuyến này nghị luận hợp ý vua, vua phục chức cho làm Phó-đô-tướng-quân, cho theo Hưng-đạo vương đi đánh giặc.

    Tháng mười năm ấy, tức là năm Quí-mùi, niên-hiệu Thiệu-bảo thứ năm, (năm Chí-nguyên thứ 20 nhà Nguyên, lịch tây 1283) vua Nhân-tôn cất Hưng-đạo vương làm Quốc-công, tiết chế thống lĩnh hết quân mã các đạo, đốc binh ra phòng giữ quân Nguyên.

    Hưng-đạo vương phụng mệnh về nhà, thu dùng hào kiệt, chiêu mộ quân sĩ, sửa sang chiến thuyền, khí giới, dự phòng việc đi đánh giặc.

    Nói về con gái Hưng-đạo vương là Trinh công-chúa và một con nuôi là Nguyên công-chúa, bấy giờ đã 15, 16 tuổi, hai nàng cùng nhan sắc, mắt phượng, mày ngài, tóc mây, da tuyết, miệng cười tươi hơn hoa nở, mắt nhìn sáng tựa sóng thu, có dáng nghiêng nước đổ thành, nhạn sa cá lặn. Từ khi nhỏ hai chị em vẫn ở riêng một lầu, học hành, thêu dệt. Một bữa nhân lúc mùa xuân, trăm hoa đua nở, hôm ấy vào giữa hôm đầu tháng ba, bóng trăng ròi rọi, vẻ hoa trập trùng. Hai chị em nhân lúc cảnh vui thú, rủ nhau xuống lầu, ra vườn hoa sau nhà thưởng giăng, gót sen lững thững, dạo quanh trong vườn, mùi lan thơm nức góc tường hoa, bóng thỏ sáng choang trong giếng nước. Hai chị em ngắm nghía nhìn lên trên không, lấy làm thích chí ; một nhát đi đến gốc cây mai, hai chị em sai thị-tỳ bày bàn ghế, dọn một mâm rượu ngâm thơ. Đang khi vui vẻ, bỗng nhiên trông lên thấy có một đám mây ngũ sắc, tỏa ra bốn bề, rồi kết lại thành một đám, từ từ bay xuống vườn hoa ; văng vẳng trên mây có tiếng đàn sáo, lại thoang thoảng mùi hương. Hai chị em lấy làm lạ, đứng dậy nhìn xem, thì đám mấy ấy tà tà gần đến đất, rồi thấy một vì tiên-mẫu, tay cầm một cái đuôi-chủ, ngồn trên đám mây, hai bên có hai nàng tiên-nữ đứng hầu. Hai chị em kinh hãi, thụp xuống đất lạy.

    Tiên-mẫu ngôi trên mây nói rằng :

    - Hai con chớ ngại, ta là Tây Vương-mẫu, xuống trần có việc đây.

    Hai nàng định thần, vái và tâu rằng :

    - Chẳng hay tiên-mẫu xuống đây có việc gì, chúng con mắt trần, xin tiên-mẫu thứ tội cho.

    Tiên-mẫu nói :

    - Các con ơi ! Mẹ phụng mệnh Ngọc-hoàng, đem thanh gươm này xuống cho cha con. Thanh gươm này gọi là Phi-thiên thần-kiếm, mai sau gặp tướng giặc có yêu thuật, phi gươm này không chém nổi, vậy Ngọc-hoàng ban cho cha con, để cha con giúp nước cho được vẹn toàn.

    Nói đoạn, sai một tiên-nữ đưa ra một thanh gươm vàng, trao cho hai công-chúa.

    Hai công-chúa nhận lĩnh thanh gươm, ngồi quì xuống đất lạy tạ và nói rằng :

    - Lạy mẹ ! Hai chúng con người trần, không ngờ được hầu hạ mẹ, xin mẹ thư chân, dạy bảo cho chúng con một vài điều.

    - Con ơi ! Hai con khi xưa cũng là đồ-đệ mẹ, cho nên mẹ mới xuống thăm hai con nhân thể. Cha con cũng là thanh-tiên giáng thế, mới được ban gươm này.

    - Lạy mẹ, các con đã là đồ-đệ của mẹ, xin mẹ dạy cho các con ít phép, để con có thể giúp được cha con chăng?

    Tiên-mẫu tủm tỉm cười nói rằng :

    - Cha con có tài có trí, không cần gì phải phép, duy có khi nào giặc dùng yêu thuật, thì chỉ dùng thanh gươm thần này là phá được. Hai con mai sau : Một con có duyên với đương triều hoàng-đế, làm đến hoàng-hậu ; một con lấy được chồng anh-hùng xứng đáng, không phải học đến phép thuật làm gì.

    Nói đoạn, bỗng nhiên nổi cơn gió mát, mây bốc lên trên không. Hai công-chúa trông theo lạy, rồi một phút thì thấy đám mấy biến mất.

    Trinh công-chúa cầm lấy thanh gươm, hai chị em rủ nhau về lầu nghỉ ngơi. Đêm nằm ngẫm nhời tiên dạy, lại nghĩ đến nhân duyên mình, thổn thức năm canh, mối tình giằn giọc ; mới biết nhời thần tiên là thế, nhưng chưa chắc hư thực làm sao. Một nàng thì thấy dạy lấy được chồng anh-hùng, nhưng chưa biết anh-hùng là ai, mặt mũi thế nào, mà đã chắc gì có thực thế hay không. Hai nàng nghĩ ngợi thâu đêm không sao ngủ được.

    Sáng hôm sau, Trinh công-chúa cầm thanh kiếm lên nhà trên, thuật lại truyện với mẹ là Thụy-ngọc phu-nhân. Phu-nhân không tin, gọi Nguyên công-chúa đến hỏi truyện, thì quả nhiên có việc ấy. Phu-nhân mới thuật truyện với Hưng-đạo vương, nói hết đầu đuôi như thế. Hưng-đạo vương vốn cũng không tin việc thần-tiên, nhưng trông thấy thanh gươm vàng, có khảm ngọc bốn chữ : “Phi-thiên-thần-kiếm”, quả nhiên gươm quí, ngài mới cầm lấy bỏ túi cất đi một chỗ, để nghiệm về sau xem ra làm sao.

    Truyện ấy dần dần bay đến tai vua. Vua nghe tin làm vậy, cho đòi Trinh công-chúa vào cung, mắt rồng trông qua, quả nhiên một vì hằng-nga giáng thế, mới lập lên làm quí-phi. Quí-phi đã nhan sắc, lại có đức hiền, vua sủng ái muôn phần, rồi lập làm hoàng-hậu. Từ bấy giờ Hưng-đạo vương thấy nhời tiên nghiệm, mới có ý tìm kén anh-hùng, để gả chồng nốt cho con nuôi.

    Hưng-đạo vương tự khi phụng mệnh đổng nhung, thu xếp thuyền bè, khí giới, dần dần đã đủ. Qua sang tháng tám năm Giáp-thân, truyền hịch cho các vương hầu, hội hết quân-sĩ tại bến Đông-bộ-đầu để điểm duyệt.

    Các vương hầu ai nấy dẫn quân bản bộ đến hội, kẻ năm ba nghìn, người một vài vạn, quân thủy, quân bộ lục tục kéo đến bờ sông.

    Cạnh bờ sông lập một chòi cao hai từng. Trước chòi dựng một lá cờ thêu sáu chữ Súy. Trên chòi dàn cắm cờ tiết-mao, lưỡi phủ-việt. Ở giữa đặt một hòn ấn, và một thanh thần-kiếm, một lá cờ lịnh. Từng dưới dàn cắm qua, mâu, thương, kinh, cờ ngũ-hành, cờ tứ-phương, cờ bát-quái.

    Sáng hôm sau, các vương hầu hội tại trên chòi. Hưng-đạo vương ngồi giữa, hai bên hơn 100 tay đao-phủ đứng lưỡng-dực ; vương hầu theo ngôi thứ ngồi ra hai hàng. Các tướng-sĩ dàn ra hai bên vệ đường, người nào người nấy, đại nịt chỉnh tề, khí giới sáng quắc. Dưới sông dàn một rẫy chiến-thuyền, mỗi chiếc thuyền cắm một lá cờ đỏ trên mũi.

    Trên bộ thì quân mã ở trước, quân bộ ở sau, cuối cùng đến các xe lương thảo, cả thảy quân thủy, bộ hơn 20 vạn quân.

    Trên chòi nổi ba hồi trống, Hưng-đạo vương xuống chòi, cưỡi ngựa diễu quanh một lượt, xem xét các cơ các đội, cho đến thuyền bè dưới sông đâu đấy, rồi nổi ba hiệu súng, cơ nào đội ấy, kéo đi diễu vòng quanh một hồi, chiêng trống vang giời, tinh kỳ rợp đất. Ở dưới sông thì chiến thuyền chèo đi một lượt, lượn đi lượn lại, cờ bay phấp phới, thuyền tựa lá tre.

    Trong vài giờ đồng hồ, hồi chiêng thu quân, lại đâu về đấy như cũ.

    Hưng-đạo vương truyền lịnh cho các vương hầu và các tướng sĩ rằng :

    - Bản-chức phụng mệnh thống đốc quân sĩ ra phá giặc. Các vương hầu và các tướng sĩ, ai nấy phải cẩn giữ phép tắc, đi đến đâu không được nhiễu dân, và phải đồng lòng hết sức đánh giặc, chớ thấy thua mà ngã lòng, chớ thấy được mà sinh hợm, việc quân có luật, phép nước vô thân, các ngươi phải giữ.

    Các vương hầu cùng xin vâng lịnh.

    Hưng-đạo vương trước hết sai Trần-bình-Trọng làm tiên-phong đại tướng, cho cất quân đi trước đóng đồn một rẫy trên sông Bình-than phòng giữ. Sai Trần-khánh-Dư đem quân ra giữ mặt Vân-đồn (thuộc Quảng-yên). Còn các vương hầu thì chia đóng ra các nơi hiểm yếu. Ngài thì đóng đại quân tại Vạn-kiếp (bây giờ thuộc về Hải-dương) để tiếp ứng cho các nơi.

    Đó là :


    Bắn hổ nên phòng cung nỏ tốt,

    Câu ngao phải sắm lưới chài tươm.


    Chưa biết việc sau thế nào, sẽ xem hồi sau phân giải.


    HỒI THỨ NĂM


    Phạm-ngũ-Lão gặp dịp tiến thân,

    Trần-quốc-Toản cả gan nổi tiếng.


    Hưng-đạo vương phân phát các vương hầu tướng sĩ chia giữ các nơi đâu đấy, còn ngài thì đóng đại quân ở tại Vạn-kiếp. Mỗi ngày sai bốn con là Quốc-Nghiễn, Quốc-Úy, Quốc-Tảng, Quốc-Nghê, và các tì tướng là Dã-Tượng, Yết-Kiêu, Nguyễn-địa-Lô, Cao-Mang, Đại-Hành, thao diễn quân thủy, quân bộ.

    Các hào-kiệt thiên-hạ theo về với ngài cũng nhiều. Một bữa Hưng-đạo vương tự trại Vạn-kiếp vào kinh đô Thăng-long, đi qua làng Phù-ủng, ([1]) có một người tướng mạo khôi ngô, trạc ngoài 20 tuổi, đang ngồi xếp bằng tròn bên vệ đường đan sọt. Quân tiền-hô đi đến, thét to : “ Đứng dậy...!” Người ấy vẫn ngồi nghiễm nhiên như không. Quân lính tức mình cầm giáo đâm vào đùi cho một nhát, người ấy cũng không nhúc nhích. Khi xe ngài đến nơi, thấy người kỳ ngộ làm vậy, mới cho đòi đến trước xe mà hỏi. Bấy giờ người ấy mới biết đùi mình bị đâm.

    Hưng-đạo vương hỏi rằng :

    - Tên kia, tên họ là gì, quê quán ở đâu?

    - Tâu Đại-vương, tôi là người làng Phù-ủng tỉnh Hải-dương này, họ Phạm tên Ngũ-Lão, có nhà cạnh đây.

    - Chớ sao ta đi qua đấy, mà ngươi cứ ngồi chững chạc làm vậy?

    - Tâu Đại-vương, tôi nhân trong bụng đang nghĩ một việc, vì thế đại-vương qua đây mà không biết, xin ngài thứ tội cho.

    Hưng-đạo vương lấy làm kỳ, hỏi đến sự học hành, hỏi đâu giả nhời đấy, trôi trát như suối chảy, lục thao, tam lược, cùng kinh truyện, không sót chỗ nào.

    Hưng-đạo vương mừng lắm, sai lấy thuốc dấu rịt vào chỗ đau, rồi cho ngồi một xe sau, đem về kinh-đô.

    Phạm-ngũ-Lão nguyên là người văn võ kiêm toàn, có chí từ thuở nhỏ. Thường hay ngâm một bài thơ như sau này :


    Ngọn giáo non sông trải mấy thâu,

    Ba quân hùng hổ át sao Ngâu.

    Công danh nếu để còn vương nợ,

    Luống thẹn tai nghe chuyện Võ-hầu !


    Khi ấy Hưng-đạo vương đem Phạm-ngũ-Lão vào chầu, tiến lên thiên-tử, dùng làm quản vệ-sĩ. Các vệ-sĩ không phục, xin đấu sức. Ngũ-Lão xin cáo về nhà ba tháng thu xếp việc nhà, rồi sẽ xin đấu sức và lĩnh chức.

    Ngũ-Lão về đến nhà, mỗi ngày ra đồng, tìm chỗ nào có gò cao tập nhảy, cách vài mươi thước, nhảy vót như không. Tập thành rồi vào thi, đấu sức với các vệ-sĩ, tay đấm, chân đá, nhảy nhót như bay, hàng mấy trăm lực sĩ xúm vào đánh một mình không nổi, từ bấy giờ chúng mới phục.

    Vua thấy người có tài, cho theo Hưng-đạo vương về Vạn-kiếp giúp việc quân nhung. Hưng-đạo vương biết Ngũ-Lão là người văn võ kiêm toàn, mặt mũi khôi ngô, đang trạc tuổi trẻ, có lòng yêu mến, cho làm đàn anh cả bọn tì-tướng bộ-hạ.

    Dã-Tượng, Yết-Kiêu cậy mình có sức khỏe, và hầu Hưng-đạo vương đã lâu, thấy Ngũ-Lão còn trẻ mà được làm đàn anh mình, không phục, xin tình nguyện thi võ nghệ. Hưng-đạo vương cũng nhân thể muốn xem võ nghệ các tướng, mới mở một trường đấu võ ở ngoài trại cho các tướng thi tài.

    Hôm sau, Hưng-đạo vương thân ra trường diễn võ, các tướng mặc đồ nhung-phục, đứng sắp hàng hai bên, trong trường để 10 quả tạ, mỗi quả nặng 100 cân. Cách ngoài cửa trại một 100 bước, cắm một lá cờ thêu hồng-tâm ở giữa làm đích bắn. Xung quanh dàn cắm kiếm kích chỉnh tề.

    Hưng-đạo vương truyền rằng :

    - Các tướng ai muốn thi võ, trước hết phải xách hai quả tạ đi lại được 100 bước.

    Nói vừa dứt nhời, Cao-Mang ra trước, hai tay xách hai đi lại vừa được 100 bước thì buông. Đại-Hành, Nguyễn-địa-Lô bước ra cũng xách đi được 100 bước. Kế đến Yết-Kiêu thì được 120 bước. Bốn người xách xong, đều đứng thở nhược một hồi. Dã-Tượng bước ra nói rằng :

    - Các chú hèn lắm, để ta đi cho mà xem !

    Nói xong hai tay xách hai quả, lại cắn một quả vào hàm răng, cứ thong thả đi lại vừa được 150 bước, mới bỏ xuống. Các người xem xung quanh, ai cũng vỗ tay khen là giỏi.

    Phạm-ngũ-Lão chạy ra nói rằng :

    - Thế đã lấy gì làm giỏi mà khen.

    Lập tức cũng xách hai quả và cắn một quả, vừa nhắc lên, giương thẳng hai cánh, rồi mới buông xuống, cũng đi thong thả, vừa đi vừa lại được 160 bước, lúc gần bỏ xuống, cầm hai quả tung lên cao một trượng.

    Chúng đứng xem reo ồ cả lên.

    Hưng-đạo vương gọi cả các tướng đến trước mặt bảo rằng :

    - Các tướng sức lực tuy có vẻ hơn người kém, nhưng cũng giỏi cả, vậy ta thưởng cho mỗi người một cốc rượu. Bây giờ các tướng bắn tên, ai bắn trúng hồng-tâm, luôn ba phát, thì ta sẽ thưởng cho một tấm lụa.

    Các tướng lĩnh rượu uống xong, cầm cung lên ngựa đứng chực đôi bên vệ đường.

    Phạm-ngũ-Lão nói rằng :

    - Đại-vương truyền làm vậy, ai giỏi thì ra mà bắn đi.

    Yết-Kiêu quất ngựa ra trước, chạy diễu một vòng, rồi đến chỗ cữ đứng bắn, giương cung bắn ra một phát, tin giữa hồng-tâm, lại bắn luôn hai phát nữa, thì một phát tin vào vành ngoài, còn một phát tin vào lá cờ. Cao-Mang thấy vậy chạy ra, cũng bắn luôn ba phát, hai phát vào giữa, một phát ra ngoài.

    Nguyễn-địa-Lô thấy hai người bắn tuy có tin, nhưng không được tin cả, mới giương cung quất ngựa ra, quát lên rằng :

    - Xem ta bắn đây này !

    Nói dứt nhời, cung bật tách một tiếng, tin ngay vào giữa hồng-tâm. Chúng đứng xem reo ầm cả lên. Phút lại thấy hai mũi tên nữa bay đến, cũng cắm cả vào một chỗ. Ai nấy trông thấy cũng ngạc nhiên, khen là giỏi.

    Bỗng lại thấy một ngựa nhẩy ra, chạy đi chạy lại, ba bốn dạo, có một tướng ngồi trên ngựa giương cung đặt tên hô lên rằng :

    - Trông tên của Dã-Tượng !

    Nói đoạn, bắn luôn ba phát, hai mũi tin giữa hồng-tâm, còn một phát, thì phải lá cờ bay tạt ra một bên, mũi tên vụt ra ngoài.

    Chúng cười ầm cả lên, Dã-Tượng có ý thẹn giở vào. Phạm-ngũ-Lão lấy nhời khuyên giải nói rằng :

    - Tướng-quân bắn thế đã là giỏi đấy, giá không có gió bay lá cờ thì làm gì mà chả tin cả.

    Dã-Tượng tưởng nói khẩy mình, mới phát bẳn lên rằng :

    - Thôi ! Tôi hèn ! Nhưng còn anh đấy, anh thử bắn đi cho tôi xem.

    Phạm-ngũ-Lão tủm tỉm cười nói rằng :

    - Cái gì, chớ nghề bắn thì tôi khí kém, xin các anh miễn chấp cho.

    Dã-Tượng nhất định không nghe, cố ép phải ra bắn, Phạm-ngũ-Lão bấy giờ mới cưỡi ngựa cầm cung đi ra, đến chỗ cắm cờ, xem các mũi tên, thì thấy bảy tám mũi tên đã cắm đều cả trong hồng-tâm, mới quay ngựa chạy đi, vừa chạy vừa quay mặt bắn lại đằng sau, bật ra ba phát, mỗi phát tống một mũi tên kia ra ngoài mà bắn vào lỗ cũ.

    Tướng-sĩ trên dưới cùng là người đứng xem, ai cũng vỗ tay reo ầm ầm, lắc đầu le lưỡi.

    Hưng-đạo vương cũng-khen :

    - Tài này không kém gì Giưỡng-do-Cơ. ([2])

    Phạm-ngũ-Lão chạy ngựa lại trước chỗ Hưng-đạo vương ngồi, reo lên rằng :

    - Tâu Đại-vương, tên này có đáng thưởng tấm lụa không à?

    Hưng-đạo vương sai đem tấm lụa ra thưởng, sực thấy Dã-Tượng chạy đến, trợn mắt lên nói rằng :

    - Đã đành anh bắn giỏi, nhưng anh có dám đấu kích với tôi không?

    - Làm gì mà không dám.

    Hai người liền tế ngựa ra giữa đường, đấu kích với nhau ước chừng 50 hợp. Dã-Tượng tuy khỏe, nhưng không tinh nhanh bằng Ngũ-Lão, chống đỡ dần dần không nổi, cầm rê ngọn kích tế ngựa chạy ra ngoài, Ngũ-Lão sấn vào đuổi theo, các tướng kéo ồ cả vào cản lại. Từ bấy giờ Dã-Tượng và các tướng ai cũng phải phục Ngũ-Lão.

    Hưng-đạo vương sai mở tiệc cho các tướng uống rượu, rồi thưởng cho Phạm-ngũ-Lão một tấm lụa và 50 lạng bạc ; còn các tướng cũng thưởng cho mỗi người 30 lạng bạc. Tiệc đang vui vẻ, sực có tin về báo rằng :

    - Thái-tử bên Nguyên là Thoát-Hoan hội quân ở Hồ-quảng, sắp sửa kéo sang mặt Lạng-sơn.

    Hưng-đạo vương vội vàng sai người phi báo về kinh-đô, một mặt điều binh sai tướng kéo lên mặt Lạng-sơn phòng giữ.

    Vua Nhân-tôn được tin phi báo, có ý lo quân ta không địch nổi, sai Trung-đại-phu là Trần-Phủ mang đồ lễ sang sứ bên Nguyên, xin hoãn binh, để thương nghị lại.

    Nguyên chúa không nghe, sai Thoát-Hoan cứ việc tiến binh sang.

    Vua thấy Nguyên triều không nghe, lập tức cho triệu cả các bô-lão dân gian hội tại đền Diên-hồng, hỏi rằng :

    - Quân Nguyên kéo đến đây, nên hòa hay là nên đánh, các cụ già nghĩ làm sao?

    Các bô-già ai nấy đồng thanh tâu lên rằng :

    - Muôn tâu bệ-hạ, nên đánh !

    Vua thấy dân-gian ai cũng đồng lòng, bấy giờ ý mới quyết.

    Nói về Thoát-Hoan phụng mệnh Nguyên chúa sai Toa-Đô, Đường-ngột-Đải, dẫn 10 vạn quân thủy đi đường Quảng-châu, men qua bể sang Chiêm-thành, còn mình thì kéo quân đến ải-quan, cho người đưa thư sang trước, nói là mượn đường sang đánh Chiêm-thành.

    Vua bảo sứ-giả rằng :

    - Tự bản quốc sang Chiêm-thành, đường thủy, đường lục, không có đường nào tiện.

    Sứ-giả lạy từ giở về, nói với Thoát-Hoan, Thoát-Hoan nổi giận, thúc quân kéo tràn đến địa đầu địa-giới Lạng-sơn, Hưng-đạo vương liền dàn quân ra phòng giữ các mặt.

    Thoát-Hoan lại sai quan Bả-tổng tên là A-Lý đến dụ rằng :

    - Bản-súy chuyến này chỉ nhờ đường Nam-quốc, sang đánh Chiêm-thành, chớ không có bụng nào đâu mà ngại. Nam-quốc nên mở cửa ải cho quân bản-súy đi, hễ đi đến đâu, nhờ giúp cho ít nhiều lương thảo, khi nào phá xong Chiêm-thành, sẽ có trọng tạ về sau. Nếu bằng kháng cự thiên-binh, thì bản-súy quyết không dong tình, phá tan bờ cõi, bấy giờ dù hối lại cũng không kịp.

    Hưng-đạo vương nổi giận mắng rằng :

    - Đồ tanh hôi kia ! Chúa mày muốn dùng mẹo giả đồ diệt Quắc, ([3]) dối thế nào được tao? Đáng nhẽ tao chặt đầu mày đi là phải, nhưng tao không chấp chi tuồng nhỏ mọn, tao hãy mượn mồm mầy về bảo với chủ-súy nhà mày, tha hồ cho đến đây mà đánh, đây tao không sợ.



    [1] Phù-ủng thuộc phủ Bình-giang, tỉnh Hải-dương.

    [2] Là người tài bắn đời Chiến-quốc.

    [3] Nước Tấn mượn đường nước Ngu, sang đánh nước Quắc, lấy được nước Quắc rồi, lại quay về lấy nước Ngu.
  • Chia sẻ trang này