0113.05 - Derby (soát xong GD)

29/2/16
0113.05 - Derby (soát xong GD)
  • PDF
    GoogleDocs
    :rose:




    ĐẠI NỘI HUỂ - CỬU ĐỈNH

    FAL AI3 RŨYAL. DÍ. liu;: -I,CÍĨ DlĩUi uKNU ¿nrNAÍiiọu£

    II. — Lvv tlrutiỉ Uy]tiẵiiii|»iGí IỈÍI 1‘iilitỉ* ruyiil iliỉ tlui; y P HưtỊtttt

    Bảng vẽ II - Cửu đỉnh của Đại Nội Huế: Nhìn ngang do ông V. F Ducro



    ĐẠI NỘI HUẾ

    ?àL(úí TtorsL ar rĩuẼ'

    * . • i

    "- Lv5r6*' /% r ■ Ị --

    :£áF7P*

    ^*&5Ó^ĩda?, ;

    ì* ’•'lâr



    ■ :ị

    jiìf8ỉr '■ - ^■■ỈTĨ.a Ị T,r7T JU

    £:* ítcủcr

    ^£;r vcvr V^NC >^NAjpJyW

    Hình vẽ nổi ạỉạ cửu đỉnh

    ?U^'ÍC«Í ííl* — 1>*1 Crnas ĩjỵmi#u*tu4f lia^ỉiùi rovâl 4* Hu« : Ltaiũu d* La [»TiQiiri

    LYnù, p«r V. F. 1ỈCCUỮ

    nq vẽ II!: Cửu đỉnh ở Đại nội Huể: Hình vẽ của đình thứ nhẩt do ông V. F.




    CÁC LOẠI SÀNH SỨ CHÂU Âu

    TRANG TRÍ DƯỚI TRIỀU MINH MẠNG

    L. DƯMOUTĨER

    Chù sự khơ hạc

    Đã cớ khá nhiều người từ lâu oay chăm lo đì sưu tầm và tập trung sưu tập các loại sành sứ cổ mà nhiều gia đình An-nạm còn tích lay nhưng từ đó đến nay chưa ai lưu ý đến một loại cố một đặc điểm riêng là được sử dụng trước rồi sau đem ra trang trí.

    Các hiện vật đó nay mới nhận ra và được trình bày trong bài nó í chuyện này gồm có 4 món: Mật cái đỉa, 2 dĩa lót rờ một hình.

    ỉ-Dĩa (sưu tập rùa cha cổ dời Pireỵ):

    Dĩa hình vuông có cạnh 0,211TL Cạc góc rất tròn bày hai đường cong thẳng gốc vđi các cạnh vă lại cắt đường chéo tạo căm giác là hình bát giác.

    Sản xual cf Chau Au. Nhãn hiệu: "3466 Spode". Theo tập sầciì "Manual of make" (Hàng thù c5ngj của W.HHooper và W.C, Phillips đây là hàng của Anh "Stoke upon Treul1’ và sàn xuất tờ nãm 1770.

    Trang trí có sẩn: vòng bọc vàng và chạm nổi không màu sắc thành 2 đường viền rộng độ 1 mm chạy quanh 4 cạnh, chẽo vào giữa các cạnh và có 2 chuỗi hoa đ? trang trí mỗi gốc.

    NI U ÍNG NGƯỜI BẠN cổ ĐỎ HUẺ

    nến niên hiệu 6 Minh Mạng cố ghi chữ ở đáy của đĩa. Trang trí lung một mô líp chính ở đáy và một vòng quanh bao quanh đáy.

    I )ư('fng vfên thì làm tinh xảo gồm 4 màu: xanh, lục, đổ và tím hoa cà. M ô típ hết sức tùy ý'lặp lại đều đều 8 íần.

    Còn mô líp chính trình bày hơi thiếu cân bằng, ở mặt tiền là một cái giỏ đầy hoa quả, ổ mặt sau là một bình cớ đế thấp chạm nhánh 1 san hô hình một cái quạt có hai lông trĩ và một cuộn giấy cớ một cái thanh treo chiếc kim khánh, ở mặt cuối là một bàn cờ tửổng đặt ngay mặt đất trên đó cớ giỏ bỏ con cờ.

    2. Cái tách ị Sưu lập cita R.P. Chinh ồ Hội Yến Qùảng Trị):

    Cái lách này có nhàn híộu Âu 3460 nhưng chắc chắn là cùng bộ với dĩa à trên. Trang tricó ve thêm vào niên hiệu thứ 5 tri cu Minh Mang. Nghệ sĩ không những viền khá tì mi màu trang trí có sẩn vẽ nổi len ơ phan tren chiếc tách mà còn thồm ờ phần giữa một hoa hồng cỡ hđi quá lớn và đáy cỏn nâng cao lên bằng mội vòng màu thép vàng có những đường viền nhỏ có nhiều hoa, chỗ nối bằng màu men lục nhạt.

    *

    3. Dĩa Ịốt ị sưa lập cua tác giã):

    Chiếc dĩa lót này là món ít được quan tâm hơn cả trong toàn bộ; đương kính 0,16m nhân hiệu Âu ghì trúng dưới đáy dĩa: 10; dấu hiệu trang trí được ghi thêm vào: Niên hiệu 15 Mình Mạng. Trang trí có sẩn viôn vàng trình bày nổi ba cành lá và hoa không mùu. Người nghệ sĩ bản địa ch ĩ vẽ men màu thêm trôn các hình nổi.

    4. Độc hình (sưu tập cua tác giã):

    Niêu hiệu trang trí bẵn địa: nỉcn hiệu 14 Minh Mạng) 1833). Đây là loại đáng chú ý hơn cà do tính cách hoàn chình của công trình,

    Chiếc độc bình này gốc không rố hình thể cua độc hình khiến la tiên tưởng phần nào đến mỹ nghệ Nhật Băn, nhưng, những đường viền ở đế vàng còn rò nét, có lẽ là của Pháp vào thế kỷ XVlll hay đâu thê kỷ XIX. Chiều cao: 0,25m. Đường kính lớn; 0,l1m. Đường kính đáy; 0,06m, Phương pháp trang trí khác hẳn ba chiếc trôn, lúc đầu người ta vẽ trang trí và sẽ bóc dần những chỗ cần trang trí thêm một lối khắc bằng mũi nhọn kim loại vì khi nhìn vào bằng kính hiển vi thì các móc í rên mặt men được tạo bằng cách gỡ tróc đi. sờ dĩ nhận ra được rõ ràng là nhờ ngoài cái phâĩì. vỏ đã chiếm gân nửa diện tích của bình còn nửa kia thì còn nguyên vẹn và các phần bóc đi đã viết lên bốn câu thơ ngụ ngôn bằng chữ triộn ca ngợi cảnh đẹp chiều hè dưđi cành liễu và hoa thơm (phan dịch cita óng Aurơusseỉiu).

    Trang trí của bình này lạ khóm trúc có cây ỉeo trên một lảng đá trong một khu vườn có tường bao quanh của giá đình An-nam. Cách tráng men đc trang trí này rất kỳ công và cố sự hài hòa nhuần nhuyễn tuyệt đích. Màu sắc dịu dàng và nhìn chung rấl duyên dáng trừ cái gốc cơ hơi thô và đóng cục.

    ITALIC1NHẬN XÉT CHUNG

    ITALIC2Phương pháp trang Ịrí chung la lối đắp men ngoài cái hình, dó ỉà trực tiếp nhúng men. ờ đây không phân hiột được sự chắp vá vì cách tráng men này làm dươi nhiét độ nóng quy định cho sành sứ. Sự chắp vá men này có chỗ rat tài tinh nhưng cũ na còn cỏ chỗ co thổ b(&: đi bằng mũi nhọn sắt.

    Sổ" lượng các loại này râl ít vì cò the chu rằng đây chỉ là lói chơi lài tử cũ a nghệ sĩ nhưng vì (ì trén các đv. vật ây có ghì nhicu ngày thùng sản xuất khác nhau nên cố thề nvhĩ rằng dưới thời Minh Mạnũ thật sự đã có một xương trang trí.

    Cũng không hắt buộc phái nghĩ rằng các loại trang trí này ỉà của châu Ấu sản xuất tại Quảng Động dù như vậy cớ thổ là chí lý. Nhưng nhìn các bức vẽ trôn chiếc thứ ba và thứ tư lặi là của nghệ sĩ An-nam chứ không phải của Trung Hoa cho nôn tốt nhất là khoan vội kết luận mà phai lìm hiểu lại ngày thành lập xưởng men ổ Đồng Hđi. nơi mà người ta đã băo rằng có thép vàng trên men loại gìổnv nhu'ở Quáng Đông.













    CÁC NHÀ LAO ở HUẾ

    KHÁM ĐƯỜNG

    J.B. ROUX

    Truỳền ỊỊÌCÍO nưâr ngocìi Paris

    mút Kinh thành Huế, phía Tây Bắc trong doi đất hẹp giữa cửa Chánh Tây ( vọng gác iỉỉ) và cứa Tây Bắc hay là cửa An Hòa (vọng gác ít) có một khung đất tường cao ở giữa vùng dâm fây. Đó là di tích cua một khám đường cua kẻ bị lử hình, chỗ tù lội này có tên là Khám đưtmg, Chỗ này chúng tồi quan tâm vê dì tích và cũng rất cần thiết cho chúng tối. những người Pháp - vl cố nhiều dông bào tôi trong nhiêu thời kỳ đã phải chịu đọa đày, gian khổ vì đạo Thiên Chứa,

    Nghĩa từ nguyên cùa Khám đứừng là gì 7 Chúng tôi chỉ tìm thây chữ ấy trong hai cuốn lừ điển của ống Gỏnibrel vù Paulus của. cả hai óng deu gỉải nghĩa nhà lao mà không dùng tờ nào đổ giải nghía chữ khám.

    Bối vđi từ dường thì dc hiểu, nghĩa là chỗ ỏ và viết.

    Bôi với chữ khám thì ông Génibre! dinh nghĩa lao viôt, chữ này nghía là: lây, dựng. Paulus của cũng định nghĩa là lao nhưng lại viết nghĩa thường ỉà: thăm, thanh tra, xem xét. Một nhà Nho mà chúng tôi hỏi chữ khám viết như của. Plaulus của giải thích như sau: Nhà lao CÜU tù nhân thường phải thanh tra. kiểm tra và việc này trong thư của M.Michc có nhẩc đến: "Chỉ mộl người vào dây (Khám dường) đại diện cho vua và khi ông này đến là chỉ để kiểm Ira còng sắt của chúng tôi có chắc không. Và đó là mục đích của chuyến công tác "Sử truỳên dạo

    Như vậy là ông Ocnibreỉ và ông Paulas của đêu định nghĩa khám dườngnhà ỉao và tù'khám cũng là lao nhiữĩg lại viết khác nhaụ thôi.

    Ai có lý? Chúng ta cũng không có căn cứ nào để xét đoán cả. Quả thật, 'labert và 3 cuốn từ điển lớn cher Hán (Couvreur, Giles, Eitel) mà chúng lỗi tra cứu đêu không có nghĩa là nhà tù đối vổi chữ khám,

    Chúng ta cũng khổng hy vọng giâi quyết khúc mắc này bằng một văn kiện. Trong văn kiện không hồ cớ chữ khám đường, Đó ĩà một chữ thông lục. Trong những vân tự, tiếng dùng để chỉ chỗ tù tội là ngục thất.

    Khám đường là nhà ỉao của kẻ bị tử hình cũng giống như nhà lao ciia tòa án mà quart tòa là viỗn Thừa phủ.

    Người ta giam ở Khám đường sau khi đã thành ủn và chờ ngày xử tram sau khi đã y nghị do vua quyết định. Và "ai đã qua một lan vừa (ĩỉ dó thì khỏng hỷ vọng bước qua ngưỡng cửa lần thứ hai hòng tránh chiếc áo quan hoặc sự dẫn dắt cua kễ đao phu tiến vê giá treo co", ịSử truỳên dạo XV 527).

    Dó !à những lời của M.Miche, linh mục của Hội Truy'ên đạo nước ngoài (sau là giám mục Sài Oòn, là người đa bị giam 4 tháng tron? nhà lao này 12-1842 — 3-1843) mà chúng tôi mượn những chị tiết đé’ miêu úi Khám đường. Ông kể lại câu chuyện bị bắt giam trong một bức thư cảm động gửi cho người anh vào tháng 12 - 1842 có ghi lại trong sử trugen dạo tập XV trang 525 - 533.

    Khám dường xây cẩt cùng một lần với Kinh thành vào thời Gia Kong ỈK04. l)ù chưa cổ hằng chứng xác thực ve việc này. giá [ hũ yết

    vừa nêu ra cũng có thể tin được khám này Sũ dụng đến ngày thất thủ Huế mớỉ chấm dứt vào nãm 1885 do quân đội Pháp chiếm.

    Khám đườnị c<5 hình chữ nhật và có chieu dài ỈOOm, chiêu rộng 60m'và có tường ngoài cao 4m. Các hướng đều theo hướng của Kinh thành: chiều dài là hưđng Tây Bấc - Đông Nam và chiều rộng hướng Đông Bắc - Tây Nam và xung quanh có hào sâu ngập nưde và hàng rào tre không vào được. Muốn đi vào trong thành chi có một con đường có một câu tré vắt sang hào. Cửa làm vào thành Đông Bắc. Bây giờ còn lại những gì ?

    Hàng rào tre đã hiến đi mất. Các hào thì còn nhưng đã cạn dần và dây hoa sen. Chiếc cầu bắc qua hào nay đã thay bằng con đường và cũng nhờ vậy mà đi vào trong thành dễ dàng hơn. Tường tuy còn day đủ nhưng đã để nát nhiều. Tôi nghĩ khổ mà tìm ra một đoạn còn nguyên vẹn. Cổng ra vào thì cũng như ngày xưa nhưng tường đã đổ và phía trên có chòi gác đã sụp xuống.

    Chỉ cồn chỗ phía đưổi ở phần hẩt đầu của chòi gác. Nhìn^ua đó có thể biết được chiều cao của cửa độ l,75m và chì đủ cho một người lọt qua.

    Muốn đi vào chỗ đổ nát của Khám đường, phăi đi qua cửa Chánh Tây (vọng gác III), đi thẳng trước mặt độ 3(X)m thì bên phải cố con dường mòn đi hăng qua ruộng, nay chỉ còn duy nhất con đường đó. Ngày trước cố còn con đường nào nữa không, chúng tôi không rỗ.

    Chông ta hãy vào bên trong. Ngày trước khi qua khỏi cửa vào thì thấy một ngôi nhà Iđn, dùng làm chỗ ở cho những người cai ngục. Hụ là những quân lính dưới quyền chỉ huy của một vị quan đề ỉao.

    Phía sau, cách xa một khoảng có ba ngôi nhà xếp theo chiều dàí của tường và khoảng cách, nhau độ 3m đó là lao xá. Nhà đâu ỉa để giam các quan đại thần, nhặ thứ hai ỉ à quan chức hàng thứ và những người dân "tạm đưực" như ông Miche đa nổỉ. Còn nhà thứ ba là để

    cno loại bần cùng xã hội. Chính trong nhà thứ hai là nơi giam giữ các linh mục bị nhối .ở Khám đường, . ,

    Chũng tôi tfì đẹp chơ ngục thất ấy bằng cái tôn nhà hay cơ să chứ thật ra là những cáỉ lán thì đúng hơn. Không có vách tường gì cả m| ch ĩ có vộ số CỘI kèo chống đỡ máỉ ngổì, thế thôi. Mỗi cái lán ấy chia làm hai gian: trên và dưới. Phần trôn cao hơn mặt đất độ lf3m là một phòng rộng có hít ván và chỉ cố một cửa chính. Không bao giờ có ánh sáng lọt vào vì cửa thông độc nhất này luôn luồn đóng kín khi lù nhân bị nhốt vào, Ban ngày, những người bị giam gian dưứi, trên đất, mỗi ngườỉ chì có một mẫnh chiếu và chẳng có gì để chống chọi với thời tiết khắc nghỉệt cẩ trong bốn mùa. ồng M. Jaccard linh mục của Hội Truyền đạo nưỡc ngoài Paris đã bị giam với cha cố Drico dòng tu Khổ hạnh đã miêu lả chỗ ờ họ trong bức thư ngày 14-11“ 1833: "Khoảng đất hình chữ nhật độ 7 trượng chiêu dài và 6 trượng chiều rộng, cố 7 cột và che bằng mánh chiếu làm tường ngăn, độ cao khoảng 4 trương ("Dời cüa Jaccard" do Crochet, Paris, Le'Coffre 1879 trang 188).

    Tối đến, sau hiệu lệnh, các tù nhân phải leo lẽn ồ gian trên. Vài người lĩnh lên theo, còng lại, đóng cữa ĩồi xuống và cất thang. Cùng nhờ 'in huệ đặc biỘL của vị võ quan caỉ ngục mà các tù nhân loại I vù loại íỉ không phải thay chỗ ở và không bị còng. Mặc dâu sống dưới mặt đất,

    V biêu caó không đứng thẳng được nhưng cũng YÔ vàn sưng sướng hơn lit bỉ nhốt vào cái thĩlng gỗ thiếu ánh sáng và không khí ẩm thấp vì quá ;.:fm ao hồ dâm fây. Đất bị người tìí dẫm len rỉ hước luôn luôn. Mùa imfa ỉ lù nước tràn vào lán vu mùa nóng thì giống như trong hầm than, cộng ihèm vào dó là lù nhân chông chất lên nhau vì quá đông và khói các !»T các nhân của tù luôn ỉuôn trần ngập các lán.

    Bốn chiếc nhầ mà chúng toi vừa kế chiếm một nửa diện tích cua I lui ây còn nửa ki il !à ruộng trồng iúa cho quan dồ lao thu hoạch.

    Nay thì chẳng còn nhà nào nữa và Khám đường không sử dụng nữa nên các lán ấy mục nát dần dần cho đến một ngày chính phủ cho dơ để chuyển đi nơi khác, chỉ còn trơ lại mây cái cột và vài bộ phận chính.

    Khu vực rộng lơn ấy nay cỏ tranh đã phií kín và chỉ còn một vài đầm đất cao, dấu vết ủa nền nhà còn lại. Cũng còn lại một giêng nước khấ tôt.

    Ớ giữa đám cỏ hoang ấy còn lại một cái nần cao độ 80cm. Người ta nói đó là bàn thờ trong thời kỳ Khám đường còn sử dụng. Đây cố phải là nơi mà tù nhân cầu nguyện các đãng lình thiêng phù hộ cho hụ lúc lâm nguy... nhưng chắc là của quân lính dựng nên để cầu mòng thân thánh giúp cho họ giữ tù.

    Trách nhiệm của cai ngục rất nặng nồ; nếu đe một tù nhân trốn thoát, thì đê lao và lính đều bị xử án như kẻ đã đào thoát.

    Phải hết sức thận trọng mới giữ cho tù khỏi trốn thoát. Mồi ngày kiểm tra 3 lân; các tíỉ nhân sắp hàng năm và bị điểm cẩn thân.

    Khỉ phải ra ngoai để đí vệ sinh, nhà nước không có xậy hô' xí trong vòng thành nên cứ mỗi ngày hai lần hễ cổ hiệu lệnh là quân lính lại dẫn lù nhân ra ngoài bãi dầm lầy và mỗi tù nhân phai xách nươc dùng khi trơ vê. Ban đêm thì còn cẩn mật tỉ mĩ hơn nữa. Như chúng la đã thấy, họ nhốt tù nhân phía trôn của lán. Và canh phòng ^nghiêm ngặt hơn. Ban ngày thì số lính còn ít chứ đêm có khi len đến tám mươi hoặc một trăm người. Họ chia làm hai nhóm. Người thì cùng đi song đôi trong thành, cầm đuốc, vừa đi vữa gõ mõ chứng tỏ đang di canh gác. Phía ngoài đông hơn, họ hô lơn từng đợt gọi nhau đc biết đang còn ihiĩc đế canh gác.

    Xin nối thêm vồ tinh thần và thổ xác cua các tù nhân bị giam giữ trong những nơi gian khổ ấy.

    Về mặt tinh thần, theo ông Miche thì Khám đường "là nơi mà người ta thấy diễn ra mọi thái hư rà tội ác", ịsừ truỳèn đạo XV .526). Khổng cớ gì là lạ cả: Vì nhà lao cũng chứa những loại người ấy. ■’Nối Iđi bọn người bao bọc chung quanh chúng tôi như thế này là không nên, không phải, lời cua ông Jaccard, toàn một lũ trộm cắp và đồng loại. Nhưng nghe lời họ nói thà cứ như là những con người lương thiện".

    Tuy nhiên lắm khi sự vô tội và đạo hạnh cũng lọl vào Khám đường và chịu xích sắt cùng một trật vđi tội ác và tệ nạn.

    Đó là diệt dạo dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Một vị giám mục, hảy linh mục mà chúng tôi sẽ kể sau đây và nhiồu cha cố bản xứ cùng một sô' con chiên phẩi chịu những cực hình của nhà lao kinh khung này và đã cổ vài người phải bổ đời vì không chịu bỏ đạo.

    Vồ mặt thổ xác. "ỉà mọi thứ khổ hạnh, nghèo, dái, khát và sự tiêu tuy dền phải thương hại " (Sửtruỳên đạo XV 527). Đây là các miôu tâ của ông Miche. Người tù nhân.eh ỉ nhận đưực lương thực, nhưng lưđng thực khốn khổ! Mỗi tháng được hai mươi đấu gạo hạng kém phẩm chất đã loại ra khỏi cưa hùng. Còn nồi nấu cơm, manh chiôu. .in quần tù nhân mua lấy. Kẻ nào mà không có cha mẹ, bà con thân Ihuộc để bơi xách các thứ ấy và thêm chút ít vào thức ăn để đu sổng thì kẻ ấy phải chịu chết đói và chết rét, không ai đoái hoài đến.

    Và chính dó lù nơi thường xảy ra ổ lán thứ ba của những kẽ bân i ùng xã hội. Ổng Miche nói: "Hị xieng xích và phải nom trên dẩt ấm ướt, trần truân g rt: thú vật bị Uĩng quên chờ chết", sửtruỳền dạo XV

    ''Mì). Kẻ khỏe mạnh nhất trong đám cũng chỉ đủ sức để phều phào: Ị tói, dái và "ehĩ trong vòng một tháng đ5 phăi chết giữa đám bốn inififi ngươi bị giam cầm". Đó là lời của nhân chứng trôn. Daule đã 11 MIC kích nhưng chữ rùng rựn sau đây viết trC*n cữa địa phìi: "k)ã vào đây ià hết hy vọna". Người ta có thổ chop lại câu ấy trôn cửa địa ngục của Khám đường An-nam. Nhu’ chung tôi đã nổi: Mọi ngươi mà bước qua ngưỡng cửa ấy là chi đợi để cùng với quan tài thẹo chân đao phủ đến chỗ hành quyết, vả lại trong cuộc đời cua những ngày đen tối ấy không có được cái nhìn thông cam, không 1Ĩ1Ộ1 lời thượng hại. Không có một ngưừỉ giàu, một vị quan lớn chịu hạ mình đến thăm bọn người khốn khổ ấy. Chỉ có một người duy nhất là vị quan dó vua phái đến, đến chỉ đổ xem xcl còng sắt có đổng sít không. Và đổ cũng là mục đích duy nhất. Còn các vị quan nhỏ của những vùng không đạo tự thấy rằng họ thẹn khi đứng trước mặt một người bị xiêng xích và họ thấy mat danh giá khi chạm vào tay người tù đày khi ngửa lay xỉn họ. Ôi! Cái rộng lưựng của người lương sao lòng họ nhỏ hẹp vậy!, Cũng còn một số người cảm thông se không lừ chối những người nghèo đến gõ cửa họ nhưng úm đến những ngươi khốn khổ trong nơi giam cầm đc lau nước mất cho họ hay cứu đói cho họ, việc này chỉ dành riêng cho lòng nhân từ của Thiên Chúa giáo, nổ dáng dược cái vinh quáng này (Sư iniỳêĩì dao XV 530).

    Dây là danh bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào cil á 8 người Âu trong dó 7 người Pháp bị giam ở Khám dương.

    Dưới thơi Minh Mạng, ông François Jaccard và cha cố Odorico ơ lù từ ngày 8 tháng 11 đen ngày 1 tháng 12 năm 1833. Cha Odorịeo jà dòng tu khổ hạnh người Ỷ và Ọng Jaccard là linh mục của truyồn giáo nước ngoài ơ Paris. Người thứ nhất bị chếl o các trại giam Ai lao na ày 23 tháng 5 năm 1834. ngươi thứ hai bị bóp cổ chết ơ Quang Trị ngày 2 ì tháng ơ năm 1838.

    Dươi thơi Thiẹu Trị các ông Sine mon Berneux, Jean Ga ly pierre Chars 1er hi hắt giam ơ Khám đương lỉf đâu tháng ỈO đến ỉ 2 tháng 12 năm 1842 và tiếp đó la các ộng Jean Claude Miche và Pierre Duelos lừ ngay 12tháng 12. năm 1842 den ! 2 tháng 3 näm 1843, Näm vi lính mục cùa Hội Truỳên dạo hước ngoài ơ Paris bị kết án lữ hình vì dạo và đợi vua phán quyết ngày thụ án nhưng vào ngày 25 tháng 2 năm 1843, chiếc tàu "ĩĩémine" (nữ cmh hùng) cặp bến Đà Nẩng, thuyền trưởng Lêvẽque biết được tin năm linh mục Pháp bị bắt, ông phản đổì quyết liệt để đòi lụi; ngày 12 tháng 3, vua Thiệu Trị miễn cương chấp nhận trà họ lạ í cho thuyền trưởng chiếc "Héroïne".

    Cũng dưới thời kỳ Thiệu Trị, Khám đường cọn đón một vị khác lưng danh là ngai Lefèvre, giám mục Sài gòn, vào giam giữ hai đợt. ĐỢI thứ nhất trong thời gian hai, ba tháng vào đầu năm 1845. Và Phổ thuỷ sư đô đốc Cécile, lổng chì huy Hải quân ở Viễn Đông nghe tin đức giám mục bị bắt giam và bị tuyên án tử hình đã đến đòi lại. Vua hoảng sự tra lại. Khi đưỢc tha ư Xingapo, đức giám mục Lefére lại ve Sài gòn.

    1 xfèvre lại bị bắt íân nữa khi đặt chùn đến Sài gòn và lại bị kết án tử hình. Họ bị giam một thỡi gian í Hháng) Khám dường (vào năm 1846) nhưng Tôi vua lại sự bị rắc rối với Pháp nôn đã bỏ. xuống thụyền và đem giao đức giám mục tạ ỉ xíngapo. (Chúng lôi không thấy dấu vết gì của đức giám mục Letere, ghi tên trong Khám đường nhưng tôi biết chắc Ngài cũng bị giam cầm đó vào năm 1845, 1846 vì Khâm đương là nơi giam giữ và chắc là vào fân thứ hai vì báo "Nam kỳ Thiên Chúa giáo" của cha Louvel (II 162) có ghi; Ngài bị giam rùng lao với kẻ tội phạm, ró le ở dỏ lù Khảm dường.

    Trước khi kết thúc công việc khiêm tốn nàv tôi xin đồ đạt một nguyện vọng: "Khám đường nay đã đến độ đổ năt hoàn toàn và nớ sẽ làn lụi dần cho đến khi chỉ còn dám đất vu kỷ niệm. Nhưng nó lại íà một di lích lịch sử đáng ghi nhớ. Rất liếc ỉà khi khuất bóng các Làn tích thì cũng chẳng còn kỷ niộm gì đò lại nữa. Và cũng là díing lúc "Những người bạn cố đô Huế" muốn gửi một lưu niệm CỊI thể bằng cách xay đây giữa đống gạch đổ nát - một lâm bia, ghi rõ địa danh của nơi này và trốn đó co ghi thCm tôn của 8 người Âu nối d trên dã hị đày ai d đây. 13Ó là mọt kỷ niệm cần dể lại.

    DI TÍCH LỊCH sữ VÙNG TRÊN BAO VINH:

    TRƯỜNG BIATHANH PHƯỚC

    R.MORINUAU

    Truyền giáo rtưởc ngoài Paris

    Năm 1642, vào tháng 5 ám lịch (28 tháng 5 - 26.tháng 6) Công Thưưng vương nhận thây ứng \ứrtng quốc mình đã giàu mạnh miti nghĩ đốn việc tấn công ra Bắc kỳ. Ngài luôn luôn duy ỳ t htnh quâh độ ị bụ bi nh và tập trận.

    "Một hôm Ngài đỉ thuyền đến Càng Nộn (theo Sừ tri cu dinh, Cương mục, cuến XX tập 256). Đó là cảng Thuận An ngày nay và nhận thấy thụỹ binh chưa dầy đủ. Vua ra sắc lệnh cho ba huyện Hướng Trà, Quăng Điền và Phu Vinh bô' trí bãi tập cho thuv bình ờ lùng Hoàng Phúc (dưới thời Tự Đức gọi là Hồng Phúc IY> nay ỉa Thanh Phước thuộc Phú Vinh<> ".

    ’’Ngài cho đắp lèn một mò đất cao độ 30 trưựng (!2m) vìuiàỉ 150 trượng (60m),

    Trong thơi gian các đơn vị lập chèo thuyên và bắn đại bác. Ai to ra xuất sắc được nhận thương bằng vàng và lụa”. Thời kỳ ấy, trong đấm hàỉ quân, không có binh sĩ nào được tập luyện thành thạo(2t.

    "'Thanh Phước thuộc lì uy ệ 11 I lương Trà.

    1" Sừ dơi Nguyễn 'Thực ìur hiên" cuốn IU chương 7b. Tài iiệu và hẳn dịch <(n Oidicre: ttrrhành líỉỳ ỉìoníỊ ĩỉâi" Những người han Co đổ fhif\ 1906* 148,

    Trường bia nằm bên tả ngạn sông Hương, phía trên 0 làng Thạnh Phước cửa huyện Hương Trà. lổng Vĩnh Trị và nối tiếp vơi xưởng sửa tàu cỉí cũng đặt tại làng ấy.

    Trướng bia ấy khống con quan trọng như ngày xưa nữa. Nó đạ bị sóng nước xoi mòn và khi giổ mùa Đông Bắc dâng nước sông lên vàr, làm lở dần vì bị sóng vầ vào bờ, nếu sóng cứ tiếp tục không chuyển* hương thì trương bia ấy sẽ tiêu dần.

    Ngaý mặt bằng của trương bia chỗ rộng nhất là 40m, trên cao chĩ còn được 3m. chiêu dài mặt bằng còn 28 m nhưng phía trên chì được 8,5m. Chiều cao của ụ đất tối đa được 8m. Trương bia ấy lãm toằn dất sét, lấy cạnh đấy, từ đất của các ụ làu xưởng sửa chữa ngày xưa.

    Phía trên hướng Bắc - lOõng Bắc và phía dươi Nam - Tây Nam, nếu theo chiều ấy ngươi la cớ thể cho rằng các thuyền An-nđm.có thể tựa ơ giữa sông ngang với chợ Lại An ngày nay hay gần hơn nữa và cố the từ đây bắn vào trương bia. Những qua pháo bắn trượt có thể bay mấl không gâý nguy hiểm cho dân chúng trong các đầm ruộng của làng Thuận Hòa và Tiền'Thanh.

    Chúng ta biết chắc rằng các pháo binh An-nam mặc (fâu đã được um ỉên tròng các lài liệu trôn, vẫn ợ mức kém cỏi và trong thế kỷ miVíc vua Minh Mạng đa biết rất cần cho các sĩ qúan nen dạ thương rãi hậu hĩ cho các ngươi hắn trúng đích.

    Vì vậy mà đến năm 1824. một thương gia Pháp - ông Dorel ơl í rên chiếc thuyền búọm ỉôn đến Bao vính<2) dã bắt gặp những cuộc làp trận, mà rất vinh dự cho những ngươi đồng bào của chúng tôi (tang hục lập trong trường hơp còn phục vụ cho í riêu dinh Huếv

    'n Ỏỉig Doret sau này là thượng nghị sì,

    ’ t 'âu; "Cửa của Huế" tròng cuiín "Kỷ niệm vầ Huế" 1867 trang 195 để chỉ ' u‘a biển diy sông HuUng. c*ó thể chiếc ỉhuỳên buồm du lịch dến Hao Vinh mà (lo có I huyên dìu Trung Hoa dậu.

    Chúng Lôi đọc trong "Kỷ niệm vè Huế' cua đức Çhaîgneau ’'Trong thời gian ITALIC1ỒITALIC2 Dorel ở cửa Thuận An, có nói Minh Mạng đến xem bán đại hác nhiều lan ỏ nhà lục lăng cách đó 3,4 km, Cuộc bắn ấy đành cho các quan và vua có hứa thưởng một thoi vàng '° cho các quan bắn quả đạn vào trúng hồng tâm của bia và thưởng cho một thoi bạc nếu quâ đạn trúng vòng ngoài".

    Ông Vannier và ông Chaigneau luôn luôn tháp tùng theo vua Minh Mạng, và cũng tham gia bắn như các quan An-nam. Và trong buổỉ thao tác ấy ổng Vannier là sĩ quan pháo rất giỏi, sau khi đã ngắm súng, châu hỏa và hỗ to cho các bạn đồng nghiệp vừa xoa tay: "Đấy một thỏi vàng đã đi". Các quan cười vang lên. Một lát sau, một người phục vụ trịnh trọng đưa ổng một thoi bạc trên chiếc khay, quà cũ a vua. Ồng Vannier thốt len "Aha!" Vìía cầm thoi bạc: "Ôi ỉ Tôi tưởng tâi đã bẩn giỏi hơn thế này",

    Cùng một lúc. một dấu hiệu mđi cho biết rằng, sau khi đã kiểm ira thì hòn đạn vừa rồi đà trúng vào hồng tâm, một nhân viên hước vội đốn và mang lại cho kẻ đắc thắng !T')t thoi vàng, dồng thời xin lại thoi bạc. Ổng Vanier nhận thoi vàng nhưng không tra lại thoi bạc và nói với nhâiì viên: "Đức vua ân tứ cbo tôi, ca hai, và tôi giữ iuôn cà 2 thoi, tôi xú'ng dáng được ca đôi".

    Theo lời ciía ngu’ô’i An-nam thì trương bia Thanh Phươc đã hỏ và trở thành dài quan sút giữa Huế và Thuận An, một trong những trạm viỗn thông quan sát đưựe bằng mắt mà Dutreuil de Rhins đề cập đến. Năm 1876. các sĩ quan Ihuỷ quân Pháp cóng tác cho Tự Đức chỉ biết cỏ trương bia Thuận An mà thôi nhưng Dutreuil de Rhins chỉ nó ì đốn Thanh Ph uov nhu ỉa mot doi dat che khuat cac kho xương vu khí. Cái đồi đất mệnh danh là trương bia Thanh Phươc đang còn

    xanh tốt cách đây mấy năm nay chĩ trồng một ít cây sầu đông khẳng khiu thường xuyên bị kẻ chăn trâu bẻ phá.



    Người ta chỉ bỉết nuối liếc sự biến mất của trường bia» vì ô trên đỉnh ấy nhìn quanh đến chân trời rất đẹp mắt.















    TÀI LIỆU LỊCH SỬ VỀ ĐÀN NAM GIAO

    L.CADIỀRE

    Truy en giáo nuởc ngoài Paris

    Vào năm 1806, vua Gia Long cho xây dựng đàn Nam Giao mà người ta thường gọi là "Tế Nam Giao" vl đổ là nơi để vua An-nam đến cúng Trời vào những thời kỳ nhất định trong năm.

    Trước khi ghi lại đoạn trích tư Đại Nam thực lục nói về cách xây dựng công trình này, tưởng không phải vô ích nếu ta ghi thêm các quan hệ giữa người châu Âu đã sống ở đây trước triều Gia Long những chi tiết nói về tế íễ Nam Giao.

    Sự kiện này, thoạt đầu, thấy như kỳ lạ nhưng có thể giải thích hằng hai lý do: Hình như cha Đe Rhodes không chỉ một íần cớ mặt ở triều đình Nam kỳ trong các lễ tế tfâu năm. Đó là một thời kỳ khác mà ông xuất hiện Thủ đô, "<5 triều" và "ở Kinh thành" tùy theo cách dùng chữ của ông. Nhưng lý do đúng nhất tôi nghĩ rằng trong thời kỳ ấy các vua Nam kỳ Đàng Trong mới vừa gây dựng xong và cũng chưa lự xưng là vua nên khô ne dám đứng ra tế lễ Trời. Cho nên cha de Rhodes có nói đến từ bua ( ngày nay gọi là vua) để chỉ hoàng đế của triều Lê. Ở sắc kỳ, chúa dùng đề chỉ họ Trịnh và chỉ là vai phụ thôi và ngang hàng với các đại thần trong tri'êu. Vào thời kỳ đó dòng Nguyễn cùng chỉ là các người cai quản các lỉnh phía Nam thôi chứ chưa phải là vua chính thức.

    Dù sao. công rất hay nếu được biết diễn ra lễ tế ấy thế nạo ỡ Bắc kỳ** .

    Trong tác ic mà dân chúng sùng bái hàng ếấu ià việc mỡ mang sản xuất tren đồng ruộng mà ai ai cũng phải cúng tế hàng năm. Vào cuối xuán. các người Bắc kỳ và Trung Hoa và vào thời ây giữa Đông chí và Xuân phân là vào ngày 5 tháng 2 dương lịch lúc đâu trảng.

    Vào khoảng ấy, phải chọn ngày theo tính toán cua những nhủ toán số hay phù thủy chì định... Ngày ấy vào mồng ba lết., hễ ai làm quan triều đình phải đến họp tại Kinh đô, ăn mặc lể triều và đco thẻ hài đẳng cấp và theo vua di quanh thành đô theo thứ tự như sau:

    - Trước là đoàn quân lính, cầm VÖ khí sáng chối. Có tham dự nhưng lôi chưa biết rõ quân số, tôi ước lượng độ 50 nghìn người.

    Sau đoàn quân là các vị chỉ huy, quan lại và hoàng tộc quỷ'phái. Tất cả đeu cơi ngựa mang giáp đẹp hay ngồi voi lơn. Tôi còn nhơ lôi đã đếm trên ba trăm voi chọn lọc. Và sau thấy chúa Thành đô[/MEDIA][/TH][/TR][/TABLE]
  • Chia sẻ trang này