1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0109.0009

1/1/16
0109.0009
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:


    - Quân ta bại trận mới về, kẻ dấu vết chưa khỏi, người đau yếu chưa dậy, xin hãy cho quân-sĩ nghỉ ngơi dưỡng sức ít lâu, rồi sẽ định kế xuất chinh.

    Nguyên chúa nghe nhời, cho quân sĩ nghỉ ngơi vài tháng. Còn Trần-ích-Tắc khi trước hàng Thoát-Hoan theo về Tàu, hãy cho ra ở Ngạc-châu.

    Qua sang mùa xuân tháng hai năm sau, bấy giờ là năm Đinh-hợi, niên hiệu Trùng-hưng thứ ba (niên hiệu Chí-nguyên nhà Nguyên thứ 24, lịch tây 1287). Nguyên chúa kén lấy 7 vạn quân, 5 trăm chiếc thuyền ở Giang-hoài, Hồ-quảng, Giang-tây ; lại phát 6 nghìn quân Vân-nam và 1 vạn 5 nghìn quân ở bốn châu ngoài bể. Sai Thoát-Hoan làm Đại-nguyên-súy, A-bát-Xích làm Hành-tỉnh-tả-thừa, Áo-lỗ-Xích làm Bình-chương-chính-sự, Ô-mã-Nhi, Phàn-Tiếp làm Tham-tri-chính-sự, khởi thêm quân trong nước cả thẩy 30 vạn, cho theo Thoát-Hoan sang đánh nước Nam, giả danh đưa Trần-ích-Tắc về nước, lập làm An-nam quốc vương. Lại sai Vạn-hộ là Trương-văn-Hổ theo đường bể tải hơn 70 vạn tạ lương sang cấp cho quân ăn.

    Thoát-Hoan phụng mệnh sắp sửa cất quân đi. Sực có cận-thần vào tâu với Nguyên chúa rằng :

    - Tâu bệ-hạ, có một tên tù là Nguyễn-Nhan, phạm tội đáng chết, y tình nguyện đi làm hướng đạo, sang đánh Nam-quốc, lập công để chuộc tội.

    Nguyễn-Nhan tên chữ là Bá-Linh (ta thường gọi là phạm Nhan), cha là người Quảng-đông, sang buôn bán bên nước Nam, lấy vợ ở làng, An-bài huyện Đông-triều, sinh ra Bá-Linh. Bá-Linh nhớn theo cha về Tàu, học hành cực giỏi, đỗ Tiến-sĩ triều nhà Nguyên ; lại cao tay phù-thủy, có phép tàng hình biến hóa. Thường vào trị bệnh cho cung-nữ, rồi thường thường biến phép hóa hình làm con gián, vào cung tư thông với cung-nhân. Về sau lộ truyện, Nguyên chúa dùng phép bắt được, định án chảm quyết. Bá-Linh thấy Thoát-Hoan cất quân đi, mới tâu xin đi tùng quân chuộc tội.

    Nguyên chúa đang khi muốn báo thù, thấy Bá-Linh có lắm thuật tài, và lại ở nước Nam đã lâu, quen biết thông thổ, mới tha tội cho đi theo Thoát-Hoan làm hướng-đạo.

    Bá-linh mừng rỡ, lạy tạ ơn Nguyên chúa, giở về thu xếp ấn quyết đồ đạc, đi theo Thoát-Hoan.

    Vua nghe tin Nguyên triều sắp sửa cất quân vời Hưng-đạo vương vào, hỏi rằng :

    - Thoát-Hoan bại trận giở về, chuyến này căm tức sang đánh báo thù, quân thế hẳn to hơn trước, ta nên dùng kế gì mà chống lại được?

    Hưng-đạo vương tâu rằng :

    - Nước ta xưa kia, quân dân hưởng thái bình đã lâu, không tập đến việc chiến trận, cho nên năm trước, quân Nguyên vào cướp, còn có kẻ trốn tránh theo hàng giặc. May nhờ có oai linh tổ-tôn, và thần võ của bệ-hạ, đi đến đâu được đến đấy, mới quét sạch được bờ cõi. Còn như bây giờ, quân ta đã quen việc công chiến, mà kẻ kia thì đi xa xôi mỏi mệt. Vả lại thấy Toa-Đô, Lý-Hằng, Lý-Quán tử trận, tất cũng chột dạ, quân tình đã sinh nghi sợ, hẳn không dám hết sức mà đánh. Cứ như ý tôi xem ra, thì chuyến này dù có quân Nguyên sang đây, ta phá cũng dễ hơn phen trước. Xin bệ-hạ đừng lo.

    Vua mừng rỡ, sai Hưng-đạo vương đốc suất các vương hầu, mộ thêm quân sĩ, sửa sang khí giới, để phòng việc công thủ.

    Hưng-đạo vương phụng mệnh, truyền hịch cho các vương hầu mộ binh.

    Qua sang tháng mười một, Thoát-Hoan dẫn quân noi đường Khâm, Liêm, đến châu Tư-minh ; sai Vạn-hộ là Hà-Chỉ, Trương-Ngọc lĩnh 2000 quân, vận lương thảo chứa tại châu ấy. Lại sai Trình-bằng-Phi, Áo-lỗ-Xích mỗi người dẫn 1 vạn bộ binh đi đường lục ; Ô-mã-Nhi, Phàn-Tiếp suất lĩnh chu-sư đi đường bể, chia làm hai ngả kéo sang trước. Còn Thoát-Hoan thì tự dẫn đại quân đi sau.

    Quan trấn-thủ ngoài biên thùy phi báo về Thăng-long. Các quan tâu với vua, xin tuyển thêm lính cho nhiều để chống giặc.

    Hưng-đạo vương tâu rằng :

    - Binh, cốt giỏi không cốt nhiều, nếu nhiều mà không giỏi, thì dù như Bồ-Kiên có trăm vạn quân, cũng không ích gì. Vả lại giặc đến chuyến này, ta chống lại cũng dễ, mà các vương hầu đã mộ quân thêm rồi, can gì phải tuyển nữa.

    Vua nghe nhời, không tuyển thêm binh, sai Hưng-đạo vương thống lĩnh các vương hầu, chia quân ra phòng giữ các nơi.

    Hưng-đạo vương phụng chiếu về dinh, hội các vương hầu tướng tá lại truyền lịnh rằng :

    - Quân Nguyên chuyến này muốn đánh báo thù phen trước, quân thế mới sang rất mạnh. Các tướng nên phải dụng tâm phòng thủ cho nghiêm mật, chờ khi quân kia đã mỏi mệt, ta sẽ dùng mẹo thừa cơ mà phá, thì mới có thể đánh được, nếu ai coi thường khinh địch, thì đã có quân lịnh !

    Các tướng đều hoan hô phụng mệnh.

    Hưng-đạo vương mới sai Chiêu-văn vương Trần-nhật-Duật, Tướng-quân Nguyễn-Khoái dẫn 3 vạn quân lên giữ mặt Lạng-sơn. Sai Hoài-văn Hầu Trần-quốc-Toản, Tướng-quân Lê-phụ-Trần dẫn 3 vạn quân vào giữ mặt Nghệ-an, hai đạo ấy đường xa cho đi trước.

    Hưng-đạo vương tự thống đại quân ra mặt Quảng-yên, sai Phạm-ngũ-Lão làm tiền quân, Cao-Mang làm tả quân, Đại-Hành làm hữu-quân, Nguyễn-địa-Lô làm hậu quân; Dã-Tượng, Yết-Kiêu và bốn vị vương-tử lĩnh trung-quân đi kèm với Hưng-đạo vương.

    Khi cất quân sắp đi, sực có một người tráng-sĩ độ 20 tuổi, xin vào bái kiến.

    Lính canh đưa vào hầu, Hưng-đạo vương trông thấy người ấy, mặt mũi phương phi, sức lực khỏe mạnh, hỏi rằng :

    - Tên kia đến đây có việc gì?

    - Tôi nghe đại-vương sắp cất quân đi đánh giặc, vậy xin vào làm môn-hạ, tình nguyện đi tiên phong phá giặc.

    Người ấy họ Nguyễn tên là Chế-Nghĩa, quê ở làng Cối-xuyên, huyện Gia-lộc, tỉnh Hải-dương. Có sức khỏe, tài võ nghệ, lại thông hiểu thiên-văn, binh-pháp.

    Thường có bài thơ tự thuật rằng :

    Đội giời đạp đất một con người,

    Chí khí đường đường kể mấy mươi.

    Há chịu khách Tề khua kiếm chực,( [1])

    Nào thua tôi Tấn máu roi chơi.( [2])

    Mưa Hoài,( [3]) lửa Cử khôn nghìn chước,( [4])

    Gác Hán, lầu Đường thỏa một thời.

    Trung nghĩa đứng vòng giời đất rộng,

    Tiếng thơm khen ngợi để muôn đời.

    Người ấy vốn có chí lập công danh, nghe Hưng-đạo vương hay thu dùng hiền tài, vẫn muốn đầu làm môn-hạ. Nay nghe tin ngài cất quân đi đánh giặc, mới nhân dịp vào bái kiến. Hưng-đạo vương hỏi truyện lai lịch, biết là người tài trí. Nhưng ngài muốn thử cho biết rõ, mới sai lính đem thương, ngựa, cho Chế-Nghĩa cưỡi ngựa múa thương xem ra làm sao. Chế-Nghĩa phụng mệnh cầm thương, nhảy phắt lên ngựa, vừa phi ngựa vừa múa thương, ngọn thương vùn vụt, tiếng kêu ve ve, chỉ trông thấy bóng nhấp nhoáng xung quanh mình. Múa một hồi, chống thương xuống ngựa, các tướng ai cũng chịu là giỏi.

    Hưng-đạo vương lại hỏi các mưu mô trong binh-thư, thì hỏi đâu nói đấy, không sót chỗ nào.

    Hưng-đạo vương khen rằng :

    - Người này chẳng kém gì tài Phạm-ngũ-Lão, ta lại được thêm một tay tướng tài !

    Lập tức vào chầu vua, xin phong cho Nguyễn-chế-Nghĩa làm Tiên-phong tướng-quân.

    Nguyễn-chế-Nghĩa lạy tạ ơn, rồi theo Hưng-đạo vương đi đánh giặc.

    Hưng-đạo vương sai Chế-Nghĩa làm chánh tiên-phong, và sai hai tên tì-tướng là Hùng-Thắng, Huyền-Du làm phó tiên-phong, cho dẫn 3.000 quân đi trước, ngài dẫn đại quân đi sau.

    Chế-Nghĩa dẫn quân đến châu Tư-minh, chia đóng ba đồn : Sa, Từ, Trúc, cự nhau với quân Thoát-Hoan.

    Hưng-đạo vương đóng đại quân trên núi Phù-sơn, sai đại tướng là Nguyễn-Thức đem quân Thánh-dực, Dũng-nghĩa giữ chặn cửa sông Đại-than, ([5]), phòng quân Nguyên đi đường thủy kéo vào.

    Nói về tiền-quân của Nguyên là Trình-bằng-Phi, Áo-lỗ-Xích tiến binh đi trước, thấy bên này đã lập ba trại chỉnh tề, giữ gìn cẩn thận. Hai tướng mới đem binh đến phá trại.

    Nguyễn-chế-Nghĩa ra khỏi trại 10 dặm dàn trận. Trình-bằng-Phi cũng dẫn quân vừa đến.

    Chế-Nghĩa thúc ngựa ra trước, quát lên rằng :

    - Quân sống sót kia, sao còn dám đến quấy nhiễu nước tao?

    Trình-bằng-Phi cũng mắng rằng :

    - Sức nước mày được bao nhiêu, mà dám kháng cự với thượng-quốc? Quân ta hùng binh trăm vạn, chiến tướng nghìn viên, nếu mày biết thân, thì đừng khoe tài với tao mà uổng mạng !

    Chế-Nghĩa nổi giận, múa thương thúc ngựa vào đánh. Bằng-Phi khoa một lưỡi khai-sơn đại-phủ ra cự chiến. Hai tướng đấu nhau 5, 6 mươi hợp, một thương một phủ, ra sức giao phong. Chế-Nghĩa đánh hăng quá, Bằng-Phi địch không lại, dần dần núng thế, Áo-lỗ-Xích liền múa đôi gươm xông vào đánh đỡ cho Bằng-Phi. Chế-Nghĩa một mình cự hai tướng, không núng chút nào. Bỗng đâu tiếng reo nổi lên, thì là quân của Hùng-Thắng, Huyền-Du chia làm hai ngả kéo đến. Quân Nguyên thất đảm xôn xao chạy ra tứ phía. Áo-lỗ-Xích, Trình-bằng-Phi thấy quân đã vỡ, cũng quay ngựa chạy về. Chế-Nghĩa thừa thắng đánh thốc vào trong đám quân Nguyên, các tướng giặc hễ thò tên nào ra địch là bị đâm chết. Quân Nguyên thấy Chế-Nghĩa khỏe mạnh lạ thường, đều kinh hoảng lạy thụp xuống trước ngựa, kêu xin thứ mạng.

    Chế-Nghĩa thương tình không nỡ đuổi giết, mới thu quân về trại.

    Hai tướng Nguyên bị thua một trận, căm tức lắm, hôm sau lại kéo quân đến phá trại. Nguyễn-chế-Nghĩa dẫn quân ra đánh, quân Nguyên lại thua lụn bại một trận nữa giở về.

    Trình-bằng-Phi sai người phi báo với Thoát-Hoan. Thoát-Hoan nổi giận, sai A-bát-Xích dẫn thêm 1 vạn quân đến hợp sức vời Trình-bằng-Phi, Áo-lỗ-Xích, để phá quân ta. Một mặt sai thủy-quân kéo vào cửa sông Đại-than.

    Nguyễn-chế-Nghĩa nghe tin Thoát-Hoan thêm quân đến đánh, sai người báo tin với Hưng-đạo vương. Hưng-đạo vương vội vàng sai Phạm-ngũ-Lão, Cao-Mang, Đại-Hành dẫn quân lên giúp Nguyễn-chế-Nghĩa.

    Quân Nguyên chia làm ba đạo : Trình-bằng-Phi đánh đồn Sa, Áo-lỗ-Xích đánh đồn Từ, A-bát-Xích đánh đồ Trúc. Phạm-ngũ-Lão cũng chia quân ra cứu ba mặt.

    Nói về A-bát-Xích kéo quân đến đánh Nguyễn-chế-Nghĩa tại đồn Trúc, Chế-Nghĩa dẫn quân ra địch. Đôi bên đánh nhau cực dữ, sát khí mù giời. Chế-Nghĩa tuy khỏe, nhưng ít quân không địch nổi A-bát-Xích. May có Phạm-ngũ-Lão dẫn quân đến cứu, đánh rát một trận, quân Nguyên mới lui.

    Còn hai mặt quân của Trình-bằng-Phi và Áo-lỗ-Xích đến đánh trại Sa và trại Từ. Tướng giữ hai trại ấy là Hùng-Thắng, Huyền-Du, hiệp với Cao-Manh, Đại-Hành, giữ gìn cẩn thận. Hai tướng Nguyên phá không nổi, cũng dẫn quân giở về.

    Còn thủy-quân của Nguyên tự đường bể kéo vào cửa sông Đại-than. Tướng giữ cửa sông ấy là Nguyễn-Thức đã phục sẵn hai đạo thủy-quân ở hạ-lưu, rồi dẫn một đạo chiến thuyền lên cự địch. Chiến thuyền của Nguyên kéo bừa bãi vào đánh. Nguyễn-Thức giả thua lùi về. Quân Nguyên thúc thuyền vào đuổi, vừa được vài dặm thủy-trình, thì chiến thuyền phục hai bên đổ ra chặn ngang đường về, Nguyễn-Thức lại thúc thuyền quay lại, ba mặt đánh dồn vào, thuyền giặc bị phá vỡ tan tành, chìm đắm vô số. Còn cái nào chạy được, lại trút cả ra cửa bể. Nguyễn-Thức thắng trận, khua chiêng thu quân.

    Thoát-Hoan nghe tin báo mấy đạo quân cùng bị thua, khí tức uất lên, gầm hét như sấm, nói rằng :

    Quân ta vừa mới xuất trận, mà đã bị thu luôn, phỏng lâm đến đại quân thì đánh làm sao cho được?

    Nói đoạn giậm chân đập tay, làm rinh cả trại. Các tướng ai nấy sợ xanh mắt.

    Sực có một người bước ra thưa rằng :

    - Xin thái-tử bớt giận, tôi xin dùng mẹo này, dù quân Trần mạnh đến thế nào cũng phải thua.

    Thoát-Hoan trừng mắt trông ra thì là Nguyễn-bá-Linh.

    Đó là :


    Đang cơn tức giận gan như xé,

    Chợt có lương mưu ruột cũng nguôi.


    Chưa biết Nguyễn-bá-Linh hiến kế ra làm sao, sẽ xem hồi sau phân giải.



    HỒI THỨ MƯỜI HAI


    Phá quan quân, giặc dùng yêu-thuật.

    Nổi phong võ, giời tựa hoàng-gia.


    Đang khi Thoát-Hoan tức giận, Nguyễn-bá-Linh bước ra hiến kế nói rằng :

    - Xin thái-tử tiến quân đến sát trại, tôi chỉ dùng một thuật nhỏ, cũng đủ cho Nam-quân tan vỡ, phải bỏ trại mà chạy.

    Thoát-Hoan mừng rỡ, hỏi rằng :

    - Ngươi có kế gì mà tài làm vậy?

    Bá-Linh thưa :

    - Xin thái-tử dàn trận đối địch với trận bên kia, tôi sẽ dùng phép, làm cho nổi cơn giông gió, rồi có thần binh xuống giúp, quân kia tự khắc phải chạy, thái-tử thừa thế cướp lấy ba trại dễ như chơi.

    Thoát-Hoan mừng rỡ, kéo binh đến gần trại quân Trần dàn trận, cho người đưa chiến-thư thách đánh. Rồi chia quân làm ba đường, chực sẵn thừa cơ cướp trại.

    Phạm-ngũ-Lão, Nguyễn-chế-Nghĩa tiếp được chiến-thư, liền mang quân ra bày trận. Hai tướng kìm ngựa đứng hai góc, trông sang trận bên Nguyên, thấy Thoát-Hoan đứng trong cửa cờ, hai bên 10 viên dũng tướng.

    Nguyễn-chế-Nghĩa quất ngựa ra, quát to lên rằng :

    - Bớ các tướng giặc, dám địch nhau với ta thì ra đây !

    Trong trận Nguyên có Áo-lỗ-Xích nhảy ra. Hai tướng đấu nhau hơn 50 hợp. Ngũ-Lão đứng trong trận nhìn sang, lại thấy có một tướng bảnh khảnh, mắt nhỏ, mặt dài, cưỡi ngựa ra cửa trận. Tay cầm một thanh bảo kiếm, xòa đầu rũ tóc, trong mồm niệm chú lẩm bẩm mấy câu. Ngũ-Lão biết là người ấy dở trò yêu thuật, vội vàng thúc ngựa nhảy xổ ra, thét lên rằng :

    - Thằng kia chớ dở tà thuật !

    Nói buông nhời, toan nhảy vào đâm tướng ấy, bỗng dưng thấy giời nổi cơn giông, cát sỏi bay vù vù, mây kéo tối mù mịt, quân sĩ giáp mặt không trông thấy nhau. Rồi lại nghe tiếng trên không réo lên ầm ầm, tựa hồ thiên binh vạn mã đổ xuống. Quân sĩ kinh hãi, không biết thế nào, xôn xao tan vỡ, ai nấy đổ xô mà chạy. Quân Nguyên thừa thế đánh tràn sang. Phạm-ngũ-Lão, Nguyễn-chế-Nghĩa dẫn quân về trại. Quân Nguyên đánh bừa vào trại. Hai tướng giữ không nổi, phải bỏ trại chạy về trại Phù-sơn.

    Thoát-Hoan chiếm được trại Trúc, sai các tướng thừa thế lấy nốt trại Từ, trại Sa. Hùng-Thắng, Huyền-Du nghe tin Nguyễn-chế-Nghĩa, Phạm-ngũ-Lão chạy rồi, mà quân Nguyên kéo đến hằng hà sa số, biết cơ giữ không lại, vậy cũng bỏ trại mà chạy, quân Nguyên chiếm được cả hai trại ấy.

    Phạm-ngũ-Lão, Nguyễn-chế-Nghĩa về trại Phù-sơn, vào hầu Hưng-đạo vương, thuật lại việc giặc dùng phù phép. Hưng-đạo vương sai người do xem yêu-tướng là ai, mới biết là Nguyễn-bá-Linh dùng phép.

    Hôm sau Hưng-đạo vương sắp cất quân đi đánh Thoát-Hoan. Sực thấy bụi bay mù mịt, thì là Thoát-Hoan đã kéo quân đến. Hưng-đạo vương đem quân xuống chân núi dàn trận. Một nhát quân Nguyên kéo đến, cũng dàn trận một bên. Hưng-đạo vương cưỡi ngựa tra trước trận, hai bên 8 viên kiêu-tướng đứng kèm. Thoát-Hoan lại sai Nguyễn-bá-Linh ra trận dùng phép.

    Phạm-ngũ-Lão đứng cạnh Hưng-đạo vương trỏ tay ra, nói rằng :

    - Người này chính là người dùng phù phép, phá quân ta bữa trước, phải trừ đi mới được.

    Hưng-đạo vương nổi giận, sai Ngũ-Lão ra bắt tướng ấy. Ra chưa đến nơi, thấy tướng ấy cầm thanh kiếm ngảnh mặt lên giời, lẩm nhẩm niệm chú, rồi lại thấy gió nổi đùng đùng, tối tắm mù mịt, quân mã ở trên không ào áo kéo xuống. Hưng-đạo vương vội vàng quay ngựa vào trận, quân sĩ xôn xao lại chạy. Các tướng kèm giữ Hưng-đạo vương chạy lên trên núi. Bỗng lại thấy ở mé sau núi có hai đạo quân đánh tập hậu. Toán đánh tập hậu ấy nguyên là Thoát-Hoan dự sẵn, sai Trình-bằng-Phi và Áo-lỗ-Xích đi lẻn đường rừng kéo ra. Quân ta đang lúc kinh hoảng, không bụng nào dám chống giữ. Quân Nguyên phá toang được vào trại. Các tướng hết sức đánh giãn quân của Áo-lỗ-Xích ra, giữ gìn Hưng-đạo vương chạy về Vạn-kiếp.

    Hưng-đạo vương bàn với các tướng rằng :

    - Giặc dùng yêu thuật, quân ta hư kinh mà bị thua, các ngươi ai có kế gì phá được không?

    Yết-Kiêu thưa rằng :

    - Tôi nghe khi xưa công-chúa có gặp tiên-mẫu cho thanh thần-kiếm, giao cho đại-vương, dặn đến khi nào gặp giặc có yêu thuật, hễ trỏ thanh kiếm ấy, niệm câu thần-chú, thì tự khắc phá được, đại-vương sao không dùng kiếm ấy?

    Hưng-đạo vương cười nói rằng :

    - Thuật ấy chẳng qua là ảo thuật, xưa nay phép phù-thủy thường hay có trò ấy, chỉ dùng đồ dơ bẩn thì trừ được, can chi phải mượn đến phép thần-tiên.

    Bèn gọi Phạm-ngũ-Lão, Nguyễn-chế-Nghĩa ra dặn rằng :

    - Hai ngươi cho quân sĩ chứa sẵn đồ dơ bẩn, phục hai bên trái núi. Ngày mai ta tiến quân ra dàn trận, đánh nhau với quân Thoát-Hoan. Khi nào giặc dùng thuật, có âm binh trên không kéo xuống, thì cho quân sĩ từ trên đầu núi phóng uế xuống, tất là phá được.

    Hai tướng phụng mệnh, chữ sẵn máu chó, máu dê, phục quân trên sườn núi. Hưng-đạo vương dẫn quân dàn trận trước núi.

    Thoát-Hoan tự khi phá được trại Phù-sơn, sắp cất quân xuống Vạn-kiếp, sực thấy thám-tử về báo rằng :

    - Trần Hưng-đạo vương hiện đã dàn trận ở trước núi, chực đánh quân ta.

    Thoát-Hoan lập tức tiến quân đến đó dàn trận. Đôi bên nổi trống, Nguyễn-bá-Linh quen thói lại dùng phép trước. Hưng-đạo vương giả thua lui quân. Thoát-Hoan thừa thế đuổi theo đến cạnh sườn núi. Phạm-ngũ-Lão, Nguyễn-chế-Nghĩa trông ra thấy giời đất tối mù, ào áo có tiếng âm-binh, âm-tướng ; kíp nổi hiệu pháo, trống đánh vang động, sai quân sĩ đem máu chó, máu dê rảy vung ra ; tức thì thấy khí mù tan hết, giông gió liền tạnh ; rồi thấy người, ngựa, khí giới tinh bằng cỏ gà và giấy, lả tả rơi xuống đất. Quân Nguyên thấy phá mất yêu-thuật, vội vàng quay về ; quân ta tự trên núi đổ xuống đuổi theo, Hưng-đạo vương cũng thúc quân đánh xốc lại. Quân Nguyên bị giết chết rất nhiều ; Thoát-Hoan dẫn bại quân chạy đến chiếm giữ núi Phả-lại và núi Chí-linh, lập trại chống nhau với quan quân.

    Thoát-Hoan hỏi Nguyễn-bá-Linh rằng :

    - Nam-quân phá mất thuật của ta, thì bây giờ làm thế nào?

    Bá-Linh thưa :

    - Thái-tử khoan tâm, quân kia phá thuật ấy, tôi còn thuật khác, xin Thái-tử truyền cho các tướng dự sẵn, đêm nay tôi dùng phép, khiến cho quân kia kinh nhộn, sẽ thừa cơ cướp lấy trại Vạn-kiếp.

    Thoát-Hoan nghe nhời, bàn định đâu đấy.

    Nói về Hưng-đạo vương thắng được trận trước, định sáng hôm sau, thì tiến quân đến phá trại Phả-lại và trại Chí-Linh. Đêm hôm ấy quân sĩ đang ở trong trại, bỗng dưng thấy có tiếng ầm ầm, lửa sáng rực cả tứ phía. Các tướng kinh hoảng, dẫn quân ra trại xem làm sao, thì thấy thấp thoáng trong bóng lửa, âm binh, thần tướng kéo ra bạc ngàn man dã, lố nhố những quân đầu trâu mõm ngựa, kẻ gươm người giáo, mặt mũi dữ tợn như hung-thần, đùng đùng kéo cả vào trại. Hưng-đạo vương sai các tướng truyền cho quân sĩ cứ việc đem cung nỏ bắn ra, tên bay ra rào rào, nhưng cũng không ngăn được âm binh, kéo thốc cả vào trong trại ; lại nghe thấy dưới núi trông đánh vang tai, quân Nguyên kéo đến. Quân ta kinh hồn bạt vía, xô nhau mà chạy, ngăn lại cũng không được. Quân Nguyên thừa thế đánh lên. Hưng-đạo vương bất đắc dĩ phải dẫn các tướng lui về mạn dưới. Thoát-Hoan cướp được trại Vạn-kiếp.

    Dân ở Bàng-hà, Ba-điểm thấy Thoát-hoan thắng trận, Hưng-đạo vương đã lui rồi, mới đem trâu, dê, gạo, rượu ra đón rước quân Nguyên. Thoát-Hoan dùng nhời phủ dụ cho về.

    Bấy giờ Ô-mã-Nhi, Phàn-Tiếp do đường hải-đạo cũng đã kéo vào đến sông Lục-đầu. Thoát-Hoan sai Trình-bằng-Phi dẫn 2 vạn quân tự Vạn-kiếp kéo đi đánh mặt bộ ; sai Ô-mã-Nhi, A-bát-Xích dẫn thủy quân tự sông Lục-đầu thuận dòng đánh xuống sông Phú-lương.

    Hưng-đạo vương rút quân về Thăng-long, ngài thấy quân Nguyên thế đang mạnh, mới sai Nguyễn-chế-Nghĩa, Phạm-ngũ-Lão rước xa giá thượng-hoàng và vua tạm lánh về Hám-nam, ngài thì đóng quân trong thành cự nhau với quân Nguyên.

    Thoát-Hoan cho quân do thám, biết tin vua chạy về Hám-nam ; sai Ô-mã-Nhi, A-bát-Xích dẫn thủy-quân đuổi theo. Còn một mặt kéo đại quân đến vây thành Thăng-long.

    Ô-mã-Nhi, A-bát-Xích giương buồm hết sức đuổi theo. Nguyễn-chế-Nghĩa trước xa-giá xuống thuyền noi đường bể vào Thanh-hóa. Ô-mã-Nhi đuổi không lập, đem quân giở về đến Long-hưng, đóng quân giữ tại nơi ấy.

    Ô-mã-Nhi sai người do thám, biết Chiêu-lăng là làng của Thái-tôn tiên-hoàng, y tức về thứ trước xuýt chết mấy phen, mới sai quân lính phát quật Chiêu-lăng để báo thù.

    Tì-tướng là Tích-Lệ, Cơ-Ngọc tuân lịnh dẫn 300 quân dàn khắp xung quanh lăng, sai quân đào mả. Quân sĩ xúm xít vào đào, ước được nửa chừng, bỗng nhiên giời nổi cơn giông, ầm ầm sấm chớp, mưa xuống như trút nước. Một tiếng sét cực dữ, đánh vào đám quân ấy, chết mất hai ba người. Quân đào lăng kinh hồn táng đảm, phải bỏ mà chạy.

    Ô-mã-Nhi lấy làm kỳ dị, định chờ tạnh mưa lại đào. Hôm ấy mưa gió suốt cả ngày đêm, đến sáng mai mới tạnh.



    [1] Phùng-Hoan làm khách nước Tể, múa gươm cầu tiến dụng.

    [2] Tổ-Địch làm tôi nhà Tấn, múa roi ra trước dẹp loạn.

    [3] Đêm mưa tuyết, Bùi-Độ lẻn vào đánh giặc Hoài-sái.

    [4] Điền-Đan ở thành Cử, dùng kế hỏa-ngưu, phá quân Kỵ-Kiếp.

    [5] Thuộc Hải-dương.

Chia sẻ trang này