0113.02-vancuong7975(xong)WIKI

23/11/15
0113.02-vancuong7975(xong)WIKI
  • PDF
    GoogleDocs
    :rose:
    Hướng dẫn nghiên cứu về An-nam và Champa) và bài "La Famille et la religion en pays Annamites" (Gia đình và tôn giáo ở các xứ An- Nam) (1930).

    II. CÁC ĐỀ TÀI LỊCH SỬ: y. Tiên sã:

    Những phát hiện tiền sử trực liếp liên quan đến Huế không nhiều, ngoại trừ các công trình của Madeleine Colani về tiền sử và sơ sử Quảng Bình và về hệ thống giếng đá cổ ở Gio Linh, Quảng Trị.

    Đề tài này được mở rộng đến địa giới của Nghệ An - Hà Tĩnh và Đông Dương.

    2. Chămpa:

    Vốn là đại thuộc vương quốc Chămpa, nên XLĨ Huế còn khá nhiều vết tích Chàm. Đề tài về Chămpa vì thế là một đề tài hấp dẫn các cộng tác viên của BAVH.

    Lịch sử vương quốc Chàm được trình hày tương đối đầỵ đủ trong các tác phẩm "ÌTAìmam""ỉỉưâng dần nghiên cứu về An-nam và Chămpa, cũng như một số đề tài chủ yếu về Chămpa, tuy nhiên mức độ đáp ứng chưa thể thỏa mãn đủ mọi giới nghiên cứu.

    Ngoài hai công trình này còn có các bài viết về tượng Chàm hay chi một mảnh tượng Chàm hoặc nói chung là các tác phẩm điêu khắc Chàm ở một sô địa điểm; Giam Biêu, Thành Trung, Xuân Hòa, Thành Lợi ở Phường Đúc cũng được đề cập.

    Địa bàn nghiên cứu Chàm vượt ra khỏi Thừa Thiên - Huế đổ đến các vùng khác: Quảng Trị, Nghệ An, Hà Tĩnh. Hội An. Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Phan Rang.

    Huế và Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn:

    Lịch sử thời tiên Nguyễn trước hết được giới thiệu qua các nhân vật trong "Phổ hệ họ Nguyễn trước Gia Long" từ thời Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng đến các chúa: Nguyễn Phúc, Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Phúc Thụ, Nguyễn Phúc Khoát và Nguyễn Phúc Thuần.

    Phổ hệ họ Nguyễn Phúc thực ra xuất phát từ thủy tổ Định Quốc công Nguyễn Bặc đời Đinh Tiên Hoàng - hậu duệ của Định Quốc Công chia làm rất nhiều chi phái tỏa ra trên khắp mọi miền đất nước, đến nay không tính xuể và sưu tầm được đầy đủ.

    Ngoài tên các chúa là tên các ông hoàng, các công chúa: Ngọc Bửu (con gái Nguyễn Kim), Ngọc Tiên, Ngọc Tú (con gái Nguyễn Hoàng); Ngọc Đính, Ngọc Khoa, Ngọc Liên, Ngọc Vạn Ngọc Duệ ...

    Và một điều lý thú Ịà công chúa Ngọc Hân, con gái vua Lê Hiển Tông, Bắc Cung Hoàng Hậu của Hoàng đế Quang Trung cũng được
    đề cập.

    Một số khuôn mặt của triều đình Võ vương trong đó có Trương Phúc Loan, Trương Phúc Thông, ông Hoàng Thể, ông Hoàng Đảng (chú của Võ Vương), ông Hoàng Kính (con trai Võ vương) hoặc bà Chiêu Nghi và một số người Âu có đi qua Huế vào giữa thế kỷ XVII như nhà bụôn Poivtre. mục sư Pavre... đã được linh mục Cadíère nói đến. Một chuyên mục rất đáng quan tâm đó Ịà chuyên mục '‘Les Europêéns qui ont vu ie rieux ỉiué” (Những người Âu dã thủy Huế cổ) đã cung cấp cho ta nhiều nhân vật người Âu, phần lớn là các tu sĩ, các vị thừa sai dòng Tên đã viếng Huế thời kỳ này (thế kỷ XVII). Với các bản tường trình, thư từ, nhật ký, họ đã cho ta những trang miêu tả tỉ mỉ khung cảnh Huế đương thời với sắc thái sinh hoạt thường nhật và nhất là kể cho ta nghe về những sự kiện lịch sử rnà
    họ nghe, thấy và biết rõ. Đấy là nguồn tư liệu quý để đối chiếu, tham khảo. Hiển nhiên chúng ta cần kiểm tra và đánh giá.

    Câu chuyện bi hài chống mê tín dị đoan của Bénigne Vaclicl trên chiếc cầu Nhật Hội An được linh mục Cadière trình bày lại rất lý thú, đồng thời cung cấp những chi tiết về lịch sử, xã hội đương thời dưới triều Hiền vương.

    Các bản tường trình của linh mục A. De Rhodes, của linh mục Crìstoíoro BorrL. cung cấp những trang tư liệu qúy về đất nước con người xứ Đàng Trong. Chính trong những trang viết của họ đã xuất hiện những phác thảo đầu tiên của chữ quốc ngữ.

    Một số địa danh như Quý Nam, Dinh Trại được bàn đến, qua đó ta thấy một số sự kiện lịch sử.

    Về thời Tây Sơn, chỉ có những bài viết ngắn, ít được chú ý (công chúa Ngọc Hân, ông Vò, ông Ghè, cái triện Tây Sơn...).

    4. Huế thời cận đại:

    Lịch sử Huế thời cận đại nằm trong khuôn khổ của lịch sử An nam nửa đầu thế kỷ XX, bao gồm các nguồn:

    - Lịch sử triều Nguyễn: từ Gia Long đến Bảo Đại

    - Cuộc xâm lược An-nam của Pháp.

    - Công cuộc bảo hộ của Pháp.

    Sự kiện lịch sử, chính trị, xã hội đan quyện vào nhau trong dòng chảy của thời gian khó hiên Hột riêng lẻ; tuy nhiên ta tạm chia như trên để tìm hiểu,

    Triều Nguyễn mở đầu với Gia Long, nhà vua saụ khi lên ngôi đã ra công xây dựng Kinh đô cho triều đại, được trình bày ở trên, trong phần tư liệu về Kinh thành Huế.

    Dưới triều Gia Long, BAVH đã cung ứng một số tư liệu trong chuyên mục: "Les Français au se nice de Gia Long" (Những người Pháp phụng sự Gia Long).

    Ta tìm thấy ở đây những nhân vật như: J.B.Chaigneaü, Vannier, De Forçant, Olivier, Manuel... Đặc biệt tư liệu về Chaigneau rất phong phú, chi tiết hữu ích cho các nhà nghiên cứu trên rất nhiều lĩnh vực khác biệt, ở đây ta cũng thấy có nhiều tư liệu về Michel Đức Chaigneau và Louis Eugène, Vannier, Chaigneau.

    Một nhân vật nữa không thể bỏ qua, đó là giám mục Pigneau de Béhainc (G.M. Bá Đa Lộc) hay G.M.Adran.

    Cuộc xâm lược An-nam của người Pháp:

    Đây là tư liệu phong phú, đóng góp cho lịch sử triều Nguyễn nói riêng. Nó đáng giá ở chỗ là tiếng nói từ phía Pháp nên bổ sung cho chính sử nước ta, nhất là những chỗ còn bỏ trống hoặc "tồn nghi”.

    Trong các tác phẩm "L’Annam" và "Hướng dẫn nghiên cứu Annum và Champa", đều có đề cập khái lược lịch sử giai đoạn sôi động đầy xáo trộn và cũng đầy đau thương của lịch sử An-nam dưới thời cận đại, Nhưng bên cạnh đó. trong BAVH còn có nhiều bài viết chi tiết, tỉ mỉ. rất đáng tham kháo. Từ cuộc chiến khởi đầu Đà Nẵng và tiếp đó bao biến cố dẫn đến hòa ước 1862 và phái bộ Phan Thanh Giản. Rồi đến các hòa ước 1872. 1874. 1883, và cuối cùng là biến cố ngày 5-7-1885.

    A. Del vaux kể cho ta nghe tường tận biến cố 1885 ở Huế. Tuy nhiên, cũng cần xem lại các con số thống kê thiệt hại của đôi bên. nhất là phía Pháp chỉ có 23 người chết, 14 bị thương nặng và 50 người bị thương nhẹ.

    Cuộc đào thoát của vua Hàm Nghi là một đề tài hấp dẫn các học giả trong BAVH. Nó hiện ra dưới mắt của B.Bourottè như một cuộc phiêu lưu đích thực với biết bao gian khổ đau thương, máu và nước mắt. Nó cũng được thiếu tá Gosselin kể lại với cương vị của một người trong cuộc, và được chủ bút BAVH đánh giá là chính xác,


    Lịch sử của giai đoạn sôi động này được kể, được tranh luận không ít và trong đó có rất nhiều vấn đề mâu thuẫn nên A.Delvaux đã có tham vọng đem lại những điều xác minh, đính chính.

    BAVH cũng cho đăng các thư từ, giấy tờ của những quân nhân, sĩ quan Pháp trực tiếp tham dự các trận chiến trong giai đoạn này.

    Hệ thông đồn bốt của Pháp đồn Quảng Bình, Quảng Trị và đời sống đầy hiểm nguy, gian khổ của người lính viễn chinh được nghiên cứu trình bày tường tận chính xác.

    Căn cứ Tân Sở ở Quảng Trị mà linh mục De Pirey gọi là: "Một Kinh thành phù du" được nghiên cứu khi chỉ còn là "Mật cánh đồng trơ trụi, với một vài ụ đất từ những đống gạch vụn " để rồi gần 30 năm sau lại có thêm một bài viết và Tân Sở chỉ còn lại trong kỹ ức với một sơ đồ.

    Sau biến cố 1885 và sau khi chiếu Cần Vương được ban bố, những cuộc tàn sát giáo dân đã diễn ra khốc liệt trên khắp nước. Quảng Trị với các giáo khu lâu đờỉ đã là một trong những điểm đẫm máu nhất. Theo Jabonille, con số nạn nhân bị giết hại ở đây lên đến trên 15.000. Sự kiện đẫm má ụ này hẳn đã được xác nhận nhưng con số thiệt hại cần được xác minh lạỉ.

    Công cuộc bảo hộ và các công trình của người Pháp:

    Các tác giả hiển nhiên không thể nằm ngoài chỉ đạo chính trị của người Pháp đương thời. Vì thế, các bài viết không tiếc lời cổ vũ ngợi
    ca công việc của họ trên đất nước An-nam. Và đương nhiên, họ không thể quên những công trình cụ thể mà họ đã ra công xây dựng.

    Trong chiều hướng đó các công trình về giao thông vận tải, cầu cống, đường sá được đề cập nhiều với vai trò của sở Công Binh Đông Dương: thành lập hệ thống công binh miền Trung và xưởng Công Binh ở Huế, việc tu sữa con đường qua đèo Hải Vân, nghiên cứu thành lập hệ thống đường sắt Đông Dương, bắc các cầu sắt hoặc dự án Debay với công cuộc nghiên cứu "con đường núi" từ Huế đến Đà Nẵng".

    Bưu điện với phương tiện mới là một sắc thái của nền văn minh Âu Tây. Và lịch sử bưu điện ở Đông Dượng mở đầu từ 1860 với đường dây từ Sài Gòn - Biên Hòa và phát triển liên tục qua nhiều- giai đoạn; đồng thời cũng có bài tìm hiểu hệ thống "trạm dịch" của An-nam thời xưa.

    III. NGHỆ THUẬT HUẾ:

    m

    Mỹ thuật:

    Các tác giả cûa BAVH rất chú trọng khía cạnh nghệ thuật nói chung và mỹ thuật nói riêng. Linh mục Cadière và các cộng tác viên của ông đã có nhiêu công trình cho mảng đề tàì này.

    Tác phẩm "L'art à Hué" (Mỹ thuật ở Huế) của L.Cadière là một công trình rất đáng chú ý. Phần giải thuyết của ông về tính chất mỹ thuật Huế được khám phá với các sắc thái: cách điệu hóa của các mô típ trong trang trí làm cho mỹ thuật Huế phong phú, đa dạng nhưng đồng thời cũng bộc lộ sự xem nhẹ mô tả hiện thực. Mỹ thuật Huế có màu sắc tôn giáo, đó cũng là một tính chất đặc thù.

    Sưu tập các mô típ trong trang trí của mỹ thuật Huế đã đem lại giá trị cho tác phẩm. Và điều nữa đáng lưu ý ở nhan đề tác phẩm

    "L'art ủ Hué", linh mục Cadière dùng giới từ 'Vi" (ở) mà không dùng "de" (của). Hiển nhiên đây là một dụng ý đáng ghi nhận.

    Trước sự thoái hóa và mai một trong nền mỹ thuật truyền thống bản địa, có người đã đồ ra những-phương pháp để chấn chỉnh, giải cứu, từ bỏ cố tật "giấu nghề""trước hết phải tái tạo tay thợ, tự nhiên nghệ sĩ sẽ đến sau", và từ mô phỏng, tự nhiên nghiên cứu các tác phẩm của quá khứ dần sẽ xuất hiện những hình thái mới thích ứng với nhu cầu của giai đoạn và phù hợp với truyền thống, vấn đề mỹ thuật bản xứ được coi trọng và từ đó nảy sinh đường lối giáo dục mỹ thuật độc lập. Để cho người địa phương tự lo lấy vốn của chính họ, khai thác nền mỹ thuật truyền thống, cần có biện pháp kinh tế và tài chính hỗ trợ cho công cuộc này.

    2. Âm nhạc:

    Đề tài này không được nghiên cứu nhiều. Khái lược về tính chất của âm nhạc Đông Phương, một số nhạc cụ như cây đàn nguyệt, cây đàn tranh, xuất hiện trong bài viết của Hoàng Yến,

    B.Le Bris nghiên cứu những điệu truyền thống của nhạc Việt và nêu rõ khía cạnh hạn chế nhưng đồng thời cũng chỉ ra những nét đáng yêu cua nó, ông cũng nói đến các nhạc công mù ở Huế và điệu Tứ Bại Canh.

    Lời than của công chúa Huyền Trân theo điệu Nam Bình qua hài ca Huế: "Nước non ngàn dặm" được tác giả Ưng An tìm hiểu và trình bày.

    IV. DÂN TỘC HỌC, NGÔN NGỮ HỌC:

    Dân tộc học: Các tộc người An-nam Indonésien, Mélanésien được khao sát và trình bày ở các tác phẩm: '7.‘An nam""Hướng dẫn nghiên cứu về An-nam IV/ Champa". Lễ hội đâm trâu của người Buna ở Kon tum được trình bày đầy sinh động với hình ảnh minh họa.

    — Một Trong những ngày cư ngụ tại Seman Vân Nam), bác sĩ Gaiđe đã thực hiện những cuộc du lãm Sipsongpanas, từ đó đưa ra nhận định các tộc người phong phú và phức tạp trong vùng đồng thời đề nghị một hướng nghiên cứu dân tộc học trên toàn cõi Đông Dương cho trường Viễn Đông Bác cổ.

    Tục nhuộm răng của người An-nam, các cách sử dụng thuốc mê, thuốc phiện được nghiên cứu. góp phần làm phong phú cho đề tài dân tộc học.

    Ngôn ngữ học: Tiếng Việt, tiếng Chàm cùng chữ viết của chúng là đối tượng nghiên cứu của hai tác phẩm mà ta đã biết: "An nam" "Hướng dẫn nghiên cứu An-nam và Chămpa".

    307 tên gọi của những địa điểm khác nhau trong Kinh thành Huế được linh mục L.Cađière sưu tầm và ghi lại. Đối tượng nghiên cứu của công trình này thuộc phạm vi của môn "Đặc hữu danh từ học" (oromastique).

    Lối đặt lên của người Việt và những tìm hiểu về tên ngựời, tên đất An-nam cũng được trình bày đầy đủ.

    V. MỘT SỐ ĐỀ TÀI KHÁC:

    Ngoài các đề tài kể trên BAVH còn có những công trình nghiên cứu về một số địa phương như: tỉnh Quảng Trị, tỉnh Quảng Ngãi, Côn Lôn. Ngũ Hành Sơn . làng Minh Hương ở Hội An, động Phong Nha tỉnh Quảng Bình với Hang Túi. hang Cự Lạc. Hoặc hệ thống guồng lấy nước ínorias ở Quảng Ngãi, trụ đồng Mã Viện của Núi Thành, thuộc bờ Bác Lam giang. Hoặc vấn đề di dân của ngươi Nhật ở Đông Dương ngày xưa và lộ trình giao thông theo đường biển giữa Nagasaki - Hội An. Nagasaki - Vinh.

    Một mảng tư liệu rất lý thú của BAVH đó là các tư liệu minh họa, tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ, chân dung,..

    Và thật là thiếu sót khi không nhắc đến một số lượng lớn trong bộ bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào BAVH dành cho các biên bản buổi họp và danh bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào hội viên của hội Những người bạn cố đô Huế. Tất cả biểu hiện toàn bộ của Hội một mảng đề tài khác không kém phần hấp dẫn.

    Trên đây chúng ta đã điểm qua mặt tích cực. những cống hiến nghiên cứu lịch sử - văn hóa Huế của BAVH; cố nhiên tạp chí cũng có những hạn chế và phần lớn những hạn chế đó trước hết bắt nguồn từ đường lối chính trị của chính phủ Pháp đương thời, thi hành các xứ thuộc địa, trong đó có An-nam, với chính bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào "bảo hộ" mang tính thực dân, bóc lột và nô dịch.

    Tạp chí BAVH và hội viên Hội BAVH, hiển nhiên nằm trong quỹ đạo chính trị đó của người Pháp và phải cổ súy chương trình ổn định và phát triển công cuộc báo hộ của Pháp với chiêu bài "Pháp - Nam đề Huế Các tác giả trong BAVH là hội viên AVH và đều là quan chức chính quyền hảo hộ, quan lại Nam Triều, thương gia giàu có Pháp - Nam đề Huế, thành phần chính trị đó đưa đến cho BAVH những hạn chế nhiều mặt, nổi bật nhất là những thiên lệch hay sai lầm khi trình bày các sự kiện lịch sử, chính trị, xã hội đương thời.

    Bên cạnh sự hạn chế đó còn có những hạn chế "phi chính trị" có lẽ đáng nói hơn. Nguồn tư liệu tham khảo được sử dụng trong BAVH là vô cùng phong phú. Chúng có thể do chính các tác giả sưu tầm, báo quản, lưu trữ ở các thư viện, các kho lưu trữ ngoại quốc như thư viện Hội truyền giáo nước ngoài Paris, kho lưu trữ phái đoàn Dòng Tên, hoặc ở Quốc Sử Quán và Nội các triều Nguyễn... ngôn ngữ tư liệu cũng vô cùng đa dạng - từ chữ Hán chữ Nôm đến các ngôn ngữ Ân, Âu: Pháp, La Tinh, Ý, Anh, Đức, Tây Ban Nha... Sự phong phú tư liệu đó của BAVH là một ưu điểm nhưng cũng có mật trái của nó.

    Với những nguồn tư liệu đó, người đọc, nhất là người đọc hiện nay, khó có điêu kiện để kiểm chứng để yên tâm sử dụng. Các trích dẫn từ những tư liệu dịch trong BAVH thường không có nguyên bản để đối chiếu, là một hạn chế đáng kể. Khi sử dụng lại, người tham khảo đành chấp nhận tin tưởng các tác giả và chấp nhận sự xuống cấp, độ tin cậy. Bản dịch thiên ký sự và cuộc phiêu lưu của vua Hàm* Nghi, bản dịch bài vè Thất thủ Kinh đô, bản dịch bản tường trình của Christoioso Borri về xứ Đàng Trong... là những thí dụ tiêu biểu. Bản dịch tiếng Pháp bài vè Thất thủ kinh đô mà không có nguyên tác Việt Ngữ đính kèm chỉ còn là một thứ sưu tập để trưng bày.

    Đối tượng nghiên cứu chủ yếu cua BAVH là Huế xưa và triều Nguyễn, nên Kinh thành Huế với sinh hoạt cung đình triều Nguyễn được chú trọng đúng mức. Tuy vậy, cũng còn có chỗ bất cập. Bếp ăn hoàng gia với các cơ sở như Thượng Thiện, Ly Thiện Tể Sanh chỉ là những tên gọi trong một đặc nghị không được nghiên cứu. Hệ thống truyền âm kỳ diệu ở đàn Nam Giao vẫn mãi là một huyền thoại bỏ ngỏ. Thời tiền sử của vùng đất Huế cũng như các dấu tích Chàm ở đây chưa được nghiên cứu đúng mức. Trong phạm vi mỹ thuật, tranh tượng dân gian chưa được khai thác, có lẽ chính vì vậy mà linh mục Cadière trong công trình sáng giá của mình chỉ đề cập một thứ "L'art à Huơ" (Mỹ thuậl ở Huế), ở lĩnh vực âm nhạc, vũ điệu, các công trình còn quá mỏng. Đồ sứ men lam mà người Pháp gọi là "Les hlcus de Hué". một loại vật dụng thân thuộc khổng thể thiếu trong phong vị của Huế xưa, cũng chỉ được xuất hiện như một tiêu đề, đồ mục trong bản dẫn, không có ngay cả một định nghĩa đơn giản.

    Trái lại, ở vài nơi trên BAVH lại có sự thái quá. Việc khai thác tỉ mỉ các tư liệu về J.B Chaigneau và gia đình trong chuyên mục: Những người Pháp phụng sự Gia Long với số trang đáng kể đã làm nặng nề, bất tương xứng và không thỏa đáng. Các công trình về Linh mục Àdran cũng có tính chất tương tự. Ngoài ra trong BAVH
    còn có nhiều bài viết ở ngoài phạm vi của Huế để đến với những địa phương khác trên khắp An-nam và Đông Dương; cũng có khi đi xa hơn đến những nơi như Hàn lâm viện Malgache sáng lập ra Tananarive (1902) không mấy liên hệ với Huế*

    Trên đây là những nội dung chính yếu bao gồm cả ưu và khuyết điểm của sưu tập BAVH và sơ lược về tổ chức, hoạt động của Hội Những người bạn cố đô Huế. Tất cả đươc trình bày giản lược chủ quan, hẳn là chưa đáp ứng trọn vẹn các yêu cầu. Tuy nhiên, từ đó cũng cung ứng một phần những hiểu biết cơ bản về Huế xưa và triều Nguyễn.

    *

    Từ sự nhìn nhận của chứng tôi như đã nói trên đối vơi BAVH. nên bộ bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào sưu tập này mới ra bắt bạn đọc. Chúng tôi đã dịch trọn bộ, gồm 31 tập, ước 15.000 trang bản thảo, từ số đầu năm 1914 đến số cuối năm 1944. về nội dung, có những điểm không tán thành với tác gíả, chúng tôi vẫn dịch nguyên văn và có chú thích rõ ý kiến của người dịch hoặc của Nhà xuất bản* Cuối mỗi năm, BAVH thường có phần ghi chép những hoạt động của Hội, nghị danh những người tử trận trong chiến tranh thế giới 1914-1918. Xét thấy những thông tin này không trực tiếp giúp ích cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về Huế xưa, chúng tôi không dịch.

    Đối với các chú thích trong nguyên bản, điểm nào xét thấy không cần thiết, chúng tôi lược bớt; một số phụ bản cũng làm như vậy. Ngoài ra, kinh qua thời gian lưu trữ quá lâu, tập gần nhất cũng hơn nửa thế kỷ, nên một số phụ bản không thể sử dụng lại được, chúng tôi mạn phép tác giả không in lại (như những ảnh mầu về cảnh quan di tích lịch sử...)

    Bộ bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào sưu tập này khá quy mô, nội đung đề cập chủ yếu toàn diện về Huế cổ, nhưng trình độ dịch thuật và am hiểu vấn đề, nghiệp vụ biên tập, xuất bản của chúng tôi còn nhiều hạn chế, Do đó bộ bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào được xuất bản không sao tránh khỏi những thiếu sót,

    Nhân dịp bộ bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào ra mắt bạn đọc, chúng tôi trân trọng bày tỏ lòng biết ơn về sự quan tâm và giúp đỡ của Bộ Văn hóa - Thông tin, Cục xuất bản và Ban tôn giáo chính quyền tỉnh Thừa Thiên-Huế. Đối với những tổ chức và cá nhân có sự ủng hộ thiết thực, tạo điều kiên thuận lợi cho, việc dịch thuật, in ấn, sẽ có bản ghi danh vào tập 31, tập cuối của bộ bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào. Chúng tôi cũng xin ghi nhận ở đây sự đóng góp tích cực của đồng chí Vương Hồng, nguyên Giám đốc - Tổng biên tập Nhà xuất bản Thuận Hóa - người đã đề xướng, tổ chức làm bộ bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, tuy đã nghỉ hưu vẫn tiếp tục cùng chúng tôi hoàn thành công trình dịch thuật và xuất bản,

    Chúng tôi hy vọng bộ bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào sưu tập BAVH sẽ gợi mở những nhu cầu tham khảo để rồi hình thành các công trình, nghiên cứu xứng đáng của những ai thiết tha cùng Huế, mong Huế đích thực là Di sản văn hóa nhân loại ”

    NHÀ XUẤT BẢN THUẬN HÓA



    DÀN BÀI SƯU TẦM DÀNH CHO

    "NHỮNG NGƯỜI BẠN CỐ ĐÔ HưẾ"

    L.CADIÈRE

    Tuyên giáo nước ngoài Paris

    Tôi thiết nghĩ không phải là không có ích nếu ta đưa ra bắt đầu các cuộc họp thường kỳ hàng tháng không phải là kế hoạch nghiên cứu. cái từ ấy có vẻ hơi tự cao tự đại và khiến cho người ta e sợ phần nào vì cho rằng công việc chúng ta làm xem ra ghê gớm, mà chỉ đưa ra một dàn hài với tính chất tâm thường của công trình sưu tầm, vì chứng ta là không sưu tầm, với sự mong ước tìm tòi và ham thích đào xới sâu rộng.

    Tổng hợp những sự kiện gộp lại trong những điều mà ta gọi là Huế cổ, có thể phân chia về mặt thời gian thành bốn thời kỳ: Huế tiền sử, Huế Chàm, Huế An-nam. Huế Âu. .

    Chí vì để cho lương tâm yên ổn mà tôi có đưa Huế tiền sử. Chắc chắn trước người An-nam, trước chúng ta, trước người Chàm, ngay à chỗ hiện tại đây của Huế cũng đã có người ở. Những người nào? Chúng ta gần như mù tịt. Nhưng cũng có một số người ở thời kỳ xa xôi ấy còn để lại những dấu vết đi qua của họ: đó là những chiếc rìu tiền sử. Ai là người trong chúng ta có cái vinh dự tìm được các vùng đồi hữu ngạn sông Hương, nơi cư trú tiền sử nào đó như đã tìm ra d Cao Miên và Bắc kỳ? Tôi mong điều đó lắm! Những cái mà chúng
    ta có thể tậu được là những mẫu đá chai mài bóng mà những người An-nam từng nhặt được khi họ cày ruộng, cất giấu xem như lá bùa hộ mệnh quý báu.

    Thời Huế Chàm có thể cung cấp cho chúng ta rộng rãi hơn về tài liệu. Mấy năm gần đây, các nhà sưu tầm đã tìm được những thứ rất bổ ích. Các công trình còn nguyên vẹn rất hiếm hay nói cho đúng ra là không có ITALIC1ỒITALIC2 vùng lân cận Huế. Những thứ mà người ta thấy được về số nhiều là những lũy đất bồi đắp do những người trước người An-nam hay các đống gạch là thứ di tích của các tháp cổ Chàm đã bị đổ. Nhiều khi các mảnh vụn của gạch cũng mất tích hay bị vùi trong đất. Những cũng còn có một cái tiểu đạc điền, chứng tích của cổ huyệt hay các tảng đá chống đỡ hoặc trang trí tòa nhà, các tượng thờ cúng rải rác trong các chùa hay trên các đường xung quanh vùng ấy. Thứ thì họ để thờ, thứ thì dùng như đá tảng để làm móng cầu hoặc bia thờ. Cứ một nét ghi khắc đáng chú ý là ở khu vực Gia Hội, có một tảng đá lấy một bia để làm đế cột và cuối cùng lại đem lát tầng cấp của một ngôi chùa. Biết bao nhiêu di sản quỹ báu cần phải nêu lên nữa ! Biết bao nhiêu kho tàng đang bị vùi lấp dưới đống gạch đổ nát của Tháp Chàm !

    'Các đống đổ nát ấy phải được chúng ta quan tâm. Một vị đặc nhiệm dù có hăm hở đến mấy đi nữa cũng không thể làm trong một vài ngày, liệt kê hết đầy đủ các di tích Chàm đang còn tồn tại. Biết bao nhiêu trở ngại cho dự án ấy. Dù chn người ở đáy nhiều năm và chú ý đến khía cạnh ấy có thể sát sườn với một tư liệu quý mà không biết. Tôi có tìm được cách đây vài năm ở Quảng Trị một dương vật tượng trưng của thần Silva đáng chú ý, bên cạnh có một bia đã bị chôn vùi hoàn toàn mà tôi không biết được và may mắn cho một người sưu tầm khác đã bắt gặp. Trong cuộc dạo chơi, ta nên giương mắt ra và nhìn xem nếu một hòn đá làm cho chúng ta chú ý thì hãy hỏi xem nguồn gốc của nó và thông báo ngay, biết đâu nó có thể mở ra cho chúng ta lối tìm được một tháp cổ, một tượng đá hay là một tấm bia chưa hề nghe biết,

    Nếu chúng ta chăm lo đến di tích Chàm, chúng ta sẽ dẫm chân lên lĩnh vực của trường Viễn Đông Bác cổ, nhưng chúng ta luôn luôn dành quyền cho họ. Như vậy là chúng ta không phải xâm phạm biên giới mà là một sự hợp tác mà tôi hy vọng sẽ có kết quả tốt.

    Cứ một khía cạnh cần nối thêm. Với đống gạch, vết tích của một dân lộc đã diệt vong, người An-nam thường hay kèm theo một truyền thuyết như một chòm dương xỉ thân nhỏ có thể đâm rễ vào khe của một bức tường cũ. Câu chuyện dân gian là rất hay, không những về khía cạnh dân gian mà về phương diện lịch sử. Lý giải khôn khéo những truyền thuyết nay là có thể phanh phui tìm hiểu về cách người An-nam chiến đấu ra sao, nhiều khi một trận huyết chiến, một sự hủy diệt cả một dân tộc được diễn dịch thành một truyền thuyết ngắn gọn trong tâm thức người dân. Các truyền thuyết là lối kể dân gian, chúng ta cũng nên trân trọng nhặt nhạnh khi gặp ở đâu đó.

    Các vị công nhận thấy là khi kể đến thời kỳ thứ tư của Huế cổ, tôi không nói là Huế Pháp mà lại là Huế Âu. Vì nếu hoạt động của chúng ta lại nơi đây quan trọng và kết qủa nhất đi nữa thì chúng ta cũng không phải là ngươi duy nhất đến với Huế cổ....

    Những người Âu đầu tiên, theo tôi biết, đã đến đất nước này là người Tây Ban Nha: đó là những thương gia và trong đó cũng có một người cố đạo. Vài năm sau các hạm đội Bồ Đào Nha đến cảng Hội An. Những cố đạo lên bờ và đã đi khắp đất nước: Đó là những người Dòng Tên, người Bồ, người Ý, người Pháp. Cha Bác Lộ là ngươi danh liếng nhất, các tác phẩm của ông để lại giúp cho chúng ta cơ hội để trao đổi bổ ích. Và còn có những người Đức trong đỏ có một người là nhà thiên văn, toán học, ngự y để lại cho chúng ta một bài
    miêu tả đặc sắc Huế về thời kỳ giữa thế kỷ XVII Hội Truyền giáo nước ngoài của Paris đến sau người Dòng Tên nửa thế kỷ. Mới đây, người ta đã xuất bản hồi ký của Bénigne Vachet miêu tả về Nam kỳ cuối thế kỷ XVII.

    Thời ấy, sự cạnh tranh giữa các thương gia gay gắt như ngày nay. Công ty Ấn thuộc Hòa Lan đưa các tàu thuyền đến Nam kỳ để cố gắng trục xuất các thương gia Bồ. Tôi để ý hiện nay ở làng Phú Cam cỏ bia mộ của một thuyền trưởng của Công ty đã chết tại Huế. Trong sổ bộ (hay nhật ký của công ty) được ấn hành người ta nhặt ra những điều hữu ích Huế vào thế kỷ XVII và the kỷ XVIII.

    Một vài nhà buôn Pháp cũng còn dè dặt và chậm trễ theo bước đi trước của Bồ Đào Nha và Hoà Lan, Công việc, hành động của họ ít đưực ai biết đến.

    Các ngài chắc đều biết sự nghiệp của Khâm mạng Bá Đa Lộc và sự hỗ trợ đắc lực của các sĩ quan Pháp đến để giúp đỡ cho vua Gia Long. Có một vài sĩ quan lưu lại Huế nhiều năm, một trong số họ đã chết và còn mộ tại đây; một người khác thì có người vợ An-nam và một vài con họ. Ở Pháp cũng như từ Đông Dương người lạ làm tích cực và có kết quả. Ngày nay để tìm lại và xác định chính xác các kỷ niệm về thiên hùng ca của những vị Pigneau de Bohaine. gia đình Chaigneau, Olivier. Chúng ta phải luôn luôn theo dõi các công trình ấy và góp thêm cái phần khiêm tốn như một tảng đá vào công trình trước kia của các vị tiền bối.

    Các cố đạo, giáo sĩ mà tôi nhắc đến ở phần trên đã đóng góp nhiều cho văn minh và nước Pháp. Nhưng mục đích chính trị của họ là truyền đạo Thiên chúa. Họ đã đổ trọn đời cho công cuộc ấy; họ dựng các xứ đạo, nhà thờ, có nhiều người đã đổ máu để chứng minh lòng tín ngưỡng của họ tất ca bao nhiêu kỷ niệm đã gắn liên với Huế
    Cổ và những kỷ niệm ấy làm cho Kinh đô của An-nam trở thành thân thuộc đối với nhiều người Pháp chúng ta.

    Chúng ta chỉ trở lại thời gian gần đây với chúng ta. Nước Pháp nhận
    thấy cần chiếm đất nước này. Các đại diện của Pháp đóng tại Huế. Các
    binh lính Pháp chiếm Kinh thành. Biết bao nhiêu thương lượng tinh vi,
    bao nhiêu hy sinh cho cái thời kỳ loạn lạc ấy về phía chúng ta cũng như
    về phía người An-nam! Những sự kiện ấy gần đây thôi. Nhưng chúng
    cũng đã xưa đối với một số người của chúng ta rồi! Có cần gợi lại cái kỷ
    niệm ấy không ? Có bao nhiêu chi tiết chưa biết đều rất hay trong cái

    hồ sơ lưu trữ của Tòa Khâm sứ trong các Tàng thư địa phương hoặc của
    các Bộ. Phải chăng thời điểm này nên đào lên và đăng lên với một sự
    thận trọng mà yêu cầu chính trị đòi hỏi ? Một số nhân chứng thời đại ấy
    nay đang còn sống và đang vơi dần. Có nên thu nhặt lại một cách dè dặt
    y kiến của họ mặc dầu ít ỏi đi chăng nữa ? Đây là xem như những sợi
    len nhỏ trên một tấm chăn cũng như những miếng nhỏ VC thồ na tin mà
    hình thành lịch sử.

    Dù thời kỳHuế Âu rất cần thiết đối với chúng ta nhưng Huế An nam sẽ giúp cho chúng ta nhiều nghiên cứu rộng hơn vì Huế đúng ra là công trình của người An-nam đã đem hết công sức sáng tạo ra và chính ở đây người ta khắc lại một cách sâu sắc hơn nơi nào hết trong thời gian này về cái dấu ấn quốc gia của họ. Chúng ta cần chăm lo đến các địa điểm lịch sử. Một địa điểm lịch sử là một nơi đã xảy ra không, phải là một cái gì đó như thế hóa ra nơi này cũng có thể là lịch sử cả, mà phải xảy ra biến cố quan trọng hoặc là tự nó quan trọng, hoặc do nhiều sự kiện gộp lại. Chính như một bãi cát thì chẳng gì đáng lưu ý đối với một người du lịch nhưng nếu nơi đó đã xảy ra một trận chiến quyết định thì bãi cát ấy sẽ rất có ý nghĩa đối vơi chúng ta, Một gò đất, một đám bụi rậm chẳng có gì khác hơn cục đất đặt xung quanh, nhưng nếu nơi đó là nơi đóng dô các chúa Nguyễn: Một vuông đất không trồng trọt giữa đám ruộng nơi trước đây là khu lương thực của vua, nhiều khi, tren đó chẳng còn dấu vết gì của qúa khứ nữa, không còn một tảng đá, một mảnh gạch vỡ, chỉ là đất không ở đó nhưng vẫn có giá trị lịch sử, Chúng ta cần thông báo lại và đánh dấu trên bản đồ một cách chính xác, chúng ta ghi lại lịch sử của những nơi này, chúng ta phải trân trọng thăm viếng và từ đó chúng ta mới truyền lại cho đời sau các lưu niệm của nơi đó.

    Chúng ta có thể lần theo các dấu vết ấy bằng cách xem các tài liệu chép, các quốc sử về vương quốc hoặc do môt cách dễ dàng hơn và lại chính xác hơn là do dân chúng đặt ra tên. Tôi thấv ở Quảng Bình có nhiều thửa ruộng trồng sắn và khoai lang mà địa danh trên bản ghi đó là các trại lính của một trung đoàn xưa, có một doanh trại, Tôi đã lập lại được một bộ phận, hiện nay ở Quảng Trị và Thừa Thiên vị trí các dinh thự của các chúa Nguyễn đầu tiên trước khi vào đóng đô tại Phú Xuân. Chúng ta tìm kỹ lưỡng tên của các nơi ấy mà dân chúng đã quên ý nghĩa chính xác mà chúng ta phải cố gắng giải thích và nhập vào lịch sử chung của đất nước.

    Các công trình kiến trúc lại gây chú ý hơn, rất nhiều ở Huế và vùng lân cận. Chúng ta có Hà Nội và Kinh thành bao quanh. Chúng ta có các dinh thự các ông hoàng của Hoàng gia, các lăng tẩm, điện, bia.

    Trước hết phải ghi lại đầy đủ vị trí các lăng tẩm và đền đài. Ai cũng biết các lăng tẩm lớn của các vua Gia Long. Hãy là một mục đích du ngoạn bắt buộc đối vơi du khách đến Huế, Nhưng trong cùng một thung lũng đẹp đẽ được vua Minh Mạng. Thiệu Trị, Tự Đức xây cất nơi an nghỉ cuối cùng, đa số các phi tần của đức Gia Long cũng chôn cất tại đây. Các lăng tẩm của các tiên đế khỏng có gì đặc sắc lắm về mặt kiến trúc và nghệ thuật nhưng vẫn cần được các nhà viết sử quan tâm đến. Các hoàng hậu và hoàng tử đều có lăng lẩm rái rác trong vùng lân cận Huế, Chúng ta cũng còn tìm thấy ở các nơi ấy lăng của các quan đại thần hoặc tháp cha sứ. Cần
    phải có một bản đồ nơi chôn cất mồ mả vùng lân cận Huế bởi nó sẽ có giá trị về lịch sử.

    Trên một bản đồ khác ghi lại các chùa đền và nơi cúng tế đó là bản đồ tôn giáo của Huế, Ớ đó sẽ chỉ vị trí của các các đền, chùa là dấu ấn lịch sử. Các chùa đạo Lão và các nơi cúng tế, ít nhất là những nơi chính thức do nhà nước đài thọ.

    Và sau cùng là một bản đồ nữa hay trên bản trước ghi lại các bia đã có ghi thiết yếu về lịch sử.

    Trong những bia ấy, có cái thì gắn liền với một đền đài để ghi ngày thành lập. Có cái khác lại chỉ ghi một sự kiện lịch sử. nêu lên kỷ niệm về sau. ngày đào một con kênh, hoặc ca ngợi công lao của một vị đại thần, Còn có cái thì hoàn toàn vì mục đích thi họa, ghi chú cái đẹp của một thắng dinh, một hòn núi, một con sông mà Thiệu Trị và Tự Đức đặt bia trên đường quan khi các ngài tiến ra Bắc. Và còn lại một số bia chỉ ghi một địa danh. Tất cả đều phai ghi lại. Các vị cũng thấy người ta chăm chút sưu tầm những dương nci nhỏ nhặt nhất do người Chàm đồ lại làm thành bản đồ. Chúng ta phải ghi lại những tấm bia An-nam trước khi các bia ấy chịu số phận như bia Chàm , cũng có nhiều ngôi trong vùng lân cận Huế, chữ lại viết trên vôi và nay đã bị xoá sạch không đọc được nữa.

    Như vậy, cần phải ghi địa điểm các bia cẩn thận chính xác và theo các điều kiện cần thiết tuyệt đối: như ghi chính xác lên của đền đài hoặc là Lên thương tên bằng Hán-Việt với dûV diì các chLÌ và điền vào làng nào, xóm nào, khu vực nào để dễ tìm kiếm

    Tất cả là công việc ban đầu Sau khi đã định vị và ghi tên phải cần miêu tả , một vài du khách có thể người sành diệu miêu tả các lăng tẩm, cung điện Hoàng gia nhưng theo tôi đó chỉ là hình thức văn học được làm cho đại chúng. un Hói của chúng ta, mục diện đề ra không được thỏa mãn với mức độ do yêu cầu đối với chúng ta
  • Chia sẻ trang này