0113.06 Derby (soát xong GD)

23/3/16
0113.06 Derby (soát xong GD)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose:
    vương01 tức là một vị dưới vua nhưng toàn quyền cai trị, Vua ngồi trên xe thếp vàng rồi lên voi mà Ngài điều khiển tài tinh và sau ỉầ đoàn nho sĩ lừng hàng đài gồm các ông Nghè, ông, Công mặc áo đắt tfòn dặi lộng thống đến chân và sau cừng ià bua (vua) ra mắt dân chúng trên chiếc ngai lổn caơ đến 20 trượng có người gánh: Trên ngai có treo màn lụa hai bên và cớ các nậm màu vàng. Nhìn khung cảnh rất đẹp đẽ. Màu vàng giành cho vua và các áo khác cua ngựời tham dự lễ là màu cổ pha tím.

    11 Vua ân mặc như thế, di từ đền ra, rộng như một kinh thành. Vua đi qua thành phố ra ngoài đồng ruộng mênh mông. Vua xuống ngaỉ, dau tiên tế trời nghiêm trang rồi đến câm cày trang trí rất nghệ thuật và Sáng trọng bắt đầu cày vài luống đất...

    Và chứa lạ Ị đến lạy bái trước vua, trắn trọng chúc tụng vù hứa trung hiếủ vơi vua. cả đám lơn người ai cũng rạp mình xuống đât và từng ngươi chúc vạn tuế vua và nguyện trung thành; và sau cùng vua lại được đưa về Kinh đô vđi nghị lễ như lức đi".

    Cha De Rhodes đến Bắc kỳ tháng 3 nám 1627 là sạu khi tế Trời và đến tháng 5 năm 1630 thì Ngài đỉ thẳng'2*. Như vậy buổi lễ mà ngài dự và miêu tả diễn ra tại Hà nội vào năm 1628,1629 hay năm 1630.

    Vào năm 1671, Bénigne Vacbel truyền giáo nước ngoài Paris Nam kỳ, và ông đây 14 năm. Cố ghi lại một sự liên lạc đang còn lưu trữ bào tàng của Tu việri của Ngoại vụ' hiện nay có đăng trên

    Tập san cua Đoàn công tác địa chất Bông Dương* trong đố có ghi VC lễ tế Trời giống như người ta tế ở Huế<2>,

    Trong 3 ngày đầu nãm mới theo ông kể, đều đầy lễ ỉựợt và đám rưđc long trọng. Ngày mồng một, trước khi mặt trời mọc, ồng vua, các ỗng hoàng, các đức ông, quan võ, quan tư pháp với đoàn quân đến sân triêu rồi đi đến các ruộng đồng và đứng vào vị trí cấp bậc cua từng người. Chỉ cớ vua là ăn mặc đồ đen và đâu trần cho đến khỉ mặt trời lên ở chân trời, mọi người đều giữ im lặng cho đến khi mật trời xuất hiện. Vua ra khỏi ngai, đi đến một chỗ đất trơn trông, đề cho mọi ngươi nhìn thây, vua quỳ xuống và lạy chín lạy để chiêm ngưỡng ân đức của Trơi và chì biết đếh đức quý của Trời. Sau đó vua lên ngai và các ông hoàng íần lượt đến chúc tụng các quan võ đi theo sau vã tiếp đến là các quan theo cấp bậc ĩân lượt đến vái tạ, Cả đoàn quân đều làm như vậy. Sau đố là những lời hô vạn tuế chúc mừng vua nãm mới vạn an, Cuối cùng là nhưng loạt súng lệnh đã đạt sẩn xung quanh Kinh thành gần dấy.

    Như vậy người ta đă mục kích buổỉ lễ, có nhiêu sự khác nhaú, nhưng cũng rập khuôn buổi lễ d Bắc kỳ bốn mươi nãm trưđc dãy. Vachet đến Nam kỳ trước một năm của chiến dịch lớn cüa Bắc kỳ chống Nam kỳ và đa thừạ nhận vĩnh viễn sự độc lập của đất nước mới. Và từ lâu nhờ cái thẩng trận về mặt quân sự đã cho phốp các vua Nguyễn lự công nhận là vua thật sư và cũng chẳng lạ gì, đồng thời họ giữ cái quyền chính đáng và thiêng liêng là được tế Trơi. Ở Bắc kỳ, lễ tế gồm có ba hành động khác biệt: lễ tế Trời, khai đất do vua và cuộc chúc Tết đâu năm vua. 0 Nam kỳ, Vachet chì có nói đến lỗ đau và lễ cuối, ổng đã không nhắc đến lễ tế nông. Ông không

    *

    rn lìi vua không làm le giai đoạn đố. Cớ thổ một sự läng quên của

    t Ifìg VaeheL

    LỖ Nam Oiao thời đổ diễn ra ở địa điểm chính xác nào? Vào năm 1687, Chtía Ngãi Vương rơi Kim Long, nơỉ mà các chúa Nguyễn đả ô từ 1636, để đến Phú xuân, khi mà ông Vachet viết, lúc ấy chính là ITALIC1ỒITALIC2 hoàng cung Kim Lọng mà ông muốn nổi. Vậy thì đúng là vùng ruộng tân cận cua làng Kim Long hây giơ là nơi tế Trời. Cha De Rhodes kể các sự kiện ve Kim Long - nơi xáy ra - có ghi: “một nơi đồng quê rộng gần Hoàng cung mà cấc ông hoàng chơi cuộc tế ngựa. Nơi thao trương cũ cũa dinh ở Kim Long cố nổi hai trựơng bia đặt sau làng ngày nay, trên bơ sông phía Tây Kinh thành Huế. Có thổ đó đã diễn ra các lỗ tế mù ông Vachet đã mỉêu lả và cũng là lễ tế Trời. Và cũng cổ thể giả thuyết này sẽ bị bác bõ hởi những việc nghiên cứu sau này.

    III, Gia Long thắng Tủy Sơn, tênngôi ngày 10 tháng tì năm 1802, mồng hai tháng năm Nhâm Tuấl

    "Năm Quý Hợi, năm thứ hai niên hiệu Gia Long, vào mùa xuân thang gỉêng..., ngày Ất Dậu (10 tháng 2 năm 1803), ngựơi ta đắp mội mô đấl lớn ơ làng An Ninh để đụ điều kiện tế lễ Trời, Bất.

    Vua truyền cho Thượng Thư Bộ Lề: "Không nghiêm tức nếu không tế lẽ Trơi, một việc hệ trọng lơn cơ phai không ? Và vua ra lệnh cho các quan Bộ Lễ phải nghiên cứu cách tế lễ Trơi, lẻ giao và buộc phải thực hiện".

    Cho đến năm 1806 thì đàn Nam Giao mổi xây dựng. Bây là những điều ghỉ trong bộ sử của Gia Long (Đại Nam thực lục chính hiên, đệ nhất kỷfh.

    "Năm Bính Dần, niên hiệu 5 Gỉa Long... vào thảng hai, ngày Giáp Thân (25 tháng 3 năm 1806) ìân đầu đã xây đàn Nam Gỉao (phía nam Kinh đô ỡ làng Dương Xuân) và phải làm theo quy định là ba cấp (cấp thấp nhất là mô đất tròn cao mười trượng tám tấc và một vồng 303 trượng 5 tấc, câp thứ hai là mô đất vuông, cao hai trượng 5 tấc và mỗi cạnh dài 185 trượng 7 tấc. cấp thứ ba cao 1 trương 9 tấc và có cạnh dài 357 trượng. Bà cấp đều có thành bọc quanh).

    Mỡ đất tròn của cấp một là nơi để tế Trời cao cả, các đấng trên mặt đất,

    'Mỏ đất vuông thứ hai là chỗ tám vị thần, hàng đầu bên trái là thần ánh sáng, hàng thứ hai bên trái là sao trên trời, hàng thứ ba bẽn trái là thần gió, mưa, mây, sét, hàng thứ tư bẽn trái là Thái tuế2’ (đất) và mật trăng. Bên phải v| trí đầu(it - Đêm tối, vị trí thứ hai - niìi, biển, sông, hồ (đến niên hiệu 9 Minh Mạng, người ta thay bằng sông hồ), vị trí thứ ba - đồi, đong bằng phì nhiêu, vị trí thứ tứ - các linh vị cũa Trời và của vũ trụa’.

    Vồ cạnh phía đông và nam của cấp thứ ba, ngưdi ta chất cùi; vẽ phía cạnh tây và bấc là các hô" đựng rác. Ở giữa củạ cấp thứ ba trông toân thông trẽn mặt bằng của đất. Xung quanh cấp hình vuông cổ vòng một trường thành có bốn cửa, bốn mặt có tại xây

    Sử Gia Long cuốn XXV IU chương la. 4,5.

    ‘■Ll Thái tuế, lêu ngôi sao ác. tlìần đất, ý củạ Coavieur còu llieo Eitel (hì là niội ngôi sao tưởng tượng đaug bay đến Jufiter (mặt trời) và dựa vào đó ugười ta tíuh năm.

    ư' Dạ minh là cá í ho dể cúng tế trăng (theo ('ouvreau và Eitel).

    , l’ Cắc phân cùa vũ trụ deu nhân hỏa than núi và biển .v.v...

    TẬP I

    gạch. Ở giữa đàn và bên phái người ta đặt điện Trai Cung ỏ đây, vuá phái tự thanh khiết.

    sắe lệnh xuống cho Phạm Văn Nhơn, chỉ huy của các binh đoàn tiến hành xây dựhg công trình và khen thưởng cho các đơn vị thi công năm nghìn lạng. Nếu khi nđi rộng, phải chỉếm phải các đất đai tư nhân của dân chúng hay phải dờí các lăng mộ thì phải dền bù cho đương sự,

    Chì định hai mươi lăm người trong dân làng Dương Xuân chăm lo giữ gìn đàn và được mìẽn tạp dịch.

    Sắc lệnh cho Bộ Lễ phải lo sắp đặt các đụng cụ cần thiết để tế Nam Giao mà các cơ quan liên quan phải đúng mẫu đề ra cúng tế và tỉnh Quảng Đức phải chọn mua một con trâu nghé, cho ân lúa tốt để cúng tế".

    Đến phần cuối bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào sử, các nhà sử học đã kể lại lịch sử của vua Gia Long, ca ngợi vị vua này và ghi các công trình lớn đã hoàn thành và sau khi đã nêu đủ việc thành lập quốc vương An-nam, xây dựhg kinh đồ, trùng tu lăng tẩm của tiên đế, cũng không bỏ sót là vua có đặt vị trí đề tế Nam Giao'” vì việc tế lễ Trời được xem như một trong những bổn phận và cũng như quyền tốì ưu của phẩm giá vua. Việc xây dựng đàn Nam Giao đã công nhận trước ngườj dân vua Gia Long là vị vua chính thức cua nước An-nam và hết lòng mong muến được chứng giám của đấng thiêng liêng dống dõi nhà Nguyễn vằ loàn dân.

    Ui »ỊỊý (lia Long", Thập lục chĩnh nhứt LX. 20,












    HUẾ CỔ DƯỚI MẮT ĐỨC CHAIGNEAU

    ĐÀN NAM GIAO

    H. DE PIREY

    Truy'êtỉ giảo nước ngoài Paris

    Trong cuốn " Kỹ niệm vê Huế" do M.Michel Đức Chaigneau ấn loát tại Paris do nhà xuất bản Hoàng gia 1867 trong ưang 147: "Đứng trên khu vực này, nhìn về phía Ham, ta có thể thấy cách 12km một hòn núi riêng lẻ, đỉnh bằng, có thông và xung quanh tạo hình một bình phong hay là một cảnh trang trí màu xanh cho thành phố Huế. Người An-nam gọi là "Ngự Binh” (bình của vua) vì nó làm đẹp cho thành đô như một chậu hoa để trang điểm cho một 'căn phòng. Tây Sơn đã dùng núi này vì theo hướng Nam đối diện với Kinh đô để làm tế lễ Nam giao".

    Mục dich cüa tôi trong bài này là nhằm điều Chĩnh và làm cho chính xác một vài chi tiết hình như chưa được rõ.

    Trước hết tôi lưu ỹ là đức Chaigneau đà nhầm khi ưđc tính độ 12km khoảng cách giữa núi phía nam và Kinh thành. Chtìng tôỉ vừa xem lại bản đồ đo đạc và thấy ch! có 3 km giữa khu này vđi núi.

    Còn nghĩa tữ "Ngự Bình" không thể dịch là "bình của vua" được. Từ "Bình' cGng có thể là để chỉ cái bình, chậu, đỉnh, nhưng lại cứ nghĩa nữa là che, dấu mà người la dịch là éc rau, paravent (màn và chắn).

    Như vậy Ngự Bình ở đây không chỉ là một trang trí cho đẹp mắt hằng màu xanh mà còn là lá chắn để hảo vệ cho Hoàng gia và thành phố, chống lại mọi ảnh hưởng xấu từ phi á Nam. Cũng vì lý do đó dựa trên các tín ngưỡng và tập quán cổ truyền Àn-nam mà dân chúng đây đêu đặt hình phong trước nhà hay trước cửa chùa và có nhiều nơi trước cổng làng.

    Hức Chaigneau còn nhầm nữa khi bảo Tây Sơn có dùng Ngự Bình để làm nơi tế lỗ Trơi.

    Thực ra, không phải núi Ngự mà là cái đồi ở phía Tây của Ngự Bình cùng góc độ (núi Bân).

    Chính đó là nơi chọn của Tây Sơn vì người An-nam đã đặt tên nó là Hòn Thiến (đồí của Trời) và họ cơn nói lại rằng ngày xưa trưđc khi xây đàn Nam giao người ta tế lễ tại đó.

    Và cũng cân lưu ý trên dinh đồi đố có các đương xuồng đúng theo bốn hương. Ở trên dinh và xung quanh nen chính cố hỏn mô đất tròn, đặt phía dươi chứng tỏ đây là chỗ đổ tế lỗ.

    Và tôi thềm một chi tiết nữa, trưđc khi kết thúc và nếu đi kiổm tra cho tỉ mỉ hơn nữa các đồi ấy, chúng ta sẽ hất gặp đây dó cổ đất. gạch đỏ. Cũng VI vậy mà ông Cberhardt cổ thổ cho là một địa hạt cua châu.













    VÀI NÉT VỀ RỪNG THÔNG NAM GIAO

    ĐÀN TẾ NAM GIAO

    NGUYỄN ĐÌNH HÒIi

    Phó Giám dốc trường ÌỊậu hổ

    Rừng thông trong khu vực Nam giao được trồng theo lệnh vua Gia Long vào năm thứ 5 của đời vua. Và cũng vào thời ấy chỗ tế lễ Trời, Đất dạ chuyển đôn nơi này cho đôn nay.

    Một nhổm thông trồng ở trong thành phía Nam là tượng trưng cho vua, người sáng lập dòng lộc. mỗi cây tượng trưng cho một ông hoàng, hay một quan vàn, quan võ có tham dự sự phục hưng vương quốc. Một cây phải buộc một bảng đồng hay bia dó mang tên vua, ông hoàng hay quan lại văn võ để giới thiệu.

    Trong vòng thành Trai Cung hay là cung Trai Tịnh, vua Minh Mạng lự tay trồng 10 cây thông cớ mang lên vua bằng đồng.

    Đến vua Thiộu Trị cũng trồng 11 cây như vậy.

    Cũng trong thành ạy các ông hoàng, chú bác, anh em của vua mỏí ngươi đcu có một cây riêng. Các quan vãn của triêu gom cả tỉnh trương Thừa Thiên và các quan vồ nhị phẩm, trồng xung quanh Trai Cung mỗi ngươi một cây L'ó mung biển tôn minh và ngày thăng quan tiến chức.

    Dưới thơi Tự Dức, cái quyên được trông và có một cây thông trong chỗ ấy lan rộng dốn quan vãn tư phẩm và quan võ tam phâm.

    Trồng thong lấn ưan đến vùng đất tam giác kéo dài sau Trai Cung giữa đường phía tây của Nam giao đến đường Thiệu Trị.

    Trước năm 1885, mỗi một ông quan, sau khi đã đến bấí vua, nhậm chức lỏn cấp phải đến Nam Giao, tự tay trồng cây thông phần mình trước mất phái đoàn đặc hiệt của Bộ Lễ và Bộ Công và giao cây lại cho những người bảo vệ chăm sóc. Viộc làm ay, ngay nay cổ khác hơn. Sau khi được thăng chức lên bậc trên, thì người bảo vệ rừng thông đến báo cho vị quan chức ấy đã trồng cây thong theo quy đinh và được nhận tiền thương công lù 3 lạng bạc.

    Người ta có thể thây các tên tuổi, ngày đi dự Nam Giao, mà

    những người bầo vệ sẽ treo vào gốc từng cây và có bảng treo iại trên cây mđi trồng.












    RỪNG THÔNG NAM GIAO

    Tư LIỆU LỊCH SỬ

    L.CADIÈRE

    Truyền giáo nước ngoài Paris

    Khi đọc Sử Minh Mịtng, tôi có hắt gặp một đoạn người ta nói đến cách trông thông theo tục lễ à Nam Giao. Tỏi muốn nói là các cây thông tục lễ chứ không phải đám thông trồng quanh đàn Nam giao, phía ngoài thành mới xây dựng vào thời Gia Long năm 1806. Đây là những cây thõng mà ông Nguyễn Đình Hòe đã làm cho chúng tôi lưu ý đến, trồng (ì Trai Cung (lâu thanh khiết) mà người ta đã trong, các nhân vật trồng cố tính chất lịch sử, tính chất thiêng liêng và theo tục lễ.

    Các tư liệu đây không phải ỉà lặp lại các tư liệu của ông Nguyễn Hình Hòe mà trình bày có cơ sờ lịch sử dẫn đến việc làm này.

    "Năm Giáp Ngọ, niên hiệu Ị5 Minh Mạng, vào mùa xuân tháng hai... ngày Dinh Vị (2ỉ tháng 3 năm ỊH34) người ta tế lễ Trời đất ở dàn Nam Giao.

    "Trước dó mọt ngày, I aa dến Trai Cung IYÌ trông vào hên trái hên phải cua lâu 10 cây thong rói tự tay hiiộc các hiển đông, mồi hiển có ghì các dòng chữ cua cua, dể ghi nhớ chức vi cua người trong.

    "Sau dó. các vị quan t ủa kinh dô cấp Tứ phẩm trơ lên và các 'Ịuan ở các tính vé dể chuđn hị tể lễ dều dược Lòi tiên trống cây và có ghi trên hiển tên tuổi họ hàng cua mình vtì ngày tháng năm dã trồng cây".

    Như vậy, một số cây thông hóng mát ơ Nam Giao đối với một số gia đình được xem như vinh dự Iđn hiện hùnh và đối vơi chúng tôi, không phải là khỏng thích thú khi theo dồi qua nhiêu năm lịch sử cua việc Làm thiết thực do vua Minh Mạng thực hiỏn và ghi chép lại sô' hiển treo trong Trai Cung.

    Lỷ do gì đã thúc đẩy việc làm này của vua Minh Mạng? Chúng ta có thể nghĩ rằng đây là mục đích thực dụng? Quang cảnh dàn Nam giao phải cơ lính vị đại và uy nghiêm, khác vơi các vùng cây cổ thụ khác, nhưng lại bị bão dè làm hư hỏng vung xung quanh dàn. Cũng cớ thổ là các cây trồng từ thời Cria Long dã bị hao mòn do phong sương, cũng như ngày nay bị trâu bò, và ngươi đốn cũi phá hoại. Tự tay trồng thong, vua Minh Mạng và các ông hoang, các quan lại đã lạo ra một uy thê của vua trong việc bảo vệ rừng nàv dưực chu tấi hơn. Các vinh dự ưu tiôn được trồng của các vị quan lại trơ thành một nghĩa vụ và như thế vua Minh Mạng tin chắc sự tồn lại cua rừng thong ơ Nam Giao SC phát triển lên từng năm một và vị quan nào cũng muốn cơ ơ chồ linh thiêng ấy một cây cỏ ghi tổn tuổi của mình. Cái hi en cài trên dõ sẽ bao đăm đời sống cho cây: không vị quan nào lại thấy trong đợt Lố lễ hảng tôn mình treo trên mội cây đã héo khô. Và neu vua thấy đưực thì thật Là một sự tui nhục và tai hại nĩfu...! Vì vậy mà ông quan nào cũng lo chăm cho cây của mình và phai thay ngay khi nó bị chết.

    Thực ra trong nhừng việc mà ta thấy quá nho nhặt, vua Minh Mạng đã the hiẹn tính chính trị và nhìn xa trông rỏng. Những quan tám của Ngài cùng vơi sự thận trọng để hao đăm cho cây trồng sẽ là những chỉ dẫn quý háu cho các cơ (Juan nông, lâm nghiệp.















    MIẾU VOI RÉ

    TÀI LIỆU CỬA BỘ LỄ BẰNG CHỮ HÁN

    NGUYỄN BÌNH HÒE dịch

    ixrđi triều Gia Kong (1802 - 1820). địa phận làng Nguyệt Biều có một miễu tên là Long Châu (ngọc rồng) do mấy anh nài đài thọ và chăm nom. Miễu gồm có một nhà chính để thờ các vị thân hộ trự cho voi và bốn am, bên phăi và bên trái đặt bài vị của bốn vị voi anh hùng. Năm nào cũng có lẽ vào mùa xuân và mùa thu. Tiền cúng bái là 1 (X) lạng và do nhà nước cấp.

    Den tháng 7 nicn hiệu 5 Minh Mạng (1824) có bằng khen của vua ban như sau: "Các vị thân mà các trung dt)àn voi đã dựng lên dế thờ cúng phai luôn luôn thực hiện vì đến nay dã nhiêu lan chứng minh các Ngài đã băo vệ rác đoàn voi dấu một cách bí mật trong chiến trận. Lí) cũng phải khen thưởng cho các đoàn dã duy trì tốt các ỉễ tế các thân. Vf) dế' tỏ lòng dội ơn Thần Thảnh, sẽ trích kho bạc, thường xuyên các năm dể dài thọ chi phí vé việc cúng tê. Phai nghiêm túc thực hiên".

    Tháng 8 niên hiệu 2 Thiệu Trị (1842), một bằng khen thứ haí được ban phát, trong ấy nhà vua phán truyền: "Nhận thấy các bậc Thần Thánh bão hộ voi dã chứng tồ nhiêu đợt hảo vệ: cho doàn chiến tượng chiến dấu rất oai phong nên phải cổ chức sắc quy định đê cúng tế, dến niên hiệu 2 ì Minh Mạng, trong dịp mừng thọ ngữ tuân cua tiên dế sẽ có một sắc lệnh ve việc nàycho phép cúng tê lớn h(fn.

    TẬP I

    chức sắc lớn hơn; Víì nay thừa kể phụ vương, ta vãn nhớ đến lòng tếi cua các vị thần nên phong thêm cho cấc vị như sau: Trợ Oai Tương Võ tinh Ưng Hộ Tượng Chì Thần..." (các vị thần võ tướng, tham chiến trận bảo vệ voi giữ gìn đất nước. Xin các ngài giám hộ đất đaí! Phái thí hành nghiêm túc ).

    Trong niên hiệu 32 vua Tự Bức (Ị&79) miỗu được tu sửa do nhà nước cấp kinh phí.

    Đến niên hiệu 4 Thành Thái (1892) số tiền dự tính cho tế lễ sụt xuống còn 50 lạng.

    Dưới đây là danh bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của 15 vị thần phò trự vua:

    Ị. Thiên Sư Quảng Vận Cao Minh Quàng Chánh Chỉ Thánh Đức 'Chi Tôn Thần.

    2. Cao Các Linh ứng Quảng Độ Dili Vương Phước Đức Chi Tân Than.

    .1 Bọn Xứ Thánh Hoàng Dại Vương Hiểu Nhơn Chì Tôn Thần.

    4. Cửu Thiên Huyên Nữ Điệu Ưng Hiểu Hữu Mặc Tướng Nguyên Quân.

    5. Thiên Y Chúa Ngục Tử Thục Tình Tuý Phu Nhơn Chi Thần.

    6. Chúa Tiên Trinh Liệt Oai Minh Chí Nhơn Hậu ;Trạch Tuxên Hòa Phổ' Hóa Chi Than.

    V

    7. Quắn Chư Ngan Thượng Chúa Dộng Phước Dức Chi Thần.

    8. Hong. Vương Quãng Tể Diệu Hóa Ân Quang Chi 'Than.

    9. Thuy Long Ngọc Nữ Quầng Trạch Huệ Tuế Phô' Hóa Linh ứng Chi Than.

    Ị Ị, Ngũ Hành Lục Bộ Liệt Vị Chi Thần.

    12. Tiên Hiên Khai Khẩu Hậu Hîèn'Khai Khẩu Uệi Vị Chi Thần.

    13. Bác Ba Cậu Tài Cậu Quý Liệt Vị Chỉ Thần. ỉ4. Ngũ Phượng Ngu VỊ Thể Cồng Chi Thần.

    15, Ngũ Phương Trị Lộ Hà Bá Thuỷ Quan Uệt Vị Chi Thần. Tiếp theo là lên các vị anh hùng phong tước đô đểc: ỉ. Voi anh hùng tên Ré rổ công trạng.

    2. Voi anh hùng tên Bích, tuyên dương tướng quân.

    3. Voi cwh hung ten Nhĩ, tuyên dương tướng quân. .

    4. Voi (Uĩh hàng tên Bồn, tuyên dương tướng quân.











    LIỆT KÊ CÁC CHÙA

    VÀ CÁC NƠI THỜ Tự Ở HUẾ

    Bác Sĩ ASALLET

    và NGUYỄN ĐÌNH HÒE

    Bài nghiên cứu này đúng như nhan đề ỉà bán kê khai đơn thuần các chùa đền nơi thờ tự Huế và các vùng lân cận của thành phô' Cũng vì ỉý do đặc biệt nên những miếu thơ cũ a tư nhân không có mặt trong bản liệt kê này. Cũng không liệt kê tuỏn cả những gì thuộc về bia đá linh thiêng hoặc kê linh thiêng, ít nhất từ số 1 đến số 54, dù các vật này cổ một ích dụng nào đó về phương diện tôn giáo và chúng tôi cũng không miêu tả các vị trí này về mặt địa lý, nghệ thuật hay tôn giáo.

    Chúng tôi chỉ nêu tén Hán-Việt của chùa nếu có, tên thường gọi và các vị thần linh mà người ta thờ cdng trong chùa; người ta sẽ ghi neu các nơi có bia, chuông hoặc các vật khác có giá trị lịch sử, và sẽ chỉ ai là người có trách nhiệm chăm sóc ngôi chùa; càng nhiều càng tốt các ngày cất chùa hay trùng tu và còn chỉ rõ tên đường cái hay đường lộ mà ngôi chùa ây tọa vị; nếu cần thiết ghi thêm cấc chỉ dẫn khác.

    Người ta cũng loại trừ, vì nhiều lý do khác nhau, cách sấp xếp thứ tự các chùa, hoặc tựa về cách cúng tế mà người ta làm: cúng Phật cúng Thần Hoàng V.V.... hay là dựa vào cách đặt tên: miễu, am, tự. từ, đình, đàn, V.V....

    Sau này, các số mục, các chùa hoặc nơi thơ cúng sẽ được ghi lạ ì trên một hạn đô.

    Mặc dầu chưa hoàn chỉnh hay có thiếu sót nhưng danh bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào này cũng cỗ phần hổ ích và mơ dầu dẩn đến như tôi mong ước, các công trình nghiên CIỈU về tôn giáo của ngươi An-nam lịch sử các công trình tôn giáo hoặc nghộ thuật (giơi thiệu của chủ hút tập san).

    Ị. Lình Chơn Điện: Am Bồ Đề xây dựng ở góc sông Đào Đông Ba với lên sông Hương Giang. Am này thờ bà chúa Thiên Tiên, Chúa Ngọc và các Bo tát do làng cũ An Hội dựng vào niên hiệu 18 Minh Mạng. Hiện nay làng ấy (phương 5) và một số nhà hảo tâm hao quản. Háng quan lãm là các buổi hành lễ.

    2. Miếu Ngữ Hành: ỏ An Hội (phương 5).

    Miếu Ngũ Hìtnh: còn gọi là miỗu Tân tộc (phường 5).

    4. Chùn Diệu Bế: Diộu Hố tự (những đicu kỳ diệu) xây theo lệnh vua Thiệu Trị nien hiệu 2 (ỉ 842) nơi Ngài sinh ra, chùa này còn giữ các vật và tượng cua chùa cũ Giác Hoàng ơ trong Kinh thành'h .

    Chùa này rất dẹp nhơ các pho tượng và cách xây chùa. Chùa cọ một cái chuông và cái bia mang nót chữ của vua. Cái chuông đúc vào tứ lu an của vua đe ghi nhơ ngày sinh nhật và dể mừng thọ Hoàng thái hậu 80 tuổi.

    Chùa này là chùa Phật giáo nhưng do nhà nươc đài thụ.

    5. Chùa Ông: Quan Công Từ, đền thờ Quan Công (vị tướng công thời Tam Quốc) do chính phủ đài thọ và một số đệ tử. Chùa nay có tượng Quan Công rất đẹp.

    6. Miều Ngũ Hành: ở Xuân Lộc (phường 5).

    7. Quan Cùng Từ: chùa thường, thờ ử gác trôn, tầng trệt buôn bán. Chùa này do làng Đông Mậu quản lý (phường 5), thờ Quan Công.

    8. Miều Ngũ Hành: làng Xuân Lộc (phường 7).

    9. Đình và chùa làng An Mỹ: (phường 7) chùa do làng quản lý dãnh để thờ cúng Thần Hoàng và Phật*. Chỉ có độ 20 tượng.

    10. Miều An Mỹ: thờ Ngũ Hành.

    11. Miều Khai canh: làng Thế Lạt Thương (phường 7) cúng thờ người thành ỉập làng, người thành lập họ Hồ. Bàn thờ lổ tiên do làng quản lý.

    12. Miếu Quan Cồng: ở Thế Lại Thượng.

    13. Bình Thế Lại Thượng.

    14. Chùa Thể Lụi Thượng: còn cổ tên Thế Long Tự, chùa Phật của làng Thế Lại Thượng.

    15. Bình Gia Hội: xây thời Minh Mạng và trùng tu vào niên hiôu 3 rhiệu Trị (1843) thờ cúng Thần Hoàng và Quan Công làng Gia Hội (đường Gia Hội).

    16. Miều Ngũ Hành: (đường Gia Hội).

    17. Quan Cùng Từ: Bây là một đên thờ có lầu. Trên gác có bàn thờ Quan Công. Hai bên thờ các Thân Hoàng. Làng Gia Hội quằn !ý (đường Gia Hội).

    19. Miều Thánh Mầu: xây dựng dưới triều Gia Long niên hiệu i4 (1815) do giáp hay phường Trung Bộ (đường Gia Hội).

    20. Miễu Cô Của: Am nhỏ, do giáp An Hợi lập (đường Gia Hội).

    21. Miễu Thiên Tiên: xây dựng dưới triều Gia Long do ỉàng Trung Bộ quản lý ( đường Gia Hội ).

    22. Miều Quan Cồng: nay đã bị phá đi, chỉ tồn tại vài di tích nay đã thay miễu khác trong phường 6 (đường Gia Hội).

    23. Miều Ngũ Hành: do giáp Xuân Lộc xây dựng vào niên hiệu 18 Minh Mạng (1837) (đường Diệu Đế).

    24. Miễu Ngô Hành: do giáp hay phường Đông Mậu (đương Minh Mạng).

    25. Miều Ngũ Hành: do giáp Đông Trì (đường Tự Đức).

    26. Miều Nhi Vị: do giáp Đông Trì (đường Tự Đức) quản lý.

    27. Miều của giáp Bông Tri: thờ Ngũ Hành, Tam vị và Thánh Mau (đường Tự Đức).

    28. Chiêu ứng Từ: cua bang Hải Nam xây dựng dưới thời Thành Thái để thờ 108 người Hải Nam bị xử trảm dưới triều Tự Đức, với tội cướp nhưtig thực tế là những thương gia vô tội (đường Gia Hội).

    29. Miễu Ngũ Hành: do Võ Công chăm sóc (đường Gia Hội).

    30. Chùa Quan Công: (đường Gia Hội).

    31. Chùa Quan Công: của bang Quảng Đông (đường Gia Hội).

    32. Miĩu Õng Trụng: do giáp Đòng Trì Hạ chăm sóc (đương Gia Hòi).

    33. Miều Ngũ Hành: do giáp Dông Trì Hạ (đường Gia Hội).

    34. Mieu Thành Htìàng: do giáp Thanh Bình quan lý (đương Gia Hội).

    35. Cfiùa Trung Hm: bang Hãi Nạm, thờ Bầ Mầ Châu (điitng Gia Hồi).

    36. Miêu Ám Hồn: cúng thờ những vong linh xiêu bạt cua hang Triều Châu (đường Gia Hội).

    37: Miều Thành Hoàng: do làng Dinh Thượng quản lý (đưhng Gia Hội).

    3H. Chùa của hang Phúc Kiến thờ Tam vị, Ngữ vị xây dựng vào niên hiệu 7 Tự Đức (1854) (đường Gia Hội).

    i

    39. Miếu Ngũ Hành: L'ủa làng.éinh Thị Hạ (đường Gia Hội).

    4Ũ. Miều Thành Hoàng: cua làng Xuân An (đường Gia hội),

    4L Chừa Xüân An: của Phật giáo xây dựng vào niên hiệu 16 Minh Mạng (1835) cổ một cái chuông đẹp mang nhăn hiệu niên hiệu 3 Gia Lone (1804), có hai bia ghi ngày trùng tu niên hỉệu 14 Tự Đức và niên hiệu 3 Duy Tân (đường Gia Hội).

    42. Miều Ngữ Hành: của làng Xuân An (đường Gia Hội).

    43. Miều Thái Giầm Bạch Mã: đã đổ nát cua làng Xuân An (đường Gia Hội).

    44. Bình Xuân Dương: đường Gia Hội.

    45. Mìễu Thành Hoàng: làng Dinh Thị (đường Gia Hội),

    46. Miều Ngũ Hành: làng Dinh Thị (đường Gỉa Hội),

    47. Mầu Bà Chứa Ngọc: cùa làng Dinh Thị (đường Gia Hội).

    48. Miều Thánh Mâu: xây đựng thời Minh!Mạng do tư nhân quản lý (gần đường Gia Hội).

    50. Miễu Thánh MĨtu và Ngữ Hành của xớm Trường trạch do mộl tư nhân tu sửa (đường kiệt Trường Trạch),

    57. Miễu Ngũ Hành: (đường Minh Mạng).

    52. Miều Ngũ Hành: (đường Minh Mạng).

    55. Chừa (?) thờ Thành Hoàng của làng Xuân Dương, xây dựng dưđi thời Gia Long, sữa chữa niên hiệu 3 Duy Tân (1909) (đường Minh Mạng).

    54. Miều Ngữ Hành: (đường Minh Mạng).

    55. Miều th(ỉ Tam vị: (đường bôn đò ngang Nam Phổ kéo dài).

    56. Miếu thờ ông Một: (mốc cây số làng Xuân Dương (đường bến đò Nam Phổ kéo dài).

    57. Miều Ngữ Hành làng An Quàn: (đương bến đò Nam Phổ).

    58. Miều thừ Thánh Mỗu: của làng An Quán (dường đò Nam Phổ).

    59. Chừa Quan Công cầí An Quán: có tượng Ngài và vài tương khác.

    60. Đình làng An Quán: xây dựng dưới thời Minh Mạng (đường Gia Hội nối dài).

    61. Miều Ngữ Hành (dưỡng Gia Hội nổì dài).

    62. Miều đôi: thờ Ngũ Hành và hai Cậu (gan đường Minh Mạng).

    65. Ba Mứu: mỉễu dâu thờ Thánh Mẫu, miễu thứ hai thờ vị khai -anh làng An Quán, miều thứ ba thờ Thành Hoàng (đường Gia Hội nôi dài).[/MEDIA]
  • Chia sẻ trang này