1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0113.04 - Derby (soát xong GD)

Feb 29, 2016
0113.04 - Derby (soát xong GD)
  • :rose:
    Đĩnh thứ tám DỮ ĐỈNH

    1. Lôi (sấm).

    2. Đà Nẩng Hải Khẩu (cửa Ị Um) - ‘‘Cửa biển Vĩnh Điện phía tây nôi Trà Sơn, núi Trà Sơn là bấn đảo Tiên Sa, phía đông bãi biển Đà Nang1'.

    3. Hăi Vần Quan ịẩềo Hãi Vân) -"Ranh giới giữa ThCía Thicn và Quảng Nam.

    4. Vệ Giáng (sống Vệ) - "phía tây Mộ Đức (Qụăiíg Ngãi), nguồn ở núi Tồ Sơn đổ ra cửa Đại cổ lũy",

    5. Vĩnh Điện Hà (sông Vĩnh Điện) - "d Quảng Nam, ngùôn töfscmg Ô Gia và sông cẫm Lệ nhập lại".

    6. Ành vố (chìm anh võ) - “giống keo nhọ. bộ lông 5 màu, mỏ đỏ, nổ Ị được tiếng người". Loại ác mà ngươi ta thương gọi là "bất ly".

    7. Dương (con dê) - "động vật mà mắt không có con ngươi".

    8. Cãp (con nghêu) - "giống sò",

    y. Thạch thứ ngư (cả úc) - "cá không có máu, (iau cứng như đá" cho nèn gọi thạch thủ (đâu đá)",

    lO, Thuấn hoa (hồng bụt) - “'Prong Kinh thi có câu thơ: Nhan như thuấn hoa - mặt đẹp như bông bụt (ví người phụ nữ}".

    I i. Lê (cây lê) - “cây cao 2 hpặc 3 trượng, tháng 2 nơ hoa. Hoa trắng như tuyết, qua lẽ nào nơ đúng ngày thương tị thì rät ngon neu hôm ấy không có giô. Ngày thượng li nhằm vào ngày 3 âm lieh".

    •I2. Í3ạch đậu (dậu trắng), "cố thổ ăn ça vỏ lúc non, hạt dùng làm tương”.

    13. Phù lưu (cây trâu) - "ăn lá trau với cau chống được sốt và lạm tàng hơì thơ, dùng trậu ít bị sâu răng, có câu tục ngữ nói: Tân lang phù iưưkhả dĩ vong Ưu: trầu cạu làm quẹn ưư phiên".

    Í4, Tông mộc (cây thòng) - "Cạy häng đâu. Khì trơ thành cổ thụ rỗ xoắn lại và dùng làm vị thuốc, Nếu đến nghìn năm thì trơ thành ho

    phách. Vua Minh Mạng quan tâm nhiều đến loại cây này vì vai trò cua nó rất quan trọng trong đèn Nam Giao (Huế)".

    15. Tử lô (cây từ tô) - "Dùng làm thức ăn và loại chống độc trong thức ãn như cá hoặc trạch, rĩia biển".



    16. Ô Thuyên (thuyên) - “tàu chế tạo thời đại này. Ngây xưa â thuỳên là cùa bọn cướp biển (giặc tàu ô)”.

    17. Phát đao (con siên đao).

    Đĩnh thứ chín HƯYEN ĐỈNH

    1. VG (mưa),

    2. Hồng (mong).

    3. Hoành Sơn (núi Hoành Sơn) - “Dẫy núi giữa Quảng Bình và Hà linh và ở đấy có Đèo Ngang".

    4. Hậu Giang, Tiồn Giang (sông) - “hai cửa sông của Nam Kỳ“.

    5. Thao Giang (sâng Thao) - “Con sổng qua tĩnh Hưng Hóa) (ì Bắc kỳ. Nguồn từ Vân Nam’4.

    6. Thóc thu (chim ông iâo) - '"Chim cao cẳng iơn nhât trong sô" chim <3 nưđc, Bộ lông màu xám xanh, cổ dài mắt đỏ, đầu trọc. Mỏ thẳng và dài đốn một trượng. Thịt dùng để trừ giun sán’’.

    7. Sơn mã (ngựa nái) - “giống chạy nhanh”.

    X. Que đô' (con cà cuông) - "loại dán nước, nố cứ 6 chân như con ve. thịt râ't ngon".

    0. Mãng xà (mãng xà) - “Rẩn lo, mắt tròn, ngủ đỏng về tháng Chạp và Giêng và ơ nước vào hạ và thu“.

    10. Ngũ di ộp lan (rây tigọr lan) - "cây cao, hoa chiía nơ cỏ hình tháp bill. Khi nổ cổ y cánh tràng rất thơm, khi luộc lên dán vùi) ụng nhụt”.

    11. Lệ chi (trại vãi) - "thịt màu trắng, trong và rất ngọt - bổ máu".

    12. Miên mộc fríÍY hông) - "nơ hoa vào tháng 2, 3, rẽ sao vàng han dem hạ thổ phơi khô, làm thuốc hổ".

    15. Tít mộc (cây sơn) - “ơ huyện Minh Lính (Quảng Trị), trồng riêng trong các gỉạ đinh”.

    15. Chì (ru toi) - "án được và vị thơm".

    16. Ttf mã xa; (xa 4 ngựa) - "chế tạo trong tribu đại này".

    17. Hốa phún dong (rái ọng dût dạn) - vũ khí "chiến tranh".


    ĐẠI NỘI HUỀ Cửu Đỉnh















    NHỮNG ĐỈNH TRIỀU ĐẠI ở BẠI NỘI HUẾ

    KỸ THUẬT ĐÚC

    P.CHOVET

    Hiệu trưởng trường Bách Cồng Huế

    Các đĩnh cớ 9 cái, bằng đồng, hình giống như cá í lư dừng trong càc lỗ hội, Các dạng ấy là một thể cong đặt trên ba chân, miệng rong, ỡ trên các đỉnh có một vòng trang trí hối với cổ với' vài hình TO đơn giản, có hai quai cầm trên vòng ấy.

    Các chân đều làm theo mẫu Louis XV chi trừ có một cái tận là iuyên dính thì có chân thẳng và duỗi ra.

    Mỗ ỉ đĩnh đát trên một bệ xây ngang mặt đất có lát tảng đa vôi rất sát.

    Vi trí ciía các đỉnh chiếm phần phía nam của sân Thế Mỉếu trong khuôn viên ở góc nam của Thanh Nội.

    Băng tóm tắt các đãc điếm của các đĩnh:

    Tên các đỉnh Tên các vua Chĩêucao Dường kính

    Cao đỉnh Gia Long 7‘\p

    r%ỉ~

    í

    Nhơn đỉnh Minh Mạng 1 “90 1“62

    Chương đỉnh Thiêu Tri ■

    I * I m88 lm60

    í\nh đỉnh Tự Đức 00 1“61



    Nghi đỉnh

    + Kiến Phưđc 2R108 1 m63

    Thuần đỉnh Đồng Khánh 1 m88 P60

    Tuyên đinh Ịm89 10l63

    Dũ đỉnh lm88 lm6l

    Huyền đĩnh lm88 P61



    Đây là những đỉnh có kích thước khá lớn trọng lượng tổng thể đến 22.473 kg và người ta có quyền kinh ngạc vê việc có thể đúc chúng bằng những lò đúc mà người An-nam không có những dụng cụ ngang tầm cỡ của công, nghiệp chúng ta. Tôi sẽ nói đến là họ đã khéo léo tài tình bù t đắp vào tình hình thiếu thốn dụng cụ băng cách đúc kim loại theo phương pháp từng mảng nhỏ.

    Người An-nam, theo như người ta biết muốn làm chảy .đồng hoặc gang thì chỉ dùng lồ nho, Caỉbasse mà chiều cao không quá lm. Theo bảng sơ đồ cắt ngang dứới đây (hình I và hình 2).

    Dụng cụ gặm có rrtột lõ nồi bằng đất sét đặt trên hai thanh gỗ để kê và cho mè đúc chảy qua. Phía trong là một hỗn hợp đất và than củi nghiền với nhau. Đề nấu thì lò nồi ây có một ống tròn bằng đất đặt lên trên trong đó có một ống vòng sắp xếp cho gió có thể qua từ lò bệ thối trực tiếp đến đáy của lò vôi.

    I

    Các dụng cụ này đều nung đỏ bằng.cách chất than cui lên và cho đến khi đỏ đều thì người ta rải lên những mảnh đtông đã cắt nhổ.

    Lò bệ rất đơn giản gồm có hai ống bệ gắn với nhau bằng hai thân trụ gỗ trong đố cớ hai pittộng cổ hộc nén khí. Hai ống bằng tre nối lò bệ với ỉò nồi.


    Flip. t. — Frmroeftu annnttme : l'oilpe.



    Fỉg- *p ~ Fourneau nmuiroite: croiprỉtp






    ■Nhìn chung toàn bộ giống hệt như là hình thu gọn. hệ thống hiện đại tủa lò đúc sắt hiện nay. Nhưng nếu:áp dụng vàOi nấu đồng và đồng quặng thì có những thứ ứ đọng rất nhiều vì kim loại , dưới tác động của gió làm oxy hóa và sự đọng lại gây tác hại chọ bề thành củạ lò đúc và làm cho chúng hư hỏng.

    Sự thất thoát kim loại đến tỷ lệ 20% như thế thì quá đáng đối với kim loại đắt giá như đồng, hơn nữa sắt và kẽm trong hçfp kim sẽ bị thất thoát lừ đau và như vậy là ngươi ta lại phải bừ các kim loại mất đi trong đợt

    nấu lại.

    *

    1

    Một trong các ỉò ấy chỉ nấu được 30 đến 40 kg đbng (độ 4 lít) và để nấu cho đủ' một chậu từ 2 đến 3.000 kg người ta sẽ đặt một số nhiều lò nấu đến 60 hoăc hơn nữa và phải hoạt động cùng một iân.

    li) đúc nếu đặt cao trên mặt đất thì người ta phải cố các giàn giáo hay măl phẳng nghiêng.

    Lò noi chứa kim loại chảy phải sạch bẹt các loại than cháy đỏ hay bụi sắt khi đem đến gần nôi đúc và đổK vào khuôn phải có sự .chi dẫn của các quan lại phụ trách đúc để khỏi bị chẹn đựng lâu dài sẽ tác hại đến mẻ không ăn khớp giữa các lớp đồng đổ nhiều lần.

    1 " , «I

    Trong khi đúc các khuôn đúc phải lật ngược, nghĩa là chổng châh lên trơi và cũng lừ một trong các chân ấy người ta chọc thủng để đổ mẻ vào còn các chân khác dùng làm chỗ thoát không khí trong lò đúc.

    Các mẻ đúc làm 0 trong một xưởng, ngày nay à vùng Canh Nông, có những dãy nhà giống như trương Bâch Cồng. Cáchxây cấc khuôn đúc là rất hay và chứng tỏ trong ĩĩnh vực này những người thự đúc An-nam đã đạt trình độ điêu luyện ngang vơi những thợ đuc của châu Ấu.

    Như vậy các bộ phận tròn đều đức bằng đủ các cơ đã đúc sẩn trên gỗ đúng cỡ của tranh vẽ và chạy tròn theo trục dứng, b)ất nhồi vào trong nén sát dáng tròn và đứng như hình đúc và mụổn làm dễ dàng hđn người ta ghép khuôn bằng từng đoạn tròn.

    Các đoạn tròn được nung trước, đặt chồng lên rihau và điều chỉnh chó thật khớp hếu cần.

    Cúc chân và các qụạỉ thì đúc riêng và nốị khớp vđi nhau khuôn chung.

    Người tá cọn làm các tạm häng nhọ hình nổi để chạm vào các mẫu trang trí và chữ.

    Làm khuôn phải thời gian 3 tháng rồi để đdc trong vài giờ (khoảng nửa ngày).

    Hai công việc làm khuôn và đức không phải liẻn tiếp do việc khắc chữ trong cổ mà đúc, các đỉnh ấy làm năm thứ 16 hiệu Mình Mạng.

    Việc chạm trổ và đánh bứng kéo dài rất Ịâu do khối lượng Iđn cua các đỉnh ấy và số hình vẽ trén các thành đỉnh.

    Các cách làm của các thợ chạm An-narrt không khẩc hiệt các phương pháp áp dụng của thợ chạm châu Ảu. Cổ một chi tiết khá bay: là các dũa và đaó chạm đều thợ tự làm taý một cách tho sơ bằng cách dùng búa tán được tạò gần ỉihưthể: là tình cữ.

    Các hình chạm, chữ đề trang trí các đỉnh ấy đều nổi và lâm Iren các bàng đã đức trong cúc khuôn như tôi đã nói d trên và chiếm phần đắp <3 ngoài.

    Các mo líp đẹu lấy lừ các yếu tô'thiên nhiên: nưđc, mưa, sấm, cây, cá, động vật, trăng, trời, sao, ngân hà“.v.v,.

    Trên dây là những tài liệu mà lôi cố vê cách đúc các đỉnh triều đai mà tổi được ông Nguyễn Xuân Thiêu, Thị Lang cổng trình công cộng, hiệu phứ trường Bách Công ơ Huế, ngàv trưđe phụ trách đdc tiền cung cấp. 7

    Tôi cũng ghi đây cả ồng Tỏ ri Thất Sa, giáo viên họa cưa trương'Bách Cưng -đã hổ cứng giü p chl> tôi, rất đáng quý.

    NHỮNG ĐỈNH TRIỀU ĐẠI ở ĐẠI NỘI HUẾ

    GHI CHÚ LICH ằử

    L. CAD 1ÈRE

    Truý&n đạo nước ngoài Paris

    Người chép biên niên1 sử cua Mĩrih Mạng khi viết về việc dựng 9 đỉnh đồng trước Thế Miếu, chỉ nêu dăn các tư liệu viết của nhà vua trong dịp đó và các lời nớỉ của ngài.

    Vua Minh Mạng, lữ thiếu thời đã học văn học cổ điển và say mê truyền thống, thấy được tầm vóc lổn và quan trọng việc làm của ngài là đúc cho được và đặt trước Thế Miếu thờ các tiên đế Nguyễn những đỉnh thiêng mà quan hệ lịch sử Trung Hoa gắn liền với số phân của các Lriều đại nên đã dùng lời văn và ý nghĩ đề nêu lên vấn đề ấy.

    Ngài trình bày hằng ngụ ý, những lý do vẹ mục đích nêu lên và chì đưa ra những nét tổng quát cùrig những chì dẫn cần thiết, Nhưng chúng tối lại muốn có những chi tiết cụ thể hơn: Nếu như chứng ta đã rõ nhừng ỹ nghĩa tượng trưng vua Minh Mạng đã quantâ ITT nhiều đến các đĩnh Lhi chúng ta lại chẳng biết gì về vị trí đặt đúc, các phương pháp đúc tôn tuổi và các tổ chức cua công nhân đã hoàn thành các tác phẩm ấy.

    "Cuốn Dại Nam thực Ị ục chính biên đệ nhị kỷ cìia Minh Mạng chỉ nêu trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào sử về nhiều chi tiết và về các sự kiện xạỵ ra trong

    niên đại ngài mà không dề cập đến việc đúc các đỉnh. Như vậy chứng ta phảỉ chấp nhận những gi tập biện niên sử thuật lại”.

    "Nâm Ẩt V., nám thứ 16 hiệu Minh Mạng, về mùa đổng, tháng 10 (20 tháng 11-19 tháng Chạp năm 1855).

    "Lần đần tiên đậ đtic cửu đinh

    Vua truyền lệnh cho Ngự tiền văn phòng:

    "Các đình đã đề ra là ngôi bẩu đổ là ý trời nên là những thứ quan trọng trong XhếMiêu cùa tiên đế.

    Để nhớ ỉạỉ các vị hoàng đếỉẽi ìạc cứa ba triền đại lổn {* J, chức vị quan f ) có hiến các kim hại đề đức chín đình để truyền ngôi vầ bẩo đầm sự kể vị hợp phầp và đổ cũng là để một ọẩch trường tồn và vững chắc.

    Toàn dãn đã thẹo đuổi mục đích của các vị tíên đê'vồ luôn luôn nghĩ đến phong tực tệp quán về ữỳ quyền được truyền ỉạì, nay, ta qUỵết đỉnh bắt chước người xưa và đúc 9 đlhh để đặt ThếMiếu.

    Ở giữa là Qm đĩnh ttíựng trứng cho sự vĩ đại.

    Hàng đằtì bên trãi là Nhân đình tượng trưng cho đức.

    Hàng đầu bên phầi ỈÀ Chương đinh tượng trưng chứ ánh sấng.

    Hầnệ thư hai bên trái Anh đình tượng trưng chù hiển đạt

    Hảng thứ hai bên phải Nghị đĩnh tương trưng chở cương nghị.

    Hằng thử ba bền trái Thùần đĩnh tượng trưng cho tinh khjết.

    Hăng thứ ba bên phầì Tuyên đĩnh tượng trưng cho tinh thông.

    ( 1 ) rức là Hạ (2250 - 1766 trước CN), Thương (1783 - 1122 irưđc CN) và Chần (1122-247 TGN).

    (2) Trung Quốc xưa.

    Hàng thứ tư bên trái Dữ đĩnh tượng trưng cho phong phú.

    'Hàng thứ tư bên phải Huyen đĩnh tượng trưng cho huyền kỳ.

    Như vậy ìằ sự truyền ngôi sẽ vĩnh cửu đến vạn năm vững bầnI

    Các cơ quan chức năng đều phải Ịảm theo kiểu đã đặt ra và đức các đĩnh này. Sẽ gửi cẩc thanh tra cai chì huy trung đoàn hai vị ừong một cấp để kiềm tra công trình. Các quan cửa Bộ Cồng quan tâm đến công, trình và giiíp đỡ".

    Và vua còn lệnh cho Bộ Công như sau:

    "Trên các đình để đúc phải khắc các hình núi, sông, người vằ động vật Không chì phái khấc cho đủ mà cỏn phải chạm rõ ràng đứng vị trí để ghi nhớ tài ĩiệu và cho rõ lấ cửa ai. Đồ íà ý kiến cúa người xưa đã tượng trưng cho cẩc sinh vệt

    Như vậy là đến khoảng tháng 12-1835 khởi công đúc đĩnh và đến năm sau mới hoàn thành năm 1836 vào tháng 6. Vì vậy mặc đầu trên hòng các đỉnh ghi năm thử. 16 Minh Mạng nhưng địa chí của vương triều năm thứ 3 Duy Tân (1909) lại cho là việc đúc đĩnh tiến hành vào năm thứ 17 Minh Mạng* Đại Netm thực ìục chính biên cũa Minh Mạng vùó niên lịch ấy chò biết là đã làm xorig đúc cọn khắc chạm và hình ảnh sẽ làm liếp sau. Vua rất thán phục cồng trình ấy. Vua tin tưởng có sự hỗ trợ cùa thánh thần, sự nỗ lực của công nhân và vua cũng có thưởng, nhưng còn ít ỏi với những người đã đóng góp sức vào đó để đúc các đỉnh. Và những đấng thiêng liêng đã giúp cho sự thành .công cũng được dâng lễ vật cúng.

    Năm.Bính Thân, niên hiệu 17 Minh Mạng, vào Hạ tháng năm ( 14 tháng 6-13 tháng 7, 1836).

    Người ta đã đdc xong cửu đỉnh, và bắt đ'âu chọn tuyển những thợ tài ba để chạm khắc các hình vào đỉnh.

    "Ngươi ta thưởng đầu tiến cho những người dã theo dõi kiểm tra công trình, sĩ quan lẫn binh lính cho tiền một tháng lương, các thợ và phụ thợ, phát cho mỗi người trăm lạng”.

    Vua bảo cho Đổng lý văn phòng Đại Nội:

    ’'Việc đúc kim loại là nỗ lực của con người là chính nhưng hoàn thành được tốt các vật quý báu và quan trọng như vậy là nhờ sự phù hộ cứa các đấhg thiêng liêng.

    Lệnh truyền xuôhg cho Bộ Lê phải sửa soạn những thứ cần thiết để làm lẽ tạ

    Chúng ta cần nhđ là công việc về kỹ thuật đã được đúc cả hai phía thợ thuyền chuyên môn và quân đội và được theo dõĩ đôn đốc cua các quan võ và quan văn cùng các thanh tra và các quan chức cua Bộ công, Phần hình của đĩnh thì đúc đầu tiên và sau trang trí bằng khắc chạm. Và họ tiến hành như thế nào ? Trong bài này có đề cập đến chạm và trổ và về sau này sẽ thây họ đức khuôn. Tôi, chưa cổ ý kiến gì vì tôi không biết chuyên môn. Như vậy việc đdc thơi gian khoảng sáu tháng từ tháng Chạp Ị835 đến tháng 6 năm 1836 và thêm một ít thời gian nữa đến tháng 3 năm 1837 để trang trí các đinh. Đó là theo các ghi chổp cùa Đại Nam thực lục chính bién cua Minh Mạng cứ kể lại đật các đỉnh.

    Năm Đình Dậu niên hiệu 18 Minh Mạng vào mùa xuân, tháng giêng, ngày Quý Mão í 1-3-1837) người ta dặt theo hàng lối cửu đỉnh vào Thế Miếu.

    "Trước kia ngươi ta cỏ đúc các đĩnh lớn, 9 cái (cao từ 5 đến 6 trượng, chu vj từ 1 I trượng 6 tâc đổn 1 ỉ trượng 8 tấc và nặng đến 4. loo hay 200 cản tùy theo loại".

    "Những thứ người ta thấy trong nước, các sinh vật bay trên không hay lặn dướỉ nước và các thứ di chuyển trên đất, các loại có rễ, thứ về trang bị quân đội, thuýền, cài xa, các vì sao trên trời cho đến các chi tiết cớ trên đất, tất cả đều đầy đủ, thứ vĩ đại cPng như thứ bé tỷ đều có hình vẽ chạm trên đỉnh.,."

    "Trong một năm thì làm xong. Lệnh truyền ra cho các cơ quan thẩm quyền chọn ngày lầnh để đặt đĩnh sau khi đã tắm gội sạch SC (còn nền thì dùng đá tảng)".

    Ngày ấy, vua ngự đến miếu và lễ tế để báo cho các vị tiên đế sự việc vá lễ xong đọc một chiếu chì sau đây: "Trẫm đã nghiên eiíu, tìm hiểu cách đác các đình và cách đặt các sình vật cùa thời cổ nhưng các vật cổ hiện nay rứt hiếm và các nguyên tắc truyền thống đã mất nghĩa thực. Người ta đă biết rổ về các đỉnh dùng vào việc nấu ăn, nhưng còn những đình làm nên các vật hạng đồ sộ, cao quý và quan trọng không những trong;các triều đại gần đây Không-hề các đĩnh ấy mà ngay cẫ thơi Tam đại người ta cũng ít biên chếp về cấc đĩnh.

    Giờ đây, để bắt chưđc người xưa và dể tiếp nối ỷ nguyện có thêm hoặc hổt người ta đã đdc được cửu đinh vừa cao vừa Ịđn không có một khuyết tật, không một sai sót, xứng đáng là vật của các .nién hiệu không những truyền đến con, đến cháu, đến chat đều được giữ nguyên vẹn.

    Chiếu chĩ này phải đƯỢc cổng bố’ ơ các tỉnh lỵ của ba mươi mốt tỉnh và tại Tây Đô để mọi nơi biết đến".

    Hành vãn cửa M:nh Mạng là hành văn của một nhã Nho, có phần thi vị và cũng co ki.o khăn, lôi nói luổn cá nhữrtg nhược điểm. Các tử liệu về các đỉnh triều đại cố nhicu từ, ý, diễn giải-vớĩ định nghĩa nhiều nến chụm lại, chồng chất, lẫn lọn chon vào nhau làm chó bài nhiêu ỷ nghĩa và một tư duy phức hợp. Nhiều câũ có độ chính xác

    cao làm cho chúng ta nghĩ đến cấc cảnh xa xưa mằ những bóng tối để lọt những khoảng mênh mông hoặc những bức tranh có nhiều chân trời ẩn hiện kéo đài đến vô tận. Nếu dịch thuật đang còn xạ vời vớỉ bán gốc thì phái cần đỉễn đạt câu dài.

    Vào đầu bài chiếu chỉ Minh Mạng truyền lệnh đúc các đĩnh như. sau: "Các đỉnh là một vị trí tập trung lệnh cua Trời, trở thành những vật quan trọng của Thế Miếu". Tất cả cấc từ trong câu trên đều phải được giải thích nếu người ta muốn hịểu hết ý tượng trưng về các đỉnh của Đại Nội.

    Ưy quyền vua là do sự ùy thác Trời đã giao quyền cho một người để tri vì đồng loậi, Sự, uy thác này từ trên trời xuống như ơn mưa móc. Các đỉnh hướng lên trời "đổn nhận" sự tìy thác ấy "tập hợp" "cỡ đọng" "tập trung" "định vị" sự uy thác ấy dưới hình thức các thân đỉnh to rộng và bề thế. Các đỉnh được đặt íấ nơi "xiTng đáng" để nhận sự uỷ thác ctìa trơi. Và VỊ chúa trị vì cạnh các đỉnh ấy cũng là ngưỡi trời đă chọn và cũng là người "xứng đáng", ”vị trí đích thực" được trời ấn định, nơi^n vị là "ngôi cao" vã vua nhận lãnh chính thức "uy quyền tối thượng". Như vậy cái đỉnh đối vđi nhà vua là tượng trưng của quyền hợp pháp.

    Các đỉnh ây cho cả dòng vua một sự bảo đảm cha truyền con nôi. Sự ủy thác.,cửa trời như cô đọng lạỉ, tập trung ơ các đỉnh đó và cung cố’ quyên hành của hoàng gia, bảo đàm bất di hất dịch Sự truyền ngôi hợp pháp cho hậu duệ trong vạn nãm sau".

    Vì vậy các đỉnh đều là những vật rất' quan trọng cửa Thế Miếu, Và cái từ có ỷ nghĩa gốc là "ý nghĩa nặng, trọng lượng lổn, hai ý bổ sung cho nhau: trọng lượng của đỉnh tựợng trưng cho tầm quan trong, và mặt khấc, nếu quả là quan trọng do những ý tưđng gán ghép vào đứ, do những tín ngưỡng được biểu thi, thì người la cần phải đdc đỉnh có sức nặng và cố khối lưựng.

    Như vậy là chúng ta đã có định nghĩa về các chi tiết mà ta không đe ý đến hoặc là lúc ban dầu chưa hiểu. Khối lượng lđn của đỉnh được giải thích ỷ nghĩa mà các đỉnh tượng trưng, vị trí giữa trời là vai trò tiếp nhận ánh hưổng của Trời và chỗ đặt trong Thế Miếu là để bảo đàm và tượng trưng cho sự vĩnh cửu. của tribu đại. Vì vậy mà chúng la khỡng thấy đỉnh có công dụng^ thực tế. Các đỉnh ấy đúc ra chì để làrri việc thiêng liêng, cho phdp tôi được diỗn tá như thế. Đĩnh, ch ĩ dùng để thu hút ănh hưdng cùa trời lập trung xuống ngổi vua, vương triều và để chứng lổ lệnh trời xuốhg trên (fâu vua, đình là tượng trưng và biểu hiện ý chí của trơi.

    Các vị trí của các đỉnh như chúng tôi đã nêu, gier một vai trò quan trọng, tượng trưng chỗ trị vì thật sự cua vua hợp pháp về ngôi và uy quyen, hai nội dung này bổ sung chp nhau. Muốn cho đức vua d vị trí thực sự nghĩa lă hợp pháp trên ngai thì phải đặt các đinh cũng đúng vào vị trí thật sự của nứ hay nối một cách quen thuộc là đặt đúng chỗ. Như vậy người la phải lo đảm bảo thế nào đặt một nơi mà nó khỏng bị lung laý và 'ha châu đỉnh là tương trưng chò sự vững vàng của ngôi vua.

    Một cách diễn đạt đặc sắc nhất là của người soạn thao hộ sử iưu trơ nổi về vị trí đặt của đỉnh, đã dùng một lơ mà vb ý nghĩa vật chất là "để cân hằng" dùng cách đặt nào đề cho các đình không bị va chạm và không bị xáo động trong tư thê' tĩnh lăng và từ đó chúng ta mơi hiểu dần được nghĩa bóng và nghĩa tượng trưng. Tơ dùng cua nhà hiên soạn còn gợi ý "tĩnh” "bình". Khi vua Minh Mậng cho đặt các đĩnh, ngài cố ÿ định lầ các đỉnh ấy có đế vững chắc không bị rung động một tý nào. Sự im lặng và cân bằng eủa các đỉnh phai đứỢc siữ kỹ nhẩl vì nó tượng trưng cho sự ben vững và yên ổn cua ngổi vua. Nếu như các đỉnh không vững trên nbn tảng như vậy uy quybn của vua sẽ bị lung

    lay, chao đáo; sự chắc chắn của các đỉnh gắn liên vđi sự yên ổn và thanh hình của triều đại nhà Nguyễn.

    Vì vậy mà người ta đã phái cấn trọng biết hao để hảo dam sự hên vững cua các đỉnh.

    Không những người ta chĩ thổ hiộn hằng vật chất như đắp một nền hằng đá mà người ta còn tấm gội sạch sẽ và chọn ngày lành. Sự thành công việc đúc đỉnh, theo vua Minh Mạng, như ta đã thấy là nhờ thần linh giúp dỡ. Và sau đợi đúc là cúng tạ ơn, Lễ đăl cấc đỉnh là rất long trọng: Minh Mạng trực tiếp đến le hái ứ Thế Miêu và háo lén các vị liên đế việc quan trọng đã hoàn thành. Vua dã truyén cho loàn dân biết, cổ chiốii chĩ vào dịp ây nhắc nhơ con chấu sẽ nối tiếp để chuyền íại và giữ gìn cho các the hộ mai sau nghĩa là vĩnh viễn giữ được ngôi báu.

    Như vậy, chdng ta dã rõ ý nghĩa quan trọng của các đình trong Hại Nội: cấc lỗ' trước lúc đúc, lúc đặt đỉnh và những tín ngương dã đưa các đỉnh ấy lên hậc cao nhất.

    Vài giai thích lịch sứ cũng cần thiết như Vũ Hcí cua triồu đại Hạ, dã trị vì 2205 đến 2198 năm trước cổng nguyên, là người đầu tiên dúc 9 chiếc đĩnh khống lồ.

    Người ta dã khắc Iren thành dỉnh địa đô cua 9 địa phận đâu tiên ciía vương quốc kèm theo mục dâng nộp đặc biệt mà mỗi địa phận phai đổng góp hằng hiện vật trong thiên nhiên. Như vậy còn giái thích rò ù sao vua Minh Mạng "đã quyết noi gương ciia ngươi xưa" vù cũng cho khắc vìio các đinh của Hại Nội hình ảnh của tinh tú, cây cối, sinh vật và các cánh đẹp ciía đất nưđc; nổi chung các đĩnh nhân cách hóa vương quốc hay toàn vũ trụ.

    Suốt cấc triều dại xưa ơ Trung Hoa, có đưực cdc dỉnh là xem như dạt dược uy quyên. Nhưng hoàng đế Châu Hiền vương(368 - 320 trươc CN) chán nán phải đổi phó vđi sự tranh giành cua các hoàng tử, cho ném các đinh xuống Động Bình Hồ suổt đời không với lên được. Dưới thời Đường, người cướp ngôi Võ Hậu (649 - 705), dự định lập triêu đại đã bắt chước vua Vũ xây cửu đỉnh. Có một truyên thuyết cho là việc đúc đỉnh đã cố xa xưa

    rầm quan trọng của các đỉnh đã sản sinh ra nhieu từ có ghi trong tự dien Dịnh dính (đặt vị trí đỉnh) và để chỉ lập ngôi vua. Cách đính (đổi đỉnh) để chỉ thay ngôi vua. Là một tội lớn neu như phá hoại các đỉnh hoặc di chuyển hay đổi đỉnh, trựớc mắt ngươi An-nam, đỉnh là vua, là hoàng tộc, íà triêu đại, là vương quốc sẽ bị lung lay trong khi đang phát trien thanh bình.[/MEDIA][/TH][/TR][/TABLE]

Share This Page